Ngày 17/4, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi trong bài đăng trên mạng xã hội X tuyên bố eo biển Hormuz mở hoàn toàn cho các tàu thương mại. Động thái khiến giá dầu giảm và ngay lập tức nhận được sự hoan nghênh từ Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Araghchi là nhà ngoại giao kỳ cựu có tư tưởng thực dụng trong đội ngũ đàm phán. Một quan chức Iran giấu tên cho biết tuyên bố của ông Araghchi là nỗ lực phát đi tín hiệu sẵn sàng thỏa hiệp vào thời điểm lệnh ngừng bắn hai tuần với Mỹ, bắt đầu từ ngày 8/4, sắp hết hiệu lực.
“Tuyên bố của ông Araghchi dường như nhằm khơi thông đàm phán hơn là khai thông eo biển Hormuz”, Michael Singh, cựu giám đốc cấp cao về các vấn đề Trung Đông tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, nhận định.
Ông thêm rằng động thái này diễn ra sau một nhượng bộ từ phía Washington. Mỹ đã thúc đẩy lệnh ngừng bắn 10 ngày giữa Israel và Lebanon và tuyên bố “cấm” Israel tiếp tục ném bom nước láng giềng. Tehran trước đó yêu cầu Israel phải chấm dứt chiến dịch chống lại Hezbollah, nhóm vũ trang mà Iran hậu thuẫn ở Lebanon.
Tuy nhiên, nỗ lực của ông Araghchi lập tức vấp phản kháng từ chính trong nội bộ Iran. Ngay trong đêm đó, một người tự xưng là thành viên hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã phát tin nhắn qua đài vô tuyến hàng hải, tuyên bố eo biển vẫn đóng cửa và các tàu cần có sự cho phép của lực lượng này mới được đi qua.
“Chúng tôi mở cửa theo lệnh của Lãnh tụ Tối cao Mojtaba Khamenei, chứ không phải theo những dòng tweet của một kẻ ngớ ngẩn nào đó”, nội dung tin nhắn nêu rõ.
Cùng lúc đó, hãng tin Tasnim thân cận với IRGC cũng chỉ trích gay gắt Ngoại trưởng Iran vì tuyên bố trên mạng xã hội, khẳng định “Bộ Ngoại giao nên xem xét lại kiểu truyền thông này”.
Morteza Mahmoudi, nghị sĩ cấp cao thuộc phe cứng rắn ở Iran, thậm chí còn kêu gọi cách chức ông Araghchi, cho rằng tuyên bố của ông đã làm hạ giá dầu và là một “món quà” tặng cho Mỹ.
Ngày 18/4, Bộ tư lệnh Trung tâm Khatam al-Anbiya của quân đội Iran chính thức thông báo tái áp đặt hạn chế ở eo biển Hormuz. Trung tâm Điều phối Thương mại Hàng hải Anh (UKMTO) cho biết đã nhận được thông tin rằng một tàu dầu ngoài khơi Oman bị xuồng cao tốc Iran áp sát và nổ súng, không có thương vong trong sự việc.
Hải quân IRGC cảnh báo các chủ tàu rằng mọi nỗ lực vượt eo biển mà không được cấp phép “sẽ phải đối mặt với phản ứng khốc liệt từ lực lượng Iran”. Một cố vấn cấp cao của IRGC cho biết lực lượng này cảm thấy tức giận khi ông Araghchi đã không phối hợp với họ trước khi đưa ra tuyên bố.
Trong khi các bên trung gian cho biết Mỹ và Iran đã thể hiện sự linh hoạt về lập trường đàm phán và ông Trump tuyên bố thỏa thuận đã cận kề, những gì diễn ra ở eo biển Hormuz cho thấy những người sẵn lòng thỏa hiệp ở Iran có thể không nhận được sự ủng hộ hoàn toàn từ phe cứng rắn đầy quyền lực.
