Được phát triển bởi các nhà nghiên cứu từ Đại học Utrecht (Hà Lan), công cụ trực tuyến có tên Paleolatitude vừa được nâng cấp lớn giúp người dùng theo dõi lịch sử của bất kỳ vị trí nào trên hành tinh trong suốt 320 triệu năm qua.
Paleolatitude được thiết kế nhằm kết nối hai lĩnh vực cổ sinh học và cổ khí hậu học. Để tái tạo khí hậu cổ đại và tìm hiểu về sự sống thời tiền sử, các nhà nghiên cứu cần xác định chính xác vị trí của các mẫu vật tại thời điểm chúng hình thành. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng tín hiệu từ tính trong các loại đá từ khắp nơi trên thế giới để phát triển công cụ này, cho thấy cách các lục địa đã di chuyển kể từ khi bắt đầu kỷ địa chất hiện tại.
Các nhà nghiên cứu đã kết hợp dữ liệu mới về các dị thường từ trường biển, từ đó làm sáng tỏ sự chuyển động của các mảng kiến tạo chính và nhỏ, cũng như một số “lục địa đã mất” bị chôn vùi trong các dãy núi ở Địa Trung Hải và châu Á. Ví dụ, lục địa cổ đại Argoland đã tách khỏi Tây Úc khoảng 155 triệu năm trước và hiện nằm dưới vùng cao nguyên Indonesia.
Giáo sư Douwe van Hinsbergen, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Lần đầu tiên một mô hình toàn cầu thực sự đã được tạo ra giúp bạn liên kết những tảng đá đó với các mảng kiến tạo ban đầu của chúng”. Người dùng có thể chọn bất kỳ vị trí nào trên Trái đất và tìm hiểu sự thay đổi vĩ độ của vị trí đó kể từ thời siêu lục địa Pangaea, tồn tại cách nay khoảng 320 triệu năm.
Pangaea bao gồm tất cả các lục địa lớn ngoại trừ Siberia và một phần của Trung Quốc, được bao quanh bởi đại dương Panthalassa. Khoảng 200 triệu năm trước, các lục địa bắt đầu tách rời, dẫn đến sự hình thành các lục địa và đại dương hiện tại. Những tảng đá xung quanh chúng ta ngày nay đã trải qua một hành trình dài và không phải lúc nào cũng ở vị trí hiện tại.
Đồng tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Emilia Jarochowska, cho biết: “Với mô hình mới, chúng ta có được sự chắc chắn cao hơn nhiều cũng như nâng cao sự hiểu biết về đa dạng sinh học”. Công cụ này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử địa chất mà còn cung cấp những bài học quan trọng về khả năng phục hồi của đa dạng sinh học trong hiện tại.
Tin Gốc: Thanh Niên

Được giới thiệu ngày 15/7, Codex Micro, sản phẩm hợp tác với đơn vị thiết kế bàn phím chuyên dụng Work Louder, được quảng cáo là "cách thức mới lạ" giúp người dùng ChatGPT quản lý tác nhân lập trình AI Codex.
Cụ thể, Codex Micro trang bị 13 "phím tác nhân" gọi là Agent Keys thay vì một bàn phím có layout hoàn chỉnh, về cơ bản là bộ mở rộng của bàn phím sẵn có. Các phím lệnh được gọi là Command Keys, có thể tùy chỉnh macro thành phím tắt hoạt động trong Codex, và một cần điều khiển để khởi chạy các quy trình làm việc thông thường.
Điểm đặc biệt trên phím là núm xoay điều chỉnh mức độ "suy luận". Về cơ bản, núm giúp người dùng tăng hoặc giảm lượng thời gian và sức mạnh tính toán mà tác nhân sử dụng cho một nhiệm vụ nhất định.
"Thay vì quản lý tác nhân qua smartphone hoặc ứng dụng máy tính, giờ đây người dùng có thể sử dụng Codex Micro như trung tâm điều khiển cho công việc của tác nhân", đại diện OpenAI nói.
Công ty cho biết Codex Micro chỉ sản xuất giới hạn thay vì bán đại trà. Trang công nghệ TechCrunch nhận định đây là "món đồ trang sức hào nhoáng" để đánh dấu sự gia nhập của công ty đứng sau ChatGPT vào thị trường phần cứng hơn là sản phẩm thu hút số đông.
