Như Báo Thanh Niên đã thông tin, cập nhật từ Sở GD-ĐT TP.HCM cho thấy tổng chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 của 181 trường THPT công lập năm nay xấp xỉ 120.000 học sinh (HS); có tổng 151.254 HS đăng ký nguyện vọng (NV) 1, tỷ lệ phân luồng HS sau THCS vào học lớp 10 công lập của TP.HCM năm nay là 79,4%. Do đó, khoảng 31.000 HS không trúng tuyển vào lớp 10 công lập.
Càng gần đến ngày HS TP.HCM thi lớp 10 (31.5), chị Trương Thị Ly, phụ huynh trú P.Bình Thạnh, TP.HCM, càng thấy thấp thỏm không yên. Vợ chồng chị cùng bàn bạc để quyết định thứ tự đặt NV của con từ 1 tới 3: THPT Gia Định (P.Thạnh Mỹ Tây); THPT Trưng Vương (P.Sài Gòn); THPT Trần Văn Giàu (P.Bình Lợi Trung). Các NV được tính toán kỹ, dựa trên điểm chuẩn các năm, lực học của con, khoảng cách di chuyển từ nhà tới trường… “NV 3 là phương án an toàn, để bằng mọi giá cũng có thể được học lớp 10 công lập”, chị Ly nói.
Con gái chị cũng có học lực khá tốt ở bậc THCS, song chị lo vì biết năm nay số thí sinh dự thi lớp 10 ở TP.HCM tăng cao hơn năm trước, sau sáp nhập, HS di chuyển về khu vực 1 TP.HCM cũng đông hơn, HS phải cạnh tranh cao hơn. Ngoài ra, từ năm ngoái tới nay đề thi theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 có nhiều đổi mới.
Theo lý thuyết, sẽ có nhiều con đường khác nếu HS không vào lớp 10 công lập, nhưng chị Ly lý giải: “Tôi nằm trong số những phụ huynh đặt mục tiêu con mình phải vào lớp 10 công lập, dù ở NV nào. Lý do lớn nhất là tài chính chỉ phù hợp ở trường công, mình có thể chăm lo lâu dài cho con. Chi phí trường tư thục mỗi tháng vượt quá khả năng chi trả của gia đình. Nếu như sau tuổi 18, khi con tốt nghiệp THPT, dù không đậu một trường đại học, con có thể học nghề, vừa học vừa làm. Nhưng ở tuổi 15, các con còn rất nhỏ, chưa thể chủ động được cuộc sống, nếu gia đình không đồng hành để cùng con lựa chọn NV, nhắc nhở con học tập, tìm một môi trường giáo dục phù hợp với bản thân, có thể các con sẽ phải thất học, lỡ dở tương lai, trở thành gánh nặng của gia đình, xã hội…”.
Bạn bè của chị Ly cũng trong tâm trạng thấp thỏm, thậm chí âu lo hơn khi khu vực họ ở có quy mô dân số lớn, số trường học THPT công lập ít, như khu vực Q.12 cũ, Q.Tân Phú nên các HS phải cạnh tranh khốc liệt để có một tấm vé vào lớp 10 công lập. Như tại Trường THPT Trường Chinh, chỉ tiêu năm nay là 900 em nhưng có đến 1.653 HS đăng ký NV 1 (tỷ lệ chọi 1,84); Trường THPT Tây Thạnh chỉ tiêu lấy 1.035 HS lớp 10, nhưng có đến 2.146 HS đăng ký NV 1 (tỷ lệ chọi 2,07); Trường THPT Lê Trọng Tấn có 1.655 HS đăng ký NV 1, nhưng chỉ lấy 675 em (tỷ lệ chọi là 2,45)… Nhiều phụ huynh sẵn sàng đặt NV 3 là các trường THPT công lập cách xa nơi ở hiện tại hơn 10 km. Khi đăng ký NV, hệ thống tuyển sinh cũng cảnh báo về khoảng cách này, phụ huynh phải bấm xác nhận đồng ý. Song vì mục tiêu “phải đậu trường công”, đó là lựa chọn an toàn nhất.