“Phương Tây nghĩ Iran là một quốc gia có chuỗi mệnh lệnh xuyên suốt: Bạn đàm phán với Bộ Ngoại giao, họ trình lên để phê chuẩn, các quyết định được đưa ra. Xong chuyện”, Mohamed Amersi, chuyên gia về Iran kiêm thành viên Hội đồng Cố vấn Toàn cầu thuộc Trung tâm Wilson ở Mỹ, nhận định. “Nhưng khi tình hình trở nên căng thẳng, tiếng nói quyết định lại thường thuộc về lực lượng đang nắm trong tay vũ khí, máy bay không người lái và xuồng cao tốc”.
Trita Parsi, Phó chủ tịch điều hành Viện Quincy, cảnh báo sự phản kháng của phe cứng rắn đối với thỏa thuận hòa bình “đang ngày càng lớn hơn, tạo ra thách thức chính trị lớn”.
Diễn biến tại eo biển Hormuz cuối tuần qua gợi nhớ đến tình huống hồi đầu cuộc chiến, khi Tổng thống Masoud Pezeshkian xin lỗi về các cuộc tấn công vào các nước láng giềng vùng Vịnh và hứa sẽ cắt giảm quy mô tấn công. Ngay lập tức, ông bị phe cứng rắn công khai phản bác.
Các nhà phân tích cho rằng sau khi lãnh tụ tối cao Ali Khamenei bị hạ sát trong những cuộc tập kích đầu tiên của Mỹ – Israel, giới lãnh đạo ở Iran đã mất đi sự thống nhất.
“Vì trọng tài chính đã không còn, mâu thuẫn giữa các phe phái đã bắt đầu bùng nổ”, Saeid Golkar, chuyên gia về an ninh Iran tại Đại học Tennessee ở Mỹ, kết luận.
NBC News cuối tuần trước dẫn lời các quan chức quốc phòng Mỹ cho biết một tiêm kích F-5 Iran từng vượt qua nhiều lớp phòng không để ném bom căn cứ đồn trú Buehring tại Kuwait hồi đầu xung đột. Đây là lần đầu cơ sở quân sự Mỹ bị máy bay cánh bằng có người lái của đối phương tấn công trong suốt nhiều năm qua.
Lầu Năm Góc và Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ ở Trung Đông, từ chối bình luận về thông tin.
Căn cứ Buehring được cho là "huyết mạch hậu cần" của quân đội Mỹ ở Trung Đông, đóng vai trò trung tâm tập kết chính để triển khai lực lượng, tiến hành hoạt động duy trì và hỗ trợ chiến đấu cho những chiến dịch của Washington tại khu vực.
Vai trò quan trọng của Buehring khiến Mỹ triển khai mạng lưới phòng không đa tầng để bảo vệ cơ sở này, trong đó có lá chắn tầm xa Patriot và nhiều hệ thống phòng không tầm ngắn.
Trong khi đó, tiêm kích hạng nhẹ F-5 được tập đoàn Northrop phát triển và đưa vào biên chế không quân Mỹ từ năm 1964, với tổng cộng hơn 2.600 chiếc được xuất xưởng trong giai đoạn 1959-1987. Phi đội F-5E/F của Iran hiện nay đều được sản xuất và bàn giao trước năm 1979
"Loại phi cơ này nhìn chung không có khả năng sống sót trong môi trường tác chiến hiện đại", biên tập viên Stefano D'Urso của chuyên trang hàng không quân sự Aviationist nhận xét, dù lưu ý kích thước nhỏ của F-5 có thể khiến hệ thống phòng không khó phát hiện chúng hơn.
Tạp chí quân sự Military Watch Magazine chỉ ra rằng chiến đấu cơ F-5 Iran không được trang bị hệ thống tác chiến điện tử tiên tiến, chưa nói đến công nghệ tàng hình, nên dễ bị phát hiện và ngăn chặn hơn nhiều so với tiêm kích hiện đại. "Lưới phòng không đa tầng quanh căn cứ Buehring bị xuyên thủng bởi phi cơ lạc hậu như F-5 có thể coi là nỗi xấu hổ", tạp chí nhận xét.