Phím hỗ trợ đèn nền LED màu RGB hiển thị các trạng thái theo màu sắc, chẳng hạn "đang suy nghĩ" có màu xanh da trời, hay gặp lỗi có màu đỏ hồng. Sản phẩm được bán giá 230 USD, hiện cho phép đặt hàng và thời gian giao hàng dự kiến từ ngày 24/7.
Theo một số tin đồn trước đó, OpenAI lên kế hoạch cho ra mắt một số thiết bị hỗ trợ trí tuệ nhân tạo. Một trong số đó có thiết kế tương tự AI Pin, nhưng nhỏ gọn và tinh tế giống máy nghe nhạc iPod Shuffle. Công ty cũng được cho là hợp tác với Qualcomm và MediaTek để phát triển smartphone hoạt động qua tác nhân AI thay vì ứng dụng truyền thống.
Trong khi đó, dẫn nguồn tin từ chuỗi cung ứng, Bloomberg hôm 14/7 cho biết OpenAI cũng sẽ phát triển loa thông minh không màn hình, được thiết kế để trở thành một loại máy tính gia đình mới cho kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, gồm khả năng điều khiển thiết bị trong nhà, phát đa phương tiện, trả lời tin nhắn và giải đáp thắc mắc bằng cách sử dụng ChatGPT của OpenAI.
OpenAI chưa đưa ra bình luận.
OpenAI công bố phần cứng đầu tiên giữa lúc công ty đang bị Apple khởi kiện, cáo buộc thực hiện chiến dịch đánh cắp bí mật để phát triển thiết bị cạnh tranh với hãng.
Theo giới chuyên gia, Apple đang tỏ ra rất nghiêm túc với vụ kiện khi thuê Weil, Gotshal & Manges, LLP - hãng luật hàng đầu của Mỹ, từng tham gia nhiều vụ án tội phạm kinh tế phức tạp và có tính chất nghiêm trọng trong lịch sử. Một số nhà phân tích suy đoán, vụ kiện có thể định hình tương lai của cả OpenAI, Apple và phần lớn ngành công nghệ, theo Fortune. Trước mắt, nhiều trải nghiệm AI trên loạt sản phẩm như iPhone, iPad sẽ thay đổi do đang sử dụng mô hình GPT.
Tin Gốc: Vnexpress

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ra quyết định về danh sách tên miền quốc gia Việt Nam ".vn" sẽ được triển khai đấu giá đợt 2, dự kiến ngày 22-23/6 sau khi hoàn tất thủ tục. Những tên miền này hai ký tự, không được bán trên thị trường và được xếp vào loại "hiếm". Trong lần đấu giá mới, tên miền có sự kết hợp của cả chữ cái và chữ số, như y1, m2, f5, g7... Ngoài ra, một số tên miền từng đấu giá thành công trong đợt 1 nhưng người trúng không thanh toán, cũng sẽ được đấu giá lại.
Đây là đợt triển khai tiếp theo trong chương trình đấu giá tên miền ".vn" được Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên Internet quốc gia. Theo Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), việc đấu giá tạo cơ hội cho doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân sở hữu tên miền giá trị cao để phục vụ xây dựng thương hiệu, kinh doanh và hiện diện số trên Internet.
Để tham gia, người mua cần đặt trước một triệu đồng. Các tên miền đợt này có giá khởi điểm 10 triệu, bước giá một triệu đồng.
Tên miền hai ký tự được coi là "tài nguyên đặc biệt" vì số lượng hữu hạn. Chúng có cấu trúc ngắn gọn, dễ nhớ và mang giá trị nhận diện thương hiệu cao, giúp bảo vệ và phát triển tài sản thương hiệu trên môi trường số.
Việc tổ chức đấu giá tên miền, theo VNNIC, không chỉ nhằm phân bổ hiệu quả tài nguyên Internet mà còn có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao nhận thức của xã hội về tên miền quốc gia ".vn" như một tài sản số, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân chủ động xây dựng hiện diện trực tuyến tin cậy.
Trước đó, đợt 1 được tổ chức tháng 3 có 50 tên miền được đưa ra đấu giá, với tỷ lệ thành công đạt 78%. Một số tên miền có giá bằng giá khởi điểm 10 triệu, nhưng đa số gấp nhiều lần. Đặc biệt, có tên miền được trả giá hơn 1,5 tỷ đồng.
Tin Gốc: Vnexpress
Khoa Học Công Nghệ
Hình dung con đường, cách thiết kế chương trình công nghệ chiến lược

Hình dung con đường, cách thiết kế chương trình công nghệ chiến lược
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhận định Việt Nam đã hình dung ra khá đầy đủ con đường phát triển công nghệ chiến lược (CNCL).