Anh V.Đ, có con gái đang học lớp 9 tại Trường THCS Lý Thánh Tông, P.Chánh Hưng, TP.HCM, kể giai đoạn này cả nhà anh “cùng sắp thi lớp 10”. Mỗi người mỗi việc, ai cũng thấp thỏm, mong kỳ thi mong chóng xong xuôi.
“Suốt kỳ nghỉ lễ 30.4 và cả các cuối tuần vừa qua, nhà tôi không đi đâu chơi, con tập trung học và học để đạt mục tiêu đậu NV 1. Mẹ thì lo nấu ăn lo bồi bổ sức khỏe cho con, ba thì dò thông tin trên mạng, báo chí để cập nhật chỉ tiêu tuyển sinh các trường rồi vẽ sơ đồ, tính toán các khả năng, phương án, cân đối điểm chuẩn từng trường qua mỗi năm, đối chiếu với năng lực học của con để chốt NV. Tính toán làm sao để kỳ thi lớp 10 với con nhẹ nhàng, không quá căng thẳng nhưng cũng không được dễ quá để buông xuôi”, anh V.Đ kể.
Trường THPT Nguyễn Khuyến, P.Hòa Hưng, nơi con gái anh đặt NV 1 năm nay lấy 855 chỉ tiêu lớp 10, đang có 1.013 HS đăng ký NV 1. Sau khi Sở GD-ĐT TP.HCM công bố chỉ tiêu, tỷ lệ chọi, anh V.Đ ngồi tính toán, ủng hộ con giữ nguyên phương án. “Tâm trạng vợ chồng con cái đều nói chung là rất lo. Vừa mong con vào lớp 10 công lập để phù hợp với khả năng của gia đình, mong con đậu được NV 1 như mong muốn của con”, người cha bộc bạch.
Ông Phạm Văn Cường, Phó hiệu trưởng Trường THPT Tây Thạnh, P.Tây Thạnh, TP.HCM, cho rằng để giảm áp lực tuyển sinh lớp 10 bền vững, trước tiên cần đổi thay quan niệm “chỉ trường tốp đầu mới là thành công”.
Thực tế, mỗi trường THPT đều có những giá trị riêng, môi trường riêng và điều quan trọng nhất là sự phù hợp với năng lực, tính cách, định hướng phát triển của từng HS. Ngôi trường phù hợp sẽ giúp HS phát huy tốt năng lực, hình thành sự tự tin và trưởng thành đúng với khả năng của HS. Khi suy nghĩ được như vậy, cộng với sự đồng hành với HS bằng tình yêu thương, sự thấu hiểu thay vì áp lực hay những sự so sánh, cha mẹ sẽ đồng hành cùng con với sự bình tĩnh, tích cực.
“Điều thứ hai, để giảm áp lực tuyển sinh lớp 10, nhà trường và ngành giáo dục cần tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đồng đều giữa các trường THPT, đồng thời đẩy mạnh tư vấn hướng nghiệp, phân luồng và định hướng nghề nghiệp từ sớm để HS hiểu rõ năng lực, sở trường, đam mê của bản thân. Khi các em hiểu mình phù hợp với điều gì, các em sẽ có lựa chọn đúng đắn hơn thay vì chạy theo tâm lý đám đông, áp lực thành tích”, ông Cường nêu quan điểm.
Ông Đỗ Đình Đảo, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, P.Xóm Chiếu, TP.HCM, cho hay những ngày này, nhiều phụ huynh đang “ngồi trên đống lửa”, lo sức khỏe của con, lo chọn trường, lo đăng ký NV, lo tỷ lệ chọi, lo đề thi, sợ lựa chọn sai sẽ ảnh hưởng đến cả chặng đường tương lai…
“Việc lựa chọn NV không phải là một “canh bạc may rủi”, mà cần dựa trên năng lực thực tế của HS, kết hợp với sự cân nhắc hợp lý giữa mong muốn và khả năng. NV 1 nên là mục tiêu phấn đấu. NV 2 có tính an toàn và NV 3 là điểm tựa để đảm bảo cơ hội vào học lớp 10 công lập. Song, phụ huynh đừng để áp lực của mình thành gánh nặng cho con em. Điều các HS lớp 9 cần bây giờ không phải là sự thúc ép, mà là sự đồng hành, động viên, giúp các em có tâm lý ổn định, phát huy năng lực bản thân. Cha mẹ cần bình tĩnh, sáng suốt, lan tỏa sự tích cực đến con em mình”, ông Đảo khuyên.