NBC News dẫn lời các quan chức Mỹ nhận định chiếc F-5 Iran đã bay rất thấp, kết hợp lợi dụng địa hình và địa vật để ẩn mình, tránh bị radar cảnh giới phát hiện trong quá trình tiếp cận mục tiêu.
"Radar mặt đất thường bị giới hạn bởi tầm nhìn thẳng và đường chân trời. Điều này khiến chúng không thể phát hiện tên lửa hành trình, máy bay không người lái (UAV) và phi cơ bay thấp cho đến khi đối phương đã ở rất gần", Hamish de Bretton-Gordon, cựu sĩ quan lục quân Anh, cho biết.
Chưa rõ tiêm kích F-5 Iran bay trên lãnh thổ Iraq hay qua biển trước khi tiến vào vùng trời Kuwait. Bình luận viên quân sự James Marinero nhận định phi công đã chọn tuyến đường ngắn nhất nhằm hạn chế tối đa nguy cơ bị radar Mỹ và đồng minh phát hiện.
"Bay từ khu vực Dezful hoặc Omidiyeh sẽ giúp phi cơ tận dụng địa hình vùng châu thổ sông Tigris-Euphrates, gần biên giới với Iraq, cùng các vùng đầm lầy ven biển phía bắc vịnh Ba Tư để che giấu tung tích. Nếu duy trì độ cao dưới 30 m, chiếc F-5 có thể không lộ diện cho đến khi tới sát biên giới Kuwait", Marinero cho hay.
Nhiệm vụ của chiến đấu cơ Iran dường như thuận lợi hơn nhờ năng lực cảnh báo sớm của Mỹ và đồng minh đã bị suy giảm trong những đòn tập kích trước đó. Hàng loạt radar phòng không, trong đó có AN/TPY-2 của Hệ thống Phòng thủ Tầm cao Giai đoạn cuối (THAAD) và "mắt thần" AN/FPS-132, đã bị phá hủy hoặc hư hại ngay trong ngày đầu xung đột.
Các hệ thống phòng không tầm ngắn về lý thuyết sẽ lấp khoảng trống của tổ hợp Patriot và THAAD, nhưng cần có dữ liệu cảnh báo sớm.
"Một chiếc F-5 cũ kỹ do Iran vận hành có thể khai thác được khoảng trống đó đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về giới hạn của đường chân trời radar, thời gian phản ứng của hệ thống chỉ huy và thách thức với nỗ lực phát hiện vật thể bay thấp trong không phận hỗn loạn thường thấy giữa thời chiến", chuyên trang quân sự Defence Security Asia nhận xét.
Biên tập viên D'Urso cũng cho rằng cuộc tập kích diễn ra trong điều kiện rất đặc biệt, nhận định phi công Iran đã tận dụng thời điểm "lưới phòng không Mỹ bị quá tải vì các trận tập kích tên lửa và UAV".
Iran đã phóng lượng lớn UAV, trong đó có dòng Shahed và Arash-2, để phủ kín radar đối phương, tạo điều kiện cho tiêm kích xâm nhập vùng trời mục tiêu. Chỉ riêng tại Kuwait, quân đội nước này tuyên bố đã bắn hạ ít nhất 98 tên lửa đạn đạo và 283 UAV tự sát trong 6 tuần xung đột.
"Chiếc F-5 lợi dụng tình trạng hỗn loạn để ẩn mình khi di chuyển", Marinero cho hay.
Giới chuyên gia cũng chỉ ra rằng cuộc tập kích căn cứ Buehring diễn ra cùng giai đoạn với vụ Kuwait bắn rơi ba tiêm kích hạng nặng F-15E Mỹ. CENTCOM khi đó cho biết chiến đấu cơ Mỹ bị lực lượng Kuwait bắn nhầm giữa lúc diễn ra giao tranh ác liệt, trong đó có "các cuộc tấn công bằng máy bay, tên lửa đạn đạo và UAV từ Iran".
