Ngày 6/5, Bộ Tài chính tổ chức Hội nghị công bố điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương cho biết, quy hoạch lần này đã điều chỉnh, mở rộng hợp lý 4 vùng động lực quốc gia bao gồm vùng động lực phía Bắc, vùng động lực phía Nam, vùng động lực miền Trung, vùng động lực đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời bổ sung vùng động lực Bắc Trung Bộ để phát huy tốt hơn tiềm năng, lợi thế của các khu vực gắn với khai thác hiệu quả không gian phát triển mới.
Định hướng phát triển các vùng động lực quốc gia, nhất là 2 vùng động lực phía Bắc và phía Nam trở thành vùng đi đầu về phát triển các ngành dịch vụ hiện đại, chất lượng cao; các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn; phát triển nhanh công nghiệp công nghệ số và các ngành công nghiệp mới nổi; đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số…
Ưu tiên hình thành, phát triển tại các vùng động lực: khu thương mại tự do, khu công nghệ cao và mô hình khu chức năng khác, phù hợp với xu thế chung của thế giới, được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù, tạo môi trường hấp dẫn vượt trội để tăng cường thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao.
Tiếp tục hình thành và phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc – Nam, các hành lang kinh tế Đông – Tây, các vành đai kinh tế ven biển; trong đó ưu tiên hành lang kinh tế Bắc – Nam, hành lang kinh tế Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, hành lang kinh tế Mộc Bài – Tp.HCM – Biên Hòa – Vũng Tàu.
Phát triển các vành đai công nghiệp – đô thị – dịch vụ tại các vùng động lực, vùng đô thị lớn, nhất là gắn với vành đai 4, vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội và vành đai 3, vành đai 4 Tp.HCM. Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng quốc gia, tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng văn hóa, xã hội, hạ tầng thủy lợi và phòng, chống thiên tai.
Một điểm mới nữa của điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia là đã thể chế hóa hệ thống phân vùng kinh tế – xã hội mới phù hợp với các đơn vị hành chính sau sắp xếp, tạo điều kiện khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của các vùng và từng địa phương trong vùng, đồng thời thúc đẩy liên kết vùng.
Trên cơ sở đó, định hướng phát triển của 6 vùng cũng được xác định rõ trong các quy hoạch vùng điều chỉnh, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của mỗi vùng, góp phần hình thành một không gian phát triển thống nhất, hiệu quả trên phạm vi cả nước.
Quy hoạch xác định rõ không gian phát triển đất nước với 6 vùng kinh tế – xã hội gồm:
Vùng trung du miền núi phía Bắc gồm 9 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc, tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 9 – 10%/năm, phát triển vùng theo hướng xanh, bền vững và toàn diện.
Vùng đồng bằng Sông Hồng gồm 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình. Vùng Đồng bằng sông Hồng có mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 11%/năm, là động lực phát triển hàng đầu, dẫn dắt quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.
Vùng Bắc Trung bộ gồm 5 tỉnh, thành phố: Huế, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị. Vùng Bắc Trung Bộ, tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10 – 10,5%/năm, ưu tiên phát triển các khu kinh tế ven biển tạo đột phá tăng trưởng.
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên gồm 6 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 9,5 – 10%/năm, tăng cường liên kết, phát huy hiệu quả chuỗi không gian biển – cao nguyên – biên giới.
Vùng Đông Nam Bộ gồm 3 tỉnh, thành phố: Tp.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh. Vùng Đông Nam Bộ tăng trưởng GRDP bình quân đạt khoảng 10 – 11%/năm, xây dựng trở thành vùng phát triển năng động, động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước; trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long gồm 5 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cà Mau. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tăng trưởng GRDP bình quân đạt 9 – 9,5%/năm, phát triển thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, bền vững, năng động.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, công bố điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch sáu vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050.
Theo Phó Thủ tướng, trong bối cảnh Đại hội XIV của Đảng thành công, đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Tình hình thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng, trong khi trong nước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh ngày càng cấp thiết, đòi hỏi quy hoạch phải đi trước, làm nền tảng dẫn dắt phát triển.
Dẫn lại định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rằng quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hóa, theo Phó Thủ tướng, quy hoạch tổng thể phải mang tính tích hợp đa mục tiêu dài hạn, tạo cấu trúc phát triển hợp lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực, phân bổ không gian cân đối, tăng cường liên kết vùng và mở rộng dư địa tăng trưởng cho nền kinh tế trong tương lai.
Việc điều chỉnh quy hoạch lần này nhằm cập nhật kịp thời các định hướng lớn từ Văn kiện Đại hội XIV và các nghị quyết của Trung ương. Quy hoạch xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá, phương hướng phát triển ngành, lĩnh vực và tổ chức không gian ở cả cấp quốc gia và vùng. Đây là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa chiến lược phát triển, nâng cao hiệu quả quản lý và điều hành phát triển kinh tế – xã hội.
Trong bối cảnh thị trường bất động sản đang bước vào giai đoạn "thanh lọc" và tái cơ cấu mạnh mẽ, những "vùng xanh" tăng trưởng bền vững cho nhà đầu tư luôn là lựa chọn ưu tiên hàng đầu.
Thực tế, trong nửa đầu năm 2026, lãi suất vay có thời điểm lên tới 12 – 14%, thậm chí 14–16%/năm, tạo áp lực lớn lên những người sử dụng đòn bẩy tài chính. Tại talkshow "Bất động sản 2026: Giải mã Vùng xanh cơ hội tổ chức ngày 5/6 các chuyên gia tài chính, nhà đầu tư trong lĩnh vực bất động sản đã chia sẻ, đánh giá về các tín hiệu cho thấy sự trở lại của thị trường nhà đất.
Ông Huỳnh Trung Minh (Chuyên gia tài chính) phân tích rằng, trong nửa đầu năm 2026, lãi suất cho vay từng duy trì ở mức khá cao, phổ biến khoảng 12–14%/năm, thậm chí có thời điểm một số ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng mức 14–16%/năm, đặc biệt sau khi kết thúc giai đoạn lãi suất cố định và chuyển sang thả nổi. Điều này đã tạo áp lực lớn lên cả chủ đầu tư lẫn người mua nhà.
Theo ông Minh, khi lãi suất có xu hướng giảm theo định hướng điều hành của cơ quan quản lý, chi phí vốn được cải thiện, qua đó giúp doanh nghiệp bất động sản dễ tiếp cận nguồn vốn hơn, đồng thời người mua nhà cũng có thêm cơ hội sở hữu tài sản. Đây là yếu tố có thể hỗ trợ thị trường phục hồi về thanh khoản.
"Về dài hạn, cả nhà đầu tư lẫn người mua ở thực cần đặc biệt lưu ý đến các yếu tố nền tảng như ưu tiên lựa chọn chủ đầu tư uy tín, dự án có pháp lý rõ ràng, tiến độ đảm bảo. Đồng thời, người mua cần tính toán kỹ năng lực tài chính để đảm bảo khả năng "chịu đựng" trong các chu kỳ biến động của thị trường" ông Huỳnh Trung Minh chia sẻ.
Thực tế cho thấy, thị trường bất động sản luôn vận động theo chu kỳ, bao gồm giai đoạn tăng trưởng và giai đoạn trầm lắng. Nếu không có sự chuẩn bị tài chính đủ tốt, nhà đầu tư rất dễ gặp rủi ro trong những giai đoạn thanh khoản suy giảm, giống như những gì đã diễn ra thời gian vừa qua khi lãi suất tăng cao và thị trường gặp nhiều khó khăn.
Do đó, lãi suất hạ nhiệt là cơ hội, nhưng không đồng nghĩa với việc thị trường sẽ lập tức phục hồi mạnh. Điều quan trọng vẫn là chiến lược đầu tư thận trọng, dài hạn và bền vững.
Với câu hỏi nên giữ tiền hay xuống tiền đầu tư trong bối cảnh hiện nay, việc giữ tiền chờ đợi hay xuống tiền mua dự án, ông Tạ Trung Kiên, Phó Tổng Giám đốc Việt Á Real nhận định hiện nay nhiều nhà đầu tư cũng đang rất nôn nóng, tìm kiếm cơ hội đầu tư vào thị trường.
"Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là họ không còn đầu tư theo phong trào như trước, mà trở nên thận trọng và có chọn lọc hơn. Thứ nhất, nhà đầu tư hiện nay chủ động tìm kiếm những sản phẩm có cơ sở vững chắc, thay vì chạy theo "sóng".
Thứ hai, họ đặc biệt quan tâm đến khả năng tạo dòng tiền của tài sản, tức là bài toán lợi nhuận thực tế hàng tháng, thay vì chỉ kỳ vọng tăng giá.
Thứ ba, sau giai đoạn giá bất động sản tăng mạnh cùng với chi phí đầu vào leo thang, nhiều nhà đầu tư đã chấp nhận mặt bằng giá mới, không còn quá kỳ vọng vào việc giá sẽ giảm sâu" ông Kiên nhận định.
Ở một góc nhìn khác, câu chuyện "giữ tiền hay đầu tư" thực chất không phụ thuộc hoàn toàn vào việc lãi suất cao hay thấp. Ông Nguyễn Lê Hải Đăng, Phó Giám đốc Chiến lược và Đối ngoại, Công ty BĐS Smartland (Chuyên gia về chiến lược đầu tư tại các thị trường cao cấp) cho rằng, điều quan trọng là phải hiểu đúng bản chất.
"Nhiều nhà đầu tư chọn chờ đợi lãi suất giảm để xuống tiền, nhưng điều này có thể trở thành một "cái bẫy". Bởi khi lãi suất giảm, thanh khoản thị trường thường cải thiện, nhu cầu mua tăng lên, kéo theo giá bất động sản đi lên. Khi đó, chi phí đầu tư ban đầu cũng tăng, chưa chắc mang lại lợi thế như kỳ vọng" ông Đăng thông tin.
Đánh giá về thị trường hiện nay đang biến động và cơ hội nào cho người mua nhà, ông Tạ Trung Kiên, Phó Tổng Giám đốc Việt Á Real cho rằng, "Trong giai đoạn lãi suất cao hoặc thị trường trầm lắng, yếu tố cạnh tranh giảm, nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn hơn và mức giá cũng ít bị "đẩy" lên quá cao. Đây cũng là giai đoạn sàng lọc mạnh mẽ, không chỉ với chủ đầu tư, dự án mà cả chính nhà đầu tư.
Quan trọng nhất, nhà đầu tư cần đảm bảo an toàn tài chính, kiểm soát tốt dòng tiền và hiểu rõ sản phẩm, thị trường mình tham gia. Khi đáp ứng được những yếu tố này, cơ hội đầu tư hiệu quả vẫn luôn tồn tại, ngay cả trong những thời điểm nhiều biến động.
Theo ông Kiên, nới những người mua nhà để ở, điểm hiện nay sẽ là cơ hội khi thị trường đang có nhiều lựa chọn hơn. Đây là một giai đoạn tương đối thuận lợi cho người mua ở thực. Hiện nay, nhu cầu ở thực trên thị trường chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 60–70%, trong khi nhóm nhà đầu tư chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ.
Trong bối cảnh đó, khi mặt bằng lãi suất đang có xu hướng giảm, các ngân hàng bắt đầu nới điều kiện tín dụng, cùng với việc nhiều chủ đầu tư áp dụng chính sách thanh toán giãn tiến độ, thị trường đang tạo ra những điều kiện dễ tiếp cận hơn cho người mua nhà.
Bên cạnh đó, nguồn cung cũng có xu hướng mở rộng ra các khu vực vùng ven, giúp người mua có thêm nhiều lựa chọn phù hợp với khả năng tài chính. Điều này đặc biệt quan trọng với nhóm khách hàng mua để ở, vốn ưu tiên tính ổn định và cân đối dòng tiền dài hạn.
"Với những người có nhu cầu ở thực, đây là cơ hội đáng cân nhắc. Vấn đề còn lại là người mua cần chủ động tìm hiểu kỹ thị trường, lựa chọn dự án phù hợp và đảm bảo khả năng tài chính để tận dụng được những cơ hội này" ông Tạ Trung Kiên cho hay.
Theo đó, Tổng công ty Điện lực TP. Hà Nội (EVNHANOI) không thực hiện ngừng, giảm cung cấp điện để sửa chữa, cải tạo lưới điện trong thời gian từ 0h00 ngày 29/04 đến hết 24h00 ngày 02/05/2026. Đặc biệt, tại các địa điểm diễn ra hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, vui chơi giải trí trên địa bàn Thủ đô, đơn vị đã xây dựng phương án cấp điện ưu tiên với độ tin cậy cao.