Đồng thời, ông Đảo cũng cho rằng, mỗi HS đều có một lộ trình phù hợp riêng. Dù vào trường nào, nếu các em có ý chí, chăm chỉ, được định hướng đúng, các em vẫn có thể phát triển tốt.
“Như 99% phụ huynh xung quanh mình, tôi cho con đi học thêm ở trung tâm để ôn toán và ngữ văn, riêng môn tiếng Anh thì con tự ôn tập tại nhà. Song, quan sát đề thi lớp 10 qua các năm, ở phần toán thực tế, các câu hỏi phân loại thí sinh trong bài hình học luôn là phần thách thức nhất, nếu chỉ học trong sách giáo khoa, không đi học thêm thì đạt điểm 7 cũng là một thách thức”, chị Trương Thị Ly, người đang đồng hành cùng con trên hành trình “phải vào lớp 10 công lập” ở TP.HCM, cho hay.
Vì vậy, chị Ly cho rằng bên cạnh xây dựng thêm nhiều trường THPT ở thành phố, tăng suất học lớp 10 trường công, chị mong muốn các HS có thể được học 100% kiến thức, từ cơ bản đến nâng cao, mở rộng, ôn thi lớp 10 với ngay giáo viên của con trên lớp. Thực tế, các HS lớp 9 như con chị đều “sấp ngửa” đi học thêm, có những ngày tới 21 giờ 30 mới về.
Hết ngày 17/4, thí sinh Hà Nội kết thúc thời gian đăng ký thi lớp 10.
Theo ghi nhận của VnExpress lúc 23h45 ngày 17/4, bốn trường chuyên tuyển 2.730 học sinh, nhận tổng hơn 20.000 lượt đăng ký (mỗi thí sinh được đăng ký tối đa hai trường/hai nguyện vọng nếu không trùng lịch thi).
Hầu hết lớp chuyên Ngoại ngữ có lượng nguyện vọng 1 áp đảo, kéo theo tỷ lệ chọi tăng cao.
Lớp chuyên tiếng Trung, trường THPT chuyên Chu Văn An, có tỷ lệ chọi cao nhất 1/27. Lớp này chỉ tuyển 35 học sinh, song có tới hơn 960 em đăng ký. Xếp sau là lớp chuyên tiếng Nga, trường THPT chuyên Nguyễn Huệ, với mức độ cạnh tranh 1/24.
Nhiều lớp chuyên có tỷ lệ chọi 1/19, gồm tiếng Nga (chuyên Hà Nội - Amsterdam), tiếng Anh, tiếng Pháp (chuyên Nguyễn Huệ), tiếng Anh (chuyên Chu Văn An). Mặt khác, hai lớp tiếng Pháp ở trường Ams và Chu Văn An lần lượt có tỷ lệ chọi thấp nhất, đều chưa được 1/2.
Nhảy vọt về tỷ lệ chọi là lớp chuyên tiếng Hàn, với 111 em đăng ký so với 30 em của năm ngoái, dù chỉ tiêu đều là 35.
Ở các lớp chuyên còn lại, mức độ cạnh tranh phổ biến từ 1/4-1/6. Một số lớp cũng có tỷ lệ chọi vượt 1/10, là Ngữ văn, Toán, Tin, Hóa học (chuyên Chu Văn An).
Dưới đây là thống kê số nguyện vọng, tỷ lệ chọi của 4 trường THPT chuyên theo từng lớp (con số mang tính tham khảo, tính toán theo dữ liệu trên hệ thống của Sở Giáo dục và Đào tạo từ 23h45 đến 23h50 ngày 17/4):
Năm nay, 147.000 học sinh Hà Nội tốt nghiệp THCS, tăng 20.000 so với năm ngoái. Chỉ tiêu lớp 10 công lập là hơn 78.300, tương đương 55%.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Điểm xét tuyển lớp 10 chuyên là tổng điểm ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ, cộng với môn chuyên nhân hệ số hai, tối đa 50.
Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thí sinh, phụ huynh có thể tra cứu kết quả qua ứng dụng ThanhHoa của Trung tâm IOC Thanh Hóa, hệ thống tuyển sinh trực tuyến Thanh Hóa tại địa chỉ: https://tsdc-tracuu.tsdc.edu.vn/thanh-hoa/thong-bao.
Xem trên cổng thông tin điện tử của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa tại địa chỉ: https://thanhhoa.edu.vn/Tra cứu thông tin tuyển sinh lớp 10 THPT, hoặc xem trực tiếp tại các trường tổ chức tuyển sinh.
Theo Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, khi tra cứu điểm thi trên các hệ thống trực tuyến, thí sinh cần chuẩn bị số báo danh, số căn cước công dân.
Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa lưu ý học sinh, phụ huynh chỉ tra cứu trên các kênh chính thức được công bố, không cung cấp số định danh cá nhân, tài khoản, mật khẩu hoặc thông tin cá nhân trên các website giả mạo, ứng dụng không rõ nguồn gốc.
Về việc phúc khảo bài thi, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa cho biết, từ ngày 1 đến ngày 5-7, thí sinh nộp đơn phúc khảo tại trường dự thi.
Nhà trường tiếp nhận đơn và cập nhật danh sách thí sinh đăng ký phúc khảo vào Hệ thống quản lý tuyển sinh.
Thời hạn cuối nhận đơn phúc khảo là 17h ngày 5-7. Sau thời điểm này, hệ thống sẽ khóa chức năng đăng ký phúc khảo.
Ngày 6-7, các nhà trường nộp đơn phúc khảo, danh sách thí sinh đề nghị phúc khảo theo từng môn về Phòng Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa.
Công tác phúc khảo bài thi hoàn thành chậm nhất ngày 20-7.
Điểm chuẩn vào lớp 10 các trường THPT năm học 2026 - 2027 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa như sau:
Hàng loạt giáo viên (GV) THPT của tỉnh Phú Thọ (cũ) gửi phản ánh tới Báo Thanh Niên về việc 10 năm qua tỉnh này chưa một lần tổ chức thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp (CDNN) cho GV THPT. Đến thời điểm hết tháng 3.2026, tại tỉnh Phú Thọ (cũ), GV tiểu học và THCS đã được rà soát, bổ nhiệm, chuyển xếp và thăng hạng theo quy định; trong khi đó gần như toàn bộ GV THPT chưa được tổ chức xét thăng hạng, mặc dù nhiều GV đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Theo Văn bản số 1934/SGD-ĐT-TCCB ngày 23.12.2024 của Sở GD-ĐT Phú Thọ gửi Sở Nội vụ (đơn vị tỉnh cũ), toàn tỉnh có 2.242 cán bộ quản lý và GV THPT, trong đó chỉ có 8 người (chiếm khoảng 0,4%) giữ CDNN hạng II, còn lại 1.242 GV (chiếm khoảng 63%) vẫn đang giữ hạng III nhưng đủ tiêu chuẩn, điều kiện để xét thăng hạng. Điều này cho thấy nhu cầu và điều kiện thăng hạng đã rất rõ ràng từ thực tiễn.
Cô giáo Trần Thị Vĩnh, GV Trường THPT chuyên Hùng Vương, cho biết: Ngày 23.12.2024, Sở GD-ĐT Phú Thọ đã có văn bản đề nghị Sở Nội vụ xem xét, tổ chức xét thăng hạng cho GV THPT theo quy định hiện hành.
Gần đây nhất, ngày 26.2, Sở GD-ĐT Phú Thọ ban hành Văn bản 553 giải thích về việc chưa triển khai xét thăng hạng cho GV THPT: "Theo quy định tại luật Nhà giáo có hiệu lực từ ngày 1.1.2026, CDNN viên chức GV không còn quy định theo hạng (hạng I, hạng II, hạng III), thay vào đó luật quy định CDNN GV mầm non, phổ thông, bao gồm: GV, GV chính, GV cao cấp. Hiện tại, Bộ GD-ĐT chưa ban hành các thông tư quy định CDNN GV mầm non, phổ thông". Kết luận: "Chưa có cơ sở để triển khai".