Đây cũng là lần duy nhất CENTCOM xác nhận máy bay Iran tham chiến trong xung đột, nhưng chưa rõ đó có phải chiếc F-5 tấn công căn cứ Buehring hay không.
Áp lực từ những cuộc tấn công cường độ cao và tần suất lớn của Iran cũng được cho là làm tăng nguy cơ lực lượng phòng thủ mắc sai sót, để lọt mục tiêu nguy hiểm như tiêm kích đối phương.
"Những người dán mắt vào màn hình radar phải ra quyết định ngay lập tức dựa trên bản năng, kiến thức đã được huấn luyện và công nghệ hỗ trợ. Họ không được phép phạm sai lầm khi phán đoán", Debanish Achom, biên tập viên đài NDTV của Ấn Độ, cho hay.
Tại bãi đất bụi bặm cách Bắc Kinh một giờ lái xe, dòng xe cộ liên tục ra vào tấp nập để sạc pin. Đây chỉ là một mắt xích trong mạng lưới xe tải điện đang mở rộng nhanh chóng ở Trung Quốc.
Mảng xe điện dân dụng của Trung Quốc đã nổi tiếng từ lâu, nhưng lĩnh vực xe tải điện mới tăng tốc trong thời gian gần đây. Theo các chuyên gia, hệ thống hạ tầng sạc và đổi pin phủ rộng khiến lợi thế chi phí đang nghiêng hẳn về xe tải điện, đánh dấu sự "thay da đổi thịt" với ngành vận tải Trung Quốc và có thể coi là "đòn chí tử" với xe tải chạy bằng diesel truyền thống.
"2025 là năm đột phá đối với xe điện hạng nặng tại Trung Quốc. Khi hạ tầng sẵn sàng, xe điện sẽ trở thành lựa chọn kinh tế nhất cho đa số hoạt động giao hàng và vận tải", Lauri Myllyvirta, đồng sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Không khí sạch (CREA), chuyên gia về tiêu thụ năng lượng Trung Quốc, nêu quan điểm.
Quá trình thay thế xe tải chạy bằng diesel ở Trung Quốc đang tăng tốc trong những năm gần đây.
Theo dữ liệu từ Commercial Vehicle World, công ty cung cấp thông tin thị trường có trụ sở tại Bắc Kinh, các mẫu xe điện chiếm 29% tổng doanh số xe tải nội địa tại Trung Quốc vào năm ngoái, tăng mạnh so với mức 14% năm 2024. Tỷ lệ thâm nhập thị trường năm 2021 chỉ ở mức chưa đến 1%.
Các nhà sản xuất dự báo thị phần xe tải điện sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, có khả năng chiếm phần lớn doanh số bán hàng trong vài năm tới.
Wang, tài xế xe tải 43 tuổi, cho biết công việc đã thay đổi khá nhiều kể từ khi chuyển sang sử dụng xe điện. "Điều khiển rất nhẹ nhàng. Xe cũ của tôi có hơn 10 số, vận hành rất cồng kềnh. Với xe điện, bạn chẳng phải làm gì cả, tất cả đều tự động", anh nói khi cắm cáp sạc tại trạm ở quận Mật Vân, Bắc Kinh.
Khi được hỏi tại sao các công ty vận tải có xu hướng chuyển sang dùng xe tải điện nhiều hơn, anh cho rằng nguyên nhân bắt nguồn từ sự hỗ trợ trong chính sách quốc gia và kinh tế thị trường. "Đó là quy luật đào thải. Với chi phí vận chuyển và mọi thứ đi kèm hiện nay, ai cũng cố gắng để kiếm được nhiều tiền hơn. Loại xe này có chi phí vận hành thấp hơn", Wang nói.
Zhang, một tài xế khác ở trạm sạc, cho hay đã chuyển từ xe tải chạy bằng khí tự nhiên sang xe điện được hai tháng. Công việc của ông chủ yếu là chở cát và đá trên quãng đường ngắn quanh Bắc Kinh. Zhang lưu ý rằng xe tải điện chưa phù hợp với hành trình dài.