Theo dự báo, phụ tải điện toàn thành phố trong dịp này có thể đạt công suất cực đại khoảng 5.140 MW, với sản lượng tiêu thụ lên tới 95 triệu kWh/ngày. Trước áp lực gia tăng nhu cầu sử dụng điện, EVNHANOI đã yêu cầu toàn bộ các đơn vị trực thuộc chuẩn bị sẵn sàng về nguồn, lưới và nhân lực để đáp ứng yêu cầu vận hành trong mọi tình huống.
Cụ thể, Tổng công ty không thực hiện ngừng, giảm cung cấp điện để sửa chữa, cải tạo lưới điện trong các khung thời gian cao điểm của ngày lễ, đồng thời xây dựng phương thức cấp điện linh hoạt cho từng khu vực trọng điểm. Những địa điểm quan trọng đều được cấp điện từ hai nguồn lưới độc lập hoặc có máy phát điện dự phòng, đảm bảo không gián đoạn ngay cả khi xảy ra sự cố.
Đáng chú ý, tại khu vực trung tâm như hồ Hoàn Kiếm và phụ cận – Nơi tập trung nhiều hoạt động lễ hội, hệ thống điện được bố trí với nhiều phương án dự phòng. Các trạm biến áp như Tràng Thi, Đinh Lễ, Cầu Gỗ, Lương Văn Can… đều có phương án dự phòng kết hợp với máy phát dự phòng. Tại Quảng trường Cách mạng Tháng Tám, nguồn điện được cấp từ trạm biến áp Nhà hát Lớn với hệ thống chuyển nguồn tự động (ATS) cùng máy phát công suất 1000kVA, sẵn sàng duy trì cấp điện liên tục cho các sự kiện lớn .
Tương tự, các khu vực quy mô lớn như Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình được đảm bảo điện từ hai nguồn trung thế độc lập, đi kèm hệ thống máy phát dự phòng công suất lớn (2x1000kVA). Các điểm văn hóa trọng yếu như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Công viên Thủ Lệ, Công viên Thống Nhất… đều được cấp điện từ nhiều trạm biến áp với phương án chuyển đổi nguồn chủ động, hạn chế tối đa rủi ro gián đoạn cung cấp điện.
EVNHANOI đã bố trí lực lượng trực vận hành, sửa chữa điện 24/24h với gần 5.500 ca trực trong suốt ngày lễ. Các trạm biến áp, tuyến cáp và đường dây trọng yếu được tăng cường kiểm tra, tuần canh nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các nguy cơ gây sự cố. Đồng thời, đơn vị chuẩn bị đầy đủ vật tư, thiết bị dự phòng và máy phát điện sẵn sàng thay thế trong trường hợp cần thiết.
Công tác kiểm tra hành lang an toàn lưới điện cũng được tăng cường, đặc biệt tại các khu vực đông dân cư và nơi diễn ra sự kiện. EVNHANOI phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương nhằm đảm bảo không để xảy ra các vi phạm có thể ảnh hưởng đến vận hành hệ thống điện.
Bên cạnh đó, EVNHANOI khuyến cáo người dân nâng cao ý thức sử dụng điện an toàn trong dịp lễ: Không thả diều, bóng bay, đèn trời gần đường dây điện; không đốt pháo hoặc sử dụng các thiết bị bay gần công trình điện; kiểm tra hệ thống điện gia đình, sử dụng thiết bị có nguồn gốc rõ ràng, phù hợp công suất nhằm hạn chế nguy cơ chập cháy.
Khi phát hiện các hành vi vi phạm an toàn điện hoặc sự cố về điện, khách hàng cần kịp thời thông báo tới Trung tâm Chăm sóc khách hàng EVNHANOI qua tổng đài 19001288 (phục vụ 24/7) để được hỗ trợ nhanh chóng.
Báo cáo kinh tế tư nhân VN do Liên đoàn Thương mại và công nghiệp VN (VCCI) vừa công bố có nhiều thông tin đáng chú ý liên quan đến hộ kinh doanh (HKD).