Sau 9 tháng ban hành Danh mục Công nghệ chiến lược và tiến hành triển khai, ngoài việc chúng ta đã nghiên cứu phát triển được một số sản phẩm chiến lược, nhìn thấy nhiều hạn chế và tồn tại, điều quan trọng nhất là chúng ta đã hình dung ra khá đầy đủ con đường phát triển CNCL Việt Nam.
Thứ nhất: Ban hành danh mục CNCL phải kèm theo sản phẩm CNCL, công nghệ lõi, và phải sát với nhu cầu phát triển và lợi thế của đất nước.
CNCL là các hướng công nghệ ưu tiên; Sản phẩm CNCL là đầu ra để tạo lập thị trường; Công nghệ lõi là năng lực làm chủ và tự chủ công nghệ.
Có một điểm chú ý quan trọng là, xây dựng danh mục CNCL, sản phẩm CNCL, công nghệ lõi phải xuất phát từ các bài toán lớn quốc gia, chứ không phải xuất phát từ công nghệ. Công thức đúng là đi từ bài toán quốc gia tới sản phẩm chiến lược rồi tới công nghệ. Chương trình CNCL quốc gia phải bao quát đầy đủ các khâu từ nghiên cứu khoa học, tới phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, sản xuất đến thị trường, chứ không rời rạc như trước đây. Và phải kết hợp được cả hai công cụ của nhà nước là ngân sách và chính sách tạo thị trường. Thiết kế chương trình CNCL trước đây tập trung vào công nghệ và ngân sách là chính, chưa chú trọng các chính sách tạo thị trường.
Về danh mục CNCL, Chính phủ đã ban hành tháng 6/2025 và sẽ sửa đổi sau một năm ban hành. Chúng ta sẽ bổ sung các công nghệ chiến lược thuộc các dòng sản phẩm đang là chủ lực của Việt Nam, cả xuất khẩu và trong nước. Làm chủ các công nghệ lõi sẽ vừa tăng năng lực cạnh tranh, vừa tạo giá trị tăng thêm cho các sản phẩm chủ lực. Danh mục CNCL có thể chia làm ba loại, có ngắn hạn, có trung hạn và có dài hạn: 1-3 năm, 3-5 năm và 5-10 năm. 70-80% ngân sách và nguồn lực sẽ dành cho loại 1 và 2, như vậy sẽ vừa có kết quả nhanh, vừa xây năng lực dài hạn.
Kèm theo danh mục CNCL là danh mục các sản phẩm CNCL, danh mục các công nghệ lõi và lộ trình làm chủ đối với từng CNCL. Các sản phẩm CNCL phải kèm theo yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, các công nghệ lõi phải tự chủ. Các danh mục này mới là mục tiêu cụ thể cần đạt được của chương trình CNCL, chứ không phải danh mục CNCL, nó hướng khoa học công nghệ tới mục tiêu cuối cùng là công nghệ lõi, sản phẩm và thị trường. Các doanh nghiệp tập trung vào các sản phẩm CNCL, các viện trường vào công nghệ lõi.
Thứ hai: Ban hành bộ tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về CNCL, công nghệ lõi và sản phẩm CNCL.
Tiêu chí lựa chọn CNCL cần phải được ban hành để lựa chọn hướng đi cho đúng.
Việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn phải đi trước (có thể là pre-standard) để định hướng phát triển công nghệ, tạo lập thị trường và thúc đẩy thương mại hóa.
Có tiêu chuẩn mới có thể đấu thầu, nghiệm thu và mua sắm. Tức là tiêu chuẩn giúp hình thành thị trường. Tiêu chuẩn là công cụ dẫn dắt công nghệ. Tiêu chuẩn cũng là điều kiện để sản xuất loạt. CNCL thường mới, rủi ro cao, nên tiêu chuẩn sẽ giúp kiểm soát chất lượng và tạo niềm tin cho thị trường. Tiêu chuẩn cũng giúp tham gia chuỗi toàn cầu.
Nhà nước phải ban hành tiêu chuẩn, gắn tiêu chuẩn với mua sắm công và đồng bộ tiêu chuẩn với chính sách thị trường. Không có tiêu chuẩn thì không có thị trường cho CNCL.