"Câu hỏi đặt ra là tại sao khi luật Nhà giáo chưa có hiệu lực lại không tiến hành chuyển xếp hạng cho GV? Thời gian đó, cơ quan chức năng được phân công quản lý nhà giáo bậc THPT làm gì?", cô Vĩnh nêu vấn đề.
Chưa hết, theo cô Vĩnh, ngày 7.3, GV nhận được từ lãnh đạo trường Công văn 677 của Sở GD-ĐT Phú Thọ do ông Phùng Quốc Lập, Phó giám đốc Sở, ký. Về cơ sở pháp lý và thẩm quyền thực hiện, văn bản nêu: "Đến thời điểm hiện tại, tỉnh Phú Thọ chưa ban hành quy định phân cấp quản lý cán bộ, công chức viên chức theo quy định hiện hành, do đó Sở GD-ĐT chưa được phân cấp tham mưu xét thăng hạng CDNN GV. Vì vậy, việc xem xét giải quyết các nội dung liên quan đến thăng hạng CDNN GV hiện nay chưa có đầy đủ có sở pháp lý và thẩm quyền để triển khai thực hiện".
"Thực tế nói trên khiến GV bậc THPT ở tỉnh Phú Thọ cũ cảm thấy bị các cấp quản lý bỏ quên, bị đối xử thiếu công bằng so với các cấp học khác trong cùng địa bàn, hoặc so với các đồng nghiệp cùng cấp học ở địa phương khác", cô Vĩnh nói, đồng thời cho rằng: "Việc trì hoãn này khiến cuộc sống của nhà giáo trở nên rất chật vật, danh dự và vị thế nghề nghiệp trong cái nhìn của xã hội cũng bị sa sút khá nhiều. Sau bao năm cống hiến và liên tục học tập để nâng cao trình độ, cuối cùng chỉ là GV hạng III - hạng thấp nhất trong bảng xếp loại GV công lập".
Không riêng Phú Thọ (cũ), nhiều GV ở các địa phương như Bắc Ninh, Nghệ An, Đồng Nai… cũng mòn mỏi chờ thăng hạng CDNN dù đầy đủ các điều kiện nhưng vẫn "mắc kẹt" vì địa phương không có văn bản hướng dẫn.
Một GV của tỉnh Bắc Ninh có hơn 20 năm công tác chia sẻ: "Mong được thăng hạng từ khi Thông tư 01, 02, 03/2021 ra đời, chờ đợi mỏi mòn mãi đến khi Thông tư 08/2023 chỉnh sửa bổ sung vẫn chưa thấy được thăng hạng. Lại đến khi Thông tư 13/2024 quy định mã số, tiêu chuẩn, điều kiện xét/thi thăng hạng, các văn bản yêu cầu xét thăng hạng cho GV… Đến nay 2026 vẫn chưa thấy thăng hạng đâu! Tôi nản rồi, hơn 10 năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cũng có để làm gì đâu...".
Thực tế, sự khác biệt quá lớn giữa các địa phương khiến nhiều GV chịu thiệt. Có nơi đã xét nhiều lần, có nơi chỉ xét một lần, có nơi chưa xét lần nào. Nhiều thầy cô sắp nghỉ hưu vẫn chưa được thăng hạng khiến họ vô cùng tâm tư.
Bằng "tâm thư" gửi Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn, kiến nghị gửi tới Báo Thanh Niên, GV THPT trên địa bàn Phú Thọ (cũ) mong muốn Bộ GD-ĐT chỉ đạo địa phương khẩn trương tổ chức xét thăng hạng CDNN GV THPT theo quy định hiện hành; có hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình triển khai tại địa phương; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm bảo đảm việc thực hiện chính sách được công bằng, thống nhất và kịp thời.
Trả lời về lý do chậm xét thăng hạng cho GV THPT thời gian qua, ông Phùng Quốc Lập, Phó giám đốc Sở GD-ĐT Phú Thọ, cho rằng trước hết là vướng mắc về xác định chỉ tiêu và cơ cấu CDNN. Việc thăng hạng phải gắn với cơ cấu hạng chức danh của từng đơn vị, đồng thời bảo đảm không làm mất cân đối đội ngũ và quỹ lương. Trong khi đó, nhu cầu thăng hạng của GV tương đối lớn, dẫn đến khó khăn trong việc xác định chỉ tiêu phù hợp, dễ phát sinh so sánh, kiến nghị.
Theo ông Lập, khó khăn nữa là việc áp dụng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Bộ GD-ĐT và Bộ Nội vụ. Mặt khác, bậc lương, hệ số lương của GV tiểu học, THCS, THPT trong cùng hạng CDNN là như nhau, nhưng điều kiện tiêu chuẩn yêu cầu đối với GV THPT lại cao hơn đối với GV tiểu học, THCS.
Khối lượng rà soát, thẩm định hồ sơ lớn, trong khi yêu cầu phải bảo đảm chặt chẽ, chính xác, đúng đối tượng. Nếu thực hiện không kỹ dễ dẫn đến sai sót, khiếu nại sau này; nhưng nếu làm quá thận trọng lại ảnh hưởng đến tiến độ triển khai.
Việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quá trình thẩm định, phê duyệt (như nội vụ, tài chính...) cần có thời gian để thống nhất, đặc biệt đối với các nội dung liên quan đến chỉ tiêu, kinh phí, xếp lương sau thăng hạng.
Ngày 18.4, Sở GD-ĐT Phú Thọ thông tin Sở đã có tờ trình gửi UBND tỉnh về việc đề nghị phê duyệt chỉ tiêu và ủy quyền tổ chức xét thăng hạng CDNN viên chức các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT năm 2026. Theo đó, Sở GD-ĐT đề xuất UBND tỉnh xem xét, phê duyệt chỉ tiêu xét thăng hạng CDNN đối với viên chức tại các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT, đồng thời ủy quyền cho Sở GD-ĐT tổ chức việc xét thăng hạng CDNN đối với viên chức GV các đơn vị trực thuộc năm 2026, nhằm đảm bảo tính chủ động và tiến độ trong công tác xét thăng hạng.
"Ngay sau khi được UBND tỉnh phê duyệt, Sở GD-ĐT sẽ khẩn trương triển khai các bước tiếp theo, bảo đảm quy trình xét thăng hạng được thực hiện công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật", Sở này thông tin.
Nhiều GV THPT của tỉnh Phú Thọ cho biết họ đón nhận thông tin này với tâm trạng vừa mừng vừa lo. Mừng vì Sở cho biết đã trình UBND tỉnh và đã xây dựng dự thảo đề án, nhưng các GV cũng lo chưa biết dự thảo đề án đó ra sao; lo vì đã từng có nhiều lần đề xuất, chỉ đạo của các cấp từ bộ đến tỉnh nhưng việc thực thi ở cơ sở vẫn chậm trễ.
Sau khi nhập tỉnh Phú Thọ mới (từ các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình), số liệu thống kê cho thấy có sự chênh lệch rất lớn. Nếu như tỉnh Vĩnh Phúc (cũ) có tới 1.261 GV THPT hạng II, Hòa Bình có 183 thì Phú Thọ có 10 GV. Điều này dẫn tới tình trạng sau sáp nhập tỉnh, có những trường THPT có 70 - 80% GV hạng II, nhưng cũng có trường hiện chưa có hoặc rất ít. Trong khi đó, vị trí việc làm, quy mô, nhiệm vụ lại tương đương nhau. Nếu áp chỉ tiêu chung cho tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập sẽ không phù hợp.
Cô Trần Thị Vĩnh thay mặt các GV THPT đang chờ thăng hạng nêu quan điểm: "Quan trọng hơn hết, vì việc tổ chức thăng hạng cho GV THPT ở tỉnh Phú Thọ cũ đã bị trì hoãn tới 10 năm, nên chúng tôi mong muốn là nhà giáo đủ tiêu chuẩn thì được thăng hạng. Nếu 10 năm qua, tỉnh Phú Thọ cũ đã tổ chức thăng hạng cho GV THPT một đôi lần, thì lần này áp chỉ tiêu còn có thể hiểu được. Việc áp chỉ tiêu với nhà giáo sau khi đã làm việc, cống hiến rồi chờ đợi hơn ba ngàn ngày, và có thể bị "trượt" vì chỉ tiêu là không hợp lý hợp tình".