Khảo sát được VCCI thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ tháng 2 - 4, thu thập phản hồi của hơn 1.000 HKD đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố. Kết quả cho thấy HKD có nhiều lo ngại trong quá trình tuân thủ chính sách thuế. Cụ thể, có đến hơn 71% HKD lo ngại thủ tục phức tạp. Kế đến là lo lắng về rủi ro bị xử phạt với tỷ lệ 68,3%. Trong đó, báo cáo chỉ rõ việc lo ngại về chi phí tuân thủ cao xuất hiện ở khoảng 63 - 64% hộ và tăng rõ ở nhóm doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở lên. Lo ngại thiếu kỹ năng công nghệ và thiếu hướng dẫn phổ biến hơn ở nhóm chủ hộ lớn tuổi, học vấn thấp, ở vùng khó khăn…
Trên thực tế, nhiều HKD đã phải gia tăng chi phí đáng kể khi thực hiện kê khai, nộp thuế theo doanh thu. Bà N.H - một HKD hàng may mặc, quần áo tại P.Tân Bình (TP.HCM) - chia sẻ trước đây mỗi tháng, bà nộp thuế khoán hơn 1 triệu đồng, tương đương khoảng 10 triệu đồng/năm. Cộng với thuế môn bài 1 triệu đồng/năm thì tổng cộng bà đóng thuế khoảng 14 triệu đồng/năm. Đầu năm 2026, khi chuyển sang kê khai doanh thu, vì chưa quen và không rành các biểu mẫu thủ tục nên bà phải thuê dịch vụ kế toán thực hiện thay với phí 3 triệu đồng/tháng. Như vậy, chi phí cho cả năm sẽ lên đến 36 triệu đồng, cao hơn gấp 2 lần so với mức thuế đã đóng.
Tương tự, dù doanh thu dưới 1 tỉ đồng không phải đóng thuế nhưng bà T.N - chủ một cơ sở tạp hóa tại nhà ở P.Hòa Hưng (TP.HCM) cũng phải thuê dịch vụ kê khai với phí 1 triệu đồng/tháng, tương ứng 12 triệu đồng/năm trong khi trước đây bà đóng thuế khoán chỉ hơn 500.000 đồng/tháng (hơn 6 triệu đồng/năm). "Hộ tôi được miễn thuế nhưng việc theo dõi khi nào phải kê khai, thông báo, cập nhật thay đổi với cơ quan thuế khá phức tạp nên tôi phải sử dụng dịch vụ bên ngoài. Tôi cũng phải chi thêm 2 triệu đồng để mua phần mềm xuất hóa đơn vì có khách hàng cần… Tính ra chi phí liên quan đến việc nộp thuế cũng đã nhích hơn trước khá nhiều", bà cho hay.
Theo luật sư Trần Xoa, Giám đốc Công ty luật Minh Đăng Quang, rất nhiều hộ bán lẻ, ăn uống, tạp hóa, dịch vụ nhỏ, bán online gần như không biết kế toán, kê khai thuế. Nhiều hộ lớn tuổi, kinh doanh truyền thống trước đây chỉ cần sổ tay, hoặc ghi chép đơn giản thì nay bắt buộc phải sử dụng phần mềm khi thực hiện hóa đơn điện tử, chữ ký số, kết nối dữ liệu, khai thuế online nên phát sinh chi phí thiết bị, chi phí phần mềm, phụ thuộc bên dịch vụ. Đặc biệt ở chợ truyền thống hoặc khu vực nhỏ lẻ, đây là áp lực rất lớn…. Thế nên, chi phí tuân thủ của đa số hộ sẽ tăng, không phải là tiền thuế mà gồm tiền mua máy tính, phần mềm, chữ ký số hay thuê nhân sự kế toán, thuê dịch vụ bên ngoài...
Đáng chú ý, với nhiều hộ, quá trình làm thủ tục kế toán, thuế trong giai đoạn đầu sẽ mất nhiều thời gian, công sức. Nếu quy đổi theo giờ công làm việc thì có thể phần chi phí này còn cao hơn trước đây nhiều.