Thứ ba: Tìm ra một số cách triển khai CNCL mới có tính đột phá, ngoài các cách truyền thống.
1. Nhà nước tạo thị trường đủ lớn cho các sản phẩm CNCL. Nhà nước đặt mua số lượng đủ lớn, xây dựng chính sách để tạo ra nhu cầu lớn trên thị trường, cơ chế thử nghiệm nhanh đối với CNCL, sau đó doanh nghiệp bỏ tiền nghiên cứu. Đây là cách hỗ trợ đầu ra, dùng thị trường để phát triển CNCL. Cũng bằng cách này, nhà nước thu hút được đầu tư nghiên cứu từ khu vực xã hội, góp phần quan trọng đạt mục tiêu 2% GDP cả nước chi cho nghiên cứu, tức gấp 5 lần con số 2% ngân sách nhà nước chi cho khoa học công nghệ. Trung Quốc rất thành công theo cách này: với xe điện họ trợ giá; với UAV họ cho phép nhiều ứng dụng trong nông nghiệp; với năng lượng mặt trời, họ bắt buộc một tỷ lệ năng lượng tái tạo. Các sản phẩm CNCL như UAV, camera AI, thiết bị 5G, trợ lý ảo AI, blockchain có thể làm theo cách này.
2. Nhà nước chọn mặt gửi vàng, tức chọn tổng thầu công nghệ. Đối với các chương trình công nghệ quốc gia, dự án công nghệ lớn, rất phức tạp, dài hạn, 5-10 năm hoặc lâu hơn, nhà nước chọn nhà thầu công nghệ chính, chọn doanh nghiệp/viện trường chủ lực phát triển CNCL, và cấp ngân sách hoặc không cấp ngân sách nhưng cam kết đầu ra. Chương trình tên lửa của chúng ta là thực hiện theo cách doanh nghiệp tự bỏ tiền nghiên cứu, nhà nước cam kết mua nếu đạt tính năng tương đương và giá thấp hơn so với nhập ngoại. Còn chương trình sản xuất chip bán dẫn lại theo cách nhà nước cấp ngân sách. Các chương trình lớn khác như như lò hạt nhân module nhỏ, vũ trụ, lòng đất có thể làm theo cách này.
3. Nhà nước là người mua đầu tiên. Cách này áp dụng với các sản phẩm CNCL chưa có thị trường lớn, công nghệ lại khá phức tạp. Cần nhà nước hỗ trợ nghiên cứu và sau đó là người mua đầu tiên. Nhà nước xác định sản phẩm hoặc bài toán CNCL, mời các doanh nghiệp/viện/trường/startup tham gia. Không chỉ định ai. Chọn 3-5 nhóm làm sản phẩm mẫu, rồi giữ lại 1-2 đội có sản phẩm mẫu tốt nhất để tài trợ làm tiếp đến sản phẩm thương mại. Nếu công nghệ đạt yêu cầu, nhà nước thành người mua đầu tiên, tạo thành thị trường đầu tiên cho doanh nghiệp. Nhà nước đóng vai người mua đầu tiên là một trong những công cụ rất mạnh để phát triển CNCL. Các nước đã thành công với cách này là Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU. Cách này có thể áp dụng với vệ tinh tầm thấp, chế biến đất hiếm, robot nông nghiệp.
4. Phát triển CNCL cần sự đồng hành của người dùng
Sản phẩm CNCL cần có môi trường thử nghiệm, sự phản hồi liên tục của người dùng, đồng sáng tạo của người dùng. Có nghĩa là người dùng tham gia từ đầu, không phải xuất hiện ở cuối. Sự tham gia tích cực, hiệu quả và từ đầu của các đơn vị sử dụng sẽ góp phần quan trọng tạo nên thành công của các sản phẩm chiến lược. Bởi vậy, chương trình CNCL phải được thiết kế có sự tham gia của người dùng từ đầu.
Thứ tư: Ban hành kế hoạch hành động và giao nhiệm vụ
Xác định từng sản phẩm CNCL, từng công nghệ lõi sẽ phát triển theo cách nào, giao ai, bao giờ xong, cùng các điều kiện đi kèm như nhu cầu thị trường, nhà nước là người mua đầu tiên, ngân sách.
Sau khi mục tiêu, lộ trình, tiêu chuẩn, cách làm, cách đánh giá, thị trường và ngân sách đã được xác định thì việc giao bộ ngành chủ trì phát triển các sản phẩm CNCL là nên làm. Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KH&CN) giữ vai trò điều phối quốc gia, kiến trúc, thiết kế chương trình CNCL, phân bổ ngân sách và đánh giá hiệu quả.