Mẫu xe mà Zhang đang lái có tầm hoạt động tối đa khoảng 240-250 km. "Động cơ khá mạnh, tăng tốc nhanh. Tất cả tập trung vào tốc độ, nhưng phạm vi di chuyển vẫn còn hạn chế", ông nói.
Khi quá trình chuyển đổi xe tải điện trong nước đang tăng tốc, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng bắt đầu nghĩ nhiều hơn đến thị trường nước ngoài.
"Tương tự xe dân dụng, các nhà sản xuất xe tải hạng nặng Trung Quốc đang coi xuất khẩu là chiến lược tất yếu, do cạnh tranh ngày càng tăng và thị trường nội địa dần bão hòa", Christopher Doleman, nhà phân tích tại Viện Kinh tế Năng lượng và Phân tích Tài chính (IEEFA), nhận định.
Những bất ổn gần đây trên thị trường năng lượng toàn cầu do xung đột Trung Đông cũng là chất xúc tác tiềm năng cho xu hướng này. "Nhu cầu về xe tải hạng nặng chạy điện có khả năng sẽ cao hơn, khi các hãng vận hành cố gắng giảm thiểu rủi ro từ sự biến động của giá dầu diesel", ông nói.
Han Wen, người sáng lập công ty khởi nghiệp xe tải điện Windrose Technology, cũng cho rằng chiến sự Trung Đông đã thúc đẩy nhu cầu về xe tải điện.
Thành lập năm 2022 và có trụ sở tại Bỉ, Windrose đang tìm cách tận dụng chuỗi cung ứng xe điện tiên tiến của Trung Quốc để khẳng định vị thế trên thị trường xe tải điện đường dài toàn cầu và cạnh tranh trực tiếp với tập đoàn Tesla của Mỹ.
"Đối với xe tải, phạm vi hoạt động là hạn chế lớn nhất", Han nói. Ông lưu ý rằng xe tải của Windrose có thể chạy khoảng 700 km sau một lần sạc đầy và công ty muốn nâng con số này lên 1.000 km vào năm 2030.
Windrose đang tìm cách đẩy mạnh sản xuất sau khi được cấp phép lưu hành tại châu Âu, Trung Quốc, Mỹ và Nam Mỹ.
"Chúng tôi sẽ chế tạo khoảng 1.000 xe tải trong năm nay. Không còn nghi ngờ gì nữa, xe điện là sự lựa chọn ưu việt về mặt kinh tế. Tôi nghĩ chúng ta đang đứng trước ngưỡng cửa xóa sổ xe tải chạy dầu diesel", Han nói, cho hay mục tiêu tiếp theo là 10.000 chiếc vào năm tới và 100.000 xe vào năm 2030.
Các tập đoàn lớn như Tata Power và Adani Group đã bắt đầu tìm kiếm cơ hội đầu tư, trong khi New Delhi xúc tiến sửa đổi hàng loạt quy định nhằm thu hút nguồn vốn mới. Liệu những cải cách này có đủ để hiện thực hóa mục tiêu đầy tham vọng đó, hay vẫn còn quá nhiều rào cản phía trước?
Theo tờ Financial Times ngày 2-6, bước ngoặt lớn nhất của cuộc cải cách đến từ quyết định của New Delhi chấm dứt thế độc quyền kéo dài hàng chục năm của Nhà nước trong lĩnh vực điện hạt nhân.
Theo dự luật được Chính phủ Ấn Độ trình lên Quốc hội cuối năm 2025, các doanh nghiệp tư nhân và liên doanh có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài có thể xin giấy phép xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân nếu được Chính phủ lựa chọn.
Trước đây, chỉ có Tổng công ty Điện hạt nhân Ấn Độ (NPCIL) và một số đơn vị nhà nước được phép vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Tuy nhiên với mục tiêu nâng công suất từ khoảng 8GW hiện nay lên 100GW vào năm 2047, Chính phủ nhận ra nguồn lực nhà nước khó đáp ứng được yêu cầu về vốn, công nghệ và tốc độ triển khai.