Kết quả khảo sát của VCCI cũng nêu rõ có đến 68,3% hộ kinh doanh được khảo sát bày tỏ lo lắng về rủi ro bị xử phạt trong quá trình tuân thủ chính sách thuế. Trong đó, rủi ro liên quan đến hóa đơn điện tử rất cao do các hộ khó thu thập thông tin khách và dễ bị sai trong quá trình thực hiện, không biết sửa hóa đơn sai, xử lý kỹ thuật trong thao tác…
Luật sư Trần Xoa chỉ rõ HKD thường không lo bị cho là "trốn thuế", mà lo làm sai thủ tục. Ví dụ, xuất hóa đơn sai thời điểm, sai mã số thuế, thiếu chỉ tiêu, sai doanh thu ngày hay quên lập hóa đơn đều có thể bị xử phạt. Nhiều người sợ chỉ cần thao tác sai là sẽ bị phạt. Thậm chí, hiện nay yêu cầu phải thanh toán không tiền mặt gia tăng và cùng với áp dụng hóa đơn điện tử, dữ liệu ngân hàng kết nối, sàn thương mại điện tử phải chia sẻ dữ liệu, nhiều hộ cũng lo toàn bộ doanh thu sẽ bị nhìn thấy, sẽ bị truy thu, bị điều chỉnh mức thuế hoặc bị kiểm tra thường xuyên. Đặc biệt HKD thường không có bộ phận pháp chế nên rất lo lắng mỗi khi làm việc với cơ quan quản lý.
"Ngay cả hộ không cố ý trốn thuế cũng có tâm lý trước giờ làm đơn giản, nay phải giải trình mọi thứ nên lo lắng hơn. HKD thường không theo dõi pháp luật nên rất dễ bỏ sót quy định mới hoặc biết quá muộn. Hơn nữa, văn bản thuế thường dài, nhiều thuật ngữ, dẫn chiếu chồng chéo khiến các hộ không hiểu hay hiểu sai. Phổ biến là tâm lý sợ bị phạt dù vi phạm không cố ý trong khi quy định mức phạt liên quan đến hóa đơn, kê khai thuế chậm, sai sót kỹ thuật có thể khá lớn so với mức thu nhập của hộ nhỏ…", luật sư Trần Xoa phân tích thêm.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Ngọc Tịnh, Phó chủ tịch Hội Tư vấn và đại lý thuế TP.HCM, cũng cho rằng đối với HKD, rủi ro liên quan trong việc xuất hóa đơn khi có doanh thu trên 1 tỉ đồng là khá lớn. Đó là các hộ có thể bị xử phạt khi xuất hóa đơn không đúng thời điểm, sai thông tin trên hóa đơn như không hỏi người mua về mã số thuế... Song song đó, nhiều hộ không biết kê khai thuế theo tháng hay theo quý, không tổng hợp và xác định được chi phí được khấu trừ để kê khai thuế (đối với các hộ có doanh thu trên 3 tỉ đồng/năm).
Một rủi ro khác là với việc nhận thanh toán thông qua chuyển khoản thì nhiều hộ cũng khó phân định được đâu là chi phí phục vụ kinh doanh, đâu là tiền sử dụng riêng cho gia đình nên cũng dễ sai phạm trong việc tổng hợp, kê khai doanh thu và chi phí liên quan… Từ đó, để hạn chế rủi ro, các hộ phải sử dụng dịch vụ kế toán chuyên nghiệp hoặc tuyển người có chuyên môn để kê khai thuế, làm tăng thêm chi phí tuân thủ.
Ông Nguyễn Ngọc Tịnh nhấn mạnh chính sách thuế với HKD thay đổi nhưng nguồn lực thực tế của lực lượng này không thay đổi. Các hộ ngày xưa vẫn chỉ có một mình hay 2 vợ chồng thì nay cũng thế nên chi phí tuân thủ gia tăng cũng như rủi ro bị xử phạt sẽ nhiều hơn. Chính vì vậy, ngoài chính sách đã hỗ trợ HKD trong thời gian qua, cơ quan thuế cần tiếp tục đẩy mạnh tư vấn kịp thời để các hộ thích nghi. Đồng thời, có thể xem xét cơ chế chính sách xử phạt riêng phù hợp với nhóm đối tượng này bởi lãnh đạo ngành thuế cũng đã từng cho hay chưa gia tăng xử phạt HKD ở giai đoạn đầu.