Khi bệnh nhân đầu tiên được chuyển đến, người đàn ông 50 tuổi bất tỉnh với thân nhiệt 40 độ C, bác sĩ Nicolas Gonzales hiểu ngay mùa hè năm nay sẽ khác. Gia đình nạn nhân kể ông vẫn bình thường rồi đột ngột mất ý thức.
Chỉ vài giờ sau, khoa cấp cứu Bệnh viện Paris-Saclay chìm ngập trong làn sóng bệnh nhân nhồi máu cơ tim, mất nước, suy thận, đủ mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người già sống neo đơn, tất cả đều là nạn nhân của đợt nắng nóng kỷ lục tràn qua nước Pháp từ ngày 20/6.
Để hạ thân nhiệt khẩn cấp cho bệnh nhân sốc nhiệt, đội ngũ y tế cần một lượng lớn đá lạnh ngâm bồn. Nhưng bệnh viện không có máy làm đá. Họ gõ cửa một nhà hàng thức ăn nhanh gần đó, xin toàn bộ số đá trong kho, rồi cử nhân viên tự bỏ tiền túi ra siêu thị mua thêm. Đó là cách một cơ sở y tế hiện đại tại vùng ngoại ô Paris vật lộn sinh tử trong tuần đầu của cuộc khủng hoảng nhiệt.
“Áp lực tăng lên như một ngọn núi và duy trì suốt bảy ngày liên tục. Đó là khoảng thời gian vô cùng căng thẳng”, bác sĩ Gonzales, Trưởng khoa Cấp cứu Bệnh viện Paris-Saclay, nói với AP hôm 1/7.
Ông mô tả nhiệt độ cao như một cuộc tấn công vật lý trực tiếp vào cơ thể: “Khi cơ thể không còn khả năng thích nghi, người bệnh sẽ không tự nhận ra mối nguy và tim có thể ngừng đập bất cứ lúc nào”.
Bệnh viện Paris-Saclay, dù là cơ sở mới có trang bị điều hòa, vẫn chật vật. Ba bệnh viện lâu đời khác trong hệ thống do giám đốc Cédric Lussiez quản lý còn khốn đốn hơn. Để thuốc không biến chất, nhân viên dùng quạt điện kết hợp đá khối làm mát tạm thời. Sinh viên điều dưỡng được huy động hỗ trợ bệnh nhân bù nước liên tục.
Tại tầng trên cùng của khoa tâm thần, nơi hứng trực tiếp ánh nắng mặt trời, nhiệt kế chạm 33 độ C. “Chúng tôi từng nghĩ mình đã sẵn sàng, nhưng thực tế thì chưa”, ông Lussiez thừa nhận. “Bệnh viện phải hoạt động hết công suất vì buộc phải tìm giải pháp thay thế trong thời gian rất ngắn”.
Những gì diễn ra tại Paris-Saclay phản ánh thực trạng chung của hệ thống y tế châu Âu trước biến đổi khí hậu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tốc độ nóng lên tại châu Âu đang nhanh gấp đôi mức trung bình toàn cầu. Hôm 30/6, WHO gọi đợt nắng nóng vừa qua là “bản diễn tập” cho những mùa hè khốc liệt hơn trong tương lai, đồng thời cảnh báo các đợt nhiệt cực đoan không còn là hiện tượng hy hữu.
Chính phủ Pháp buộc phải hành động. Tại cuộc họp khẩn ngày 29/6 về khủng hoảng nhiệt, Thủ tướng Sébastien Lecornu công bố gói 100 triệu euro để trang bị hệ thống làm mát cho các bệnh viện ngay trong mùa hè này. Chính phủ đồng thời mua thêm 30.000 máy điều hòa cho các cơ sở y tế, với đợt giao hàng đầu tiên dự kiến ngay trong tuần đầu tháng 7.
Tại Paris-Saclay, máy làm đá đã được đặt hàng. Khoa cấp cứu đang chờ thiết bị về. Ông Lussiez khẩn trương yêu cầu lắp đặt phòng làm mát tại mỗi tầng của khoa tâm thần, lên kế hoạch di dời khoa điều trị bệnh nhân cao tuổi sang cơ sở mới. Ngay sau tuần được ông gọi là “kinh hoàng”, toàn bộ ekip đã bắt tay chuẩn bị cho đợt tiếp theo.
Bác sĩ Gonzales đúc kết bằng một so sánh thực dụng: “Vào mùa đông, chúng tôi biết mình sẽ đối mặt với cúm và Covid-19. Còn bây giờ, vào mùa hè, chúng tôi sẽ phải chiến đấu với khủng hoảng khí hậu”.
Trong một số trường hợp, những cơn đau tưởng chừng rất quen thuộc lại có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường, thậm chí biến chứng do đường huyết cao kéo dài, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Dưới đây là những loại đau thường gặp có thể do ảnh hưởng của tiểu đường.
Nhiều người lớn tuổi thường cảm thấy bàn chân nóng ran hoặc có cảm giác như đang bị kim chích. Vì triệu chứng xuất hiện ở độ tuổi trung niên hoặc cao tuổi nên họ thường cho rằng đây là dấu hiệu của tuần hoàn máu kém hoặc quá trình lão hóa tự nhiên.
Tuy nhiên, loại đau chân này lại là một trong những biểu hiện điển hình của bệnh thần kinh ngoại biên do tiểu đường. Khi lượng đường trong máu tăng cao trong thời gian dài, các dây thần kinh ở bàn chân và cẳng chân sẽ dễ bị tổn thương. Hệ quả là gây cảm giác bỏng rát, đau buốt hoặc tê ngứa. Những triệu chứng này thường rõ hơn vào ban đêm, bác sĩ Khosro Farhad, chuyên gia thần kinh tại bệnh viện Massachusetts General Hospital (Mỹ), cho biết.
Không phải ai bị tổn thương thần kinh cũng cảm thấy đau theo kiểu râm rang, âm ỉ. Một số người lại xuất hiện những cơn đau đột ngột, sắc nhọn như bị kim đâm hoặc điện giật chạy dọc theo chân. Cơn đau có thể xuất hiện bất ngờ, kéo dài vài giây hoặc vài phút rồi biến mất.
Nhiều người dễ nhầm lẫn tình trạng này với đau thần kinh tọa hoặc các vấn đề về cột sống do tuổi tác. Tuy nhiên, tổn thương thần kinh liên quan đến tiểu đường cũng có thể tạo ra cảm giác tương tự. Khi các dây thần kinh truyền tín hiệu bất thường, não bộ sẽ tiếp nhận những tín hiệu đau dù không có chấn thương thực thể nào.
Điểm khác biệt là những cơn đau này có thể xuất hiện ngay cả khi người bệnh đang nghỉ ngơi hoặc nằm ngủ. Nếu triệu chứng lặp đi lặp lại, đặc biệt ở người có nguy cơ mắc tiểu đường, đây có thể là dấu hiệu cần được kiểm tra sớm.
Không ít người lớn tuổi gặp tình trạng chỉ đi bộ một đoạn ngắn đã thấy đau hoặc căng tức ở bắp chân. Họ thường nghĩ đây là hệ quả của tuổi già hoặc do cơ bắp yếu đi theo thời gian.
Tuy nhiên, tiểu đường có thể ảnh hưởng đến cả hệ thần kinh và hệ mạch máu, làm giảm lượng máu cung cấp cho các cơ ở chân. Khi vận động, cơ bắp không nhận đủ ô xy và dưỡng chất nên dễ xuất hiện cảm giác đau, mỏi hoặc chuột rút. Một số người nhận thấy cơn đau giảm đi khi nghỉ ngơi nhưng lại tái xuất hiện khi tiếp tục đi bộ, theo Healthline.
Tại Hội nghị khoa học “Xu hướng mới trong điều trị bệnh tim mạch năm 2026” (NTCC 2026), chủ đề “Ghép tim: Hy vọng cho người bệnh suy tim giai đoạn cuối” thu hút nhiều sự quan tâm, với những cập nhật vai trò của ghép tim trong chiến lược điều trị suy tim hiện đại.
Theo Giáo sư - tiến sĩ - bác sĩ Nguyễn Hoàng Định, Phó giám đốc Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, suy tim giai đoạn cuối được xem là “trạm dừng cuối cùng” của nhiều bệnh lý tim mạch. Đây là giai đoạn mà chức năng tim suy giảm nghiêm trọng, người bệnh đối mặt với nguy cơ tử vong cao nếu không có giải pháp điều trị thay thế phù hợp.
“Ghép tim hiện được xem là tiêu chuẩn vàng và là hy vọng quan trọng giúp kéo dài sự sống cho người bệnh suy tim giai đoạn cuối. Không chỉ giúp người bệnh tồn tại, ghép tim còn mang lại cơ hội để họ quay trở lại sinh hoạt, làm việc và tiếp tục cuộc sống bình thường”, Giáo sư Nguyễn Hoàng Định chia sẻ.
Hiện nay, cách tiếp cận đối với người bệnh suy tim cũng đã có nhiều thay đổi. Thay vì chỉ tập trung điều trị triệu chứng hoặc chờ đến khi người bệnh rơi vào giai đoạn nguy kịch mới xem xét ghép tim, các trung tâm tim mạch hiện nay hướng đến chiến lược theo dõi sát, đánh giá toàn diện và xác định “thời điểm vàng” để can thiệp.
Việc chuẩn bị tâm lý, dinh dưỡng, tối ưu điều trị và kiểm soát các bệnh lý đi kèm trước ghép đóng vai trò quan trọng trong nâng cao tỷ lệ thành công sau ghép tim.
Ngoài kỹ thuật phẫu thuật, thành công của ca ghép tim còn phụ thuộc vào điều phối tạng, hồi sức sau mổ, kiểm soát thải ghép và sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều chuyên khoa.
Từ năm 2024 đến nay, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM đã thực hiện thành công 9 ca ghép tim với kết quả tích cực, trong đó có nhiều trường hợp nguy kịch và những ca ghép tim xuyên Việt đầy thách thức. Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Định, điều này cho thấy kỹ thuật ghép tim tại Việt Nam nói chung và tại bệnh viện nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, tiệm cận trình độ khu vực và quốc tế.
Việc can thiệp đúng thời điểm không chỉ giúp tăng cơ hội sống cho người bệnh mà còn góp phần bảo tồn chức năng của nhiều cơ quan quan trọng như gan, thận, giảm biến chứng hậu phẫu và rút ngắn thời gian hồi phục. Nhiều người bệnh sau ghép tim có thể phục hồi chức năng tim mạch gần như bình thường và quay trở lại cuộc sống thường nhật.
Giáo sư Nguyễn Hoàng Định nhấn mạnh, ghép tim không chỉ là kỹ thuật điều trị chuyên sâu mà còn là sự hồi sinh đối với nhiều người bệnh suy tim giai đoạn cuối. Đồng thời, ông cũng mong muốn cộng đồng có cái nhìn tích cực hơn về việc hiến tạng, bởi mỗi trái tim được trao đi không chỉ mở thêm cơ hội sống cho người bệnh mà còn tiếp tục viết nên những câu chuyện cuộc đời đầy hy vọng.
Mới đây, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (TP.HCM) đã cứu sống bé gái T.B.C.A. (11 tuổi, ngụ An Giang) mắc viêm cơ tim tối cấp, sốc nhiễm trùng và nhiễm trùng huyết do phế cầu khuẩn.
Bé khởi bệnh với các triệu chứng sốt, ho đàm, đau họng, nôn ói, đau bụng trong 4 ngày. Sau khi gia đình tự mua thuốc điều trị nhưng không cải thiện nên nhập viện ở địa phương rồi chuyển đến Bệnh viện Nhi đồng Thành phố.
Lúc này trẻ bị sốc nhiễm trùng nặng, viêm phổi, nhiễm trùng huyết, tổn thương tim, suy tuần hoàn. Kết quả xét nghiệm xác định tác nhân là vi khuẩn phế cầu khuẩn (Pneumococcus).
Gần hai tuần chạy ECMO, chức năng tim dần hồi phục, huyết áp ổn định và bé được cai ECMO.
Tuy nhiên bệnh nhi tiếp tục xuất hiện huyết khối động mạch não và chi dưới trái. Các bác sĩ đã can thiệp lấy huyết khối, kết hợp điều trị chống đông, giúp tái thông mạch máu, cải thiện tưới máu não và chi.
Sau gần một tháng điều trị tích cực, bé A. được cai máy thở, tỉnh táo, nhịp tim trở về bình thường, chức năng gan thận hồi phục hoàn toàn và xuất viện trong tình trạng ổn định.
Tại Bệnh viện Nhi đồng 1 cũng từng tiếp nhận điều trị các trẻ gặp biến chứng viêm màng não, viêm phổi nguy kịch vì phế cầu khuẩn.
Điển hình trường hợp bé 3 tháng tuổi nhập viện vì viêm màng não do phế cầu khuẩn. Dù được điều trị tích cực, tình trạng bệnh diễn tiến rất nặng do vi khuẩn kháng thuốc, để lại di chứng thần kinh nghiêm trọng, trẻ phải sống đời sống thực vật.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, BS.CKII Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, cho biết việc lạm dụng kháng sinh làm gia tăng tình trạng vi khuẩn kháng thuốc trong cộng đồng, trong đó có phế cầu khuẩn.
Khi trẻ nhiễm các chủng vi khuẩn kháng thuốc, việc điều trị sẽ khó khăn hơn, thời gian điều trị có thể kéo dài và phải sử dụng các loại kháng sinh thế hệ cao hoặc phổ rộng hơn, dẫn đến chi phí điều trị tăng lên.
Bác sĩ Trương Hữu Khanh - Phó chủ tịch Liên chi Hội Truyền nhiễm TP.HCM - cũng cho biết một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là tình trạng phế cầu khuẩn kháng thuốc ngày càng nghiêm trọng do việc sử dụng kháng sinh thiếu kiểm soát.
Thực tế, nhiều chủng phế cầu khuẩn có khả năng kháng thuốc, khiến bác sĩ không thể sử dụng các kháng sinh thông thường mà phải phối hợp ít nhất hai loại kháng sinh mạnh. Chi phí điều trị các ca nặng do biến chứng viêm phổi, viêm màng não có thể lên tới hàng chục đến hàng trăm triệu đồng.
“Hiện nay một số loại kháng sinh phổ biến đã không còn phản ứng với bệnh do phế cầu khuẩn, đặc biệt là khi vi khuẩn đã xâm lấn vào màng não hoặc phổi. Khi nghi ngờ nhiễm phế cầu khuẩn, bác sĩ thường phải dùng những loại kháng sinh mạnh", BS Khanh nói thêm.