Cuối năm ngoái, Hãng tin Reuters từng đưa tin New Delhi muốn thu hút khoảng 26 tỉ USD từ các tập đoàn trong nước như Tata Power, Adani Power và Reliance Industries - điều này lý giải vì sao các tập đoàn này nhanh chóng xuất hiện trong kế hoạch phát triển của Chính phủ.
Tata Power - công ty điện lực thuộc tập đoàn lớn nhất Ấn Độ Tata Group - là một trong những doanh nghiệp đi đầu. Công ty đang đánh giá ba địa điểm tại các bang khác nhau để phát triển dự án điện hạt nhân.
Giám đốc điều hành Praveer Sinha cho biết Tata Power đã xác định được quỹ đất phù hợp và kỳ vọng hai nhà máy có công suất 220MW sẽ được phê duyệt trong hai năm tới.
Trong khi đó tháng 2 vừa qua, Adani Power thông báo thành lập Adani Atomic Energy Ltd - đơn vị chuyên phụ trách lĩnh vực điện hạt nhân, hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng từ nguồn hạt nhân.
Song song với việc mở cửa cho tư nhân, New Delhi còn tìm cách tháo gỡ một rào cản lâu nay khiến nhiều tập đoàn nước ngoài e ngại: trách nhiệm pháp lý khi xảy ra sự cố hạt nhân.
Dự luật mới bãi bỏ quy định cho phép đơn vị vận hành kiện các nhà cung cấp công nghệ khi có lỗi thiết bị, đồng thời đề xuất thành lập quỹ trách nhiệm hạt nhân và điều chỉnh cơ chế bồi thường theo thông lệ quốc tế - tín hiệu quan trọng để thu hút công nghệ và vốn từ bên ngoài.
Dù triển vọng đầu tư đáng chú ý, con đường hiện thực hóa mục tiêu 100GW vẫn còn nhiều chướng ngại.
Vấn đề nan giải nhất là đất đai. Theo các tài liệu nội bộ mà Hãng tin Reuters tiếp cận, việc thu hồi đất cho các dự án điện hạt nhân thường kéo dài 4 - 5 năm, một phần do quy định yêu cầu duy trì vùng cấm với bán kính tối thiểu khoảng 1km quanh nhà máy, không cho phép có người sinh sống hoặc hoạt động kinh tế.
Để giải quyết, các cơ quan quản lý đang xem xét thu hẹp vùng cấm xuống còn khoảng một nửa đối với một số dự án - thay đổi này có thể giúp tăng công suất lắp đặt trên cùng một địa điểm lên gấp hai hoặc ba lần.
Tuy nhiên đây cũng là nội dung gây tranh cãi nhất trong quá trình cải cách. Các đảng đối lập cho rằng Chính phủ đang quá chú trọng thu hút đầu tư mà chưa giải quyết đầy đủ những lo ngại về an toàn hạt nhân. Nhiều nghị sĩ cảnh báo việc nới lỏng quy định có thể làm suy yếu các cơ chế bảo vệ được xây dựng qua nhiều thập niên.
Ngay cả các doanh nghiệp muốn tham gia cũng thừa nhận còn nhiều khó khăn. Tata Power cho biết chi phí đầu tư điện hạt nhân vẫn rất cao, trong khi các công ty tư nhân Ấn Độ gần như chưa có kinh nghiệm vận hành dự án hạt nhân quy mô lớn.
Nhiều quy định quan trọng về cấp phép, cung cấp nhiên liệu và quy trình phê duyệt vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Dù vậy, New Delhi cho thấy sẽ không lùi bước. Với một quốc gia vẫn phụ thuộc lớn vào than đá nhưng đứng trước nhu cầu điện ngày càng tăng, điện hạt nhân được xem là một trong số ít nguồn năng lượng có thể cung cấp điện ổn định với lượng phát thải carbon thấp.