Thứ năm: Ban hành bộ tiêu chí đánh giá
Xác định bộ tiêu chí đánh giá tác động của CNCL đối với kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả của chương trình CNCL, hay gọi là hạch toán như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, là việc bắt buộc phải làm.
Tiêu chí phải được thiết kế theo 4 tầng: Input (đầu vào) - Output (đầu ra trực tiếp, như bài báo, công nghệ) - Outcome (kết quả, như doanh thu) - Impact (tác động, như năng suất, tăng trưởng). Chương trình CNCL phải được đánh giá theo bộ tiêu chí phản ánh đầy đủ kết quả từ nghiên cứu đến thị trường, làm cơ sở cho việc phân bổ, điều chỉnh và giám sát nguồn lực.
Một số việc cần làm ngay
Thứ nhất, đối với các sản phẩm CNCL đã được các doanh nghiệp Việt Nam phát triển đạt tiêu chuẩn, cần có ngay chương trình mua sắm của chính phủ, và chính sách dùng hàng Việt Nam để tạo thị trường cho các sản phẩm CNCL này, như UAV, camera AI, 5G, trợ lý ảo.
Thứ hai, cho phép hình thành một số khu thử nghiệm đặc biệt, tại đây các thử nghiệm không phải xin phép. Các sandbox hiện nay rất chậm vì các thủ tục xin phép và mọi người cũng ngại quyết.
Thứ ba, ở cấp bộ ngành và địa phương, cần hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo và giao các trung tâm này đặt hàng doanh nghiệp/viện trường giải quyết các bài toán lớn của bộ ngành và địa phương góp phần trực tiếp vào tăng trưởng hai con số, chủ yếu theo cách chính quyền tạo thị trường và chính quyền là người mua đầu tiên. Để tránh trùng lặp và phổ biến nhanh ra toàn quốc các giải pháp thành công, nhà nước thống nhất một nền tảng số dùng chung để quản lý các bài toán và giải pháp.
Thứ tư, về phân bổ ngân sách khoa học công nghệ. Hiện nay, các bộ ngành vẫn phải đăng ký danh mục đề tài qua Bộ KH&CN rồi qua Bộ Tài chính cấp tiền, có đợt 1/đợt 2, tiền đợt 2 về đến người làm có khi đến tháng 6, tháng 7. Chúng ta có thể đổi mới bằng cách cấp một cục - gọi là block funding - vào thẳng quỹ khoa học công nghệ của các bộ ngành, ngay từ đầu năm, để họ chủ động phát triển công nghệ ứng dụng giải quyết các bài toán ngành. Bộ KH&CN giữ nền tảng số quốc gia quản lý các đề tài để tránh trùng lặp, đánh giá hiệu quả, và đảm bảo phù hợp chiến lược khoa học công nghệ từng giai đoạn. Đây là xu thế thế giới, nó giảm đến 80% thủ tục, tăng trách nhiệm các bộ/ngành, gắn được khoa học công nghệ với các bài toán của từng ngành. Quỹ KH&CN quốc gia thuộc Bộ KH&CN sẽ tập trung vào các nghiên cứu cơ bản, khoa học nền tảng, các đề tài liên ngành, và chương trình CNCL.
Nhà nước tạo ra việc lớn, bài toán quốc gia phải đủ rõ về mục tiêu, quy mô, người mua và mức độ tự chủ, tạo ra thị trường lớn, cơ chế tài chính thông thoáng, nhân sự linh hoạt, xây dựng hạ tầng nghiên cứu hiện đại, cơ chế phân chia lợi ích phù hợp, và việc lớn thì giao tổng thầu công nghệ, thì chúng ta sẽ thu hút được tinh hoa khoa học công nghệ toàn cầu tham gia giải quyết các bài toán lớn của Việt Nam, giúp Việt Nam phát triển và tự chủ CNCL.
Vừa qua, việc triển khai chương trình CNCL chưa được như mong muốn và kỳ vọng lý do chính là do cách tiếp cận, cách thiết kế chương trình chưa tốt, hơn là do thể chế. Nhưng 9 tháng qua đã giúp chúng ta hình thành ra con đường, cách thiết kế chương trình CNCL hiệu quả hơn, như đã trình bày ở trên, để thời gian tới sẽ tạo ra sự thay đổi về chất.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng

