Họ từng có hai đứa con, rồi mất cả hai trong một tai nạn. Sau nhiều năm gượng dậy, hai vợ chồng dốc toàn bộ tiền tích cóp đi tìm một mụn con khác, dù đã bỏ xa thời kỳ vàng của sinh sản.
“Nửa đời trước mất hai con vì tai nạn, nửa đời sau cược mạng sống để hồi sinh mái ấm”, người vợ nói với Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Bưu điện.
Ca bệnh này ám ảnh bác sĩ Hà. Ở tuổi tiền mãn kinh, dự trữ buồng trứng của người vợ gần cạn kiệt, chất lượng trứng kém. Người chồng ngoài 60 mang nhiều bệnh nền, sức khỏe khó gánh nổi hành trình nuôi con dài đằng đẵng. Một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) ở độ tuổi này chỉ cho tỷ lệ thành công khoảng 5%, kèm hàng loạt rủi ro rình rập suốt thai kỳ.
“Chúng tôi phân tích rất kỹ và khuyên hai vợ chồng về nhà suy nghĩ lại. Nếu gia đình vẫn quyết tâm, bệnh viện mới cùng phối hợp tìm giải pháp”, bác sĩ Hà kể.
Những cặp vợ chồng như thế không hiếm và không phải ai cũng chạm tay vào phép màu. Chị Trần Thị Kim Phấn, 53 tuổi, ở Hà Nội, kết hôn năm 2002. Lần đầu mang thai, chị bị lưu. Sau đó là chuỗi ngày hiếm muộn kéo dài. Người phụ nữ chuyển sang thụ tinh nhân tạo, nhưng cứ đậu thai được một hai tháng lại hỏng. Đầu năm 2018, chị mang thai đôi, giữ được đến tháng thứ 4 thì đau bụng dữ dội, chảy máu và mất con.
“Nỗi đau mất con liên tiếp khi chưa thành hình khiến tôi gần như không còn động lực sống”, chị nói.
Tháng 10/2019, bác sĩ chuyển hai phôi, một phôi đậu thai. Người mẹ ngoài 50 đối mặt với tăng huyết áp nghiêm trọng suốt thai kỳ. Đến tuần 35, bác sĩ chỉ định mổ cấp cứu để cứu cả mẹ lẫn con. Ngày 28/6/2020, tiếng khóc của bé gái vang lên trong phòng mổ.
“Lúc nghe con khóc, vết thương lòng trong tôi như được vá lại”, chị nói. Anh Đức, chồng chị, nay 59 tuổi, mãn nguyện sau gần 17 năm tìm con và 10 lần chuyển phôi thất bại.
Chị Phấn thuộc số ít may mắn. Với đa số phụ nữ tiền mãn kinh, mang thai giống một canh bạc mà phần thua luôn nghiêng về người mẹ và đứa trẻ.
Tuổi tác đẩy mọi rủi ro lên cao. Sinh con đầu lòng sau 35 tuổi, người phụ nữ dễ mắc cao huyết áp, tiền sản giật, tiểu đường thai kỳ. Mẹ càng lớn tuổi, con càng dễ dị tật bẩm sinh và chậm phát triển thần kinh vận động. Số liệu Bộ Y tế cho thấy mẹ 25 tuổi sinh con mắc hội chứng Down với tỷ lệ 1/1.250, con số này tăng lên 1/952 ở tuổi 30, 1/378 ở tuổi 35 và vọt lên 1/30 với mẹ trên 45. Tỷ lệ sinh mổ cũng nhảy từ 30% ở tuổi 20 lên 43% ở tuổi 35.
Bác sĩ Phan Chí Thành, Khoa Nam học và Y học giới tính, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, chỉ ra gốc rễ vấn đề. Trứng người mẹ lớn tuổi chất lượng thấp, nội tiết tố dao động, tử cung thay đổi, khiến nguy cơ sảy và bất thường nhiễm sắc thể tăng cao. Phụ nữ lớn tuổi còn mang sẵn bệnh tim mạch, tăng huyết áp, mỡ máu, đái tháo đường, những yếu tố kéo theo tiền sản giật, đe dọa trực tiếp tính mạng cả mẹ lẫn con. “Quá trình mang thai làm bệnh nền trầm trọng thêm, biến chứng thai kỳ vì thế cũng nhiều hơn”, ông nói.
Việt Nam hiện có khoảng 1,2 triệu trẻ khuyết tật trong độ tuổi 0-17, chiếm 3,1%, phổ biến nhất là khuyết tật vận động và ngôn ngữ. Khuyết tật bẩm sinh chiếm 55-65% nguyên nhân. Bộ Y tế xếp mẹ trên 35 và bố ngoài 45 tuổi vào nhóm yếu tố dẫn tới khuyết tật bẩm sinh ở trẻ.
Áp lực về một “gia đình trọn vẹn” đôi khi đẩy các cặp vợ chồng lớn tuổi vào quyết định sai lầm. Nhiều người sập bẫy cơ sở y tế chui, tin vào những bài thuốc Đông y “thần dược” quảng cáo trên mạng xã hội với lời hứa sinh con tuổi xế chiều, để rồi tiền mất tật mang, thậm chí nguy hiểm tính mạng.
Bác sĩ Đồng Thu Trang, Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội, khẳng định sinh con là quyền và khát khao chính đáng của mỗi phụ nữ, nhưng phải đi kèm điều kiện “làm mẹ an toàn và sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh”. Bà khuyên phụ nữ hoàn thành việc sinh nở trước tuổi 35.
Trong giai đoạn tiền mãn kinh và 12 tháng sau khi kinh nguyệt chấm dứt hẳn, phụ nữ vẫn cần dùng bao cao su, đặt vòng hoặc uống thuốc theo chỉ định để tránh mang thai ngoài ý muốn. Nếu đã mang thai, thai phụ phải tuân thủ nghiêm lộ trình sàng lọc dị tật và theo dõi sát cùng bác sĩ sản khoa giàu kinh nghiệm để kịp ứng phó tai biến.
Khi chọn IVF ở tuổi muộn, các gia đình cần chuẩn bị cả kinh tế lẫn tâm lý đối diện tỷ lệ thất bại cao. “Lắng nghe cơ thể và tôn trọng khuyến cáo khoa học mới là cách bảo vệ hạnh phúc gia đình, thay vì đánh cược tính mạng vào những hy vọng mong manh tuổi xế chiều”, bác sĩ Thành nói.
Ngày 29.4, tin từ Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long cho biết, các bác sĩ của bệnh viện vừa điều trị thành công một trường hợp chấn thương cột sống nặng do tai nạn lao động ngã từ giàn giáo.
Trước đó, nam bệnh nhân T.H.H (39 tuổi, ở xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long) nhập viện do ngã từ giàn giáo cao khoảng 1,7 m trong lúc lao động. Bệnh nhân đau lưng nhiều, đau vùng háng trái, vận động hạn chế kèm tình trạng tê vùng mông, yếu 2 chi dưới và tiêu tiểu không tự chủ.
Tại thời điểm thăm khám, bác sĩ ghi nhận sức cơ 2 chân giảm còn 1 - 2/5, nghi ngờ tổn thương thần kinh nặng vùng cột sống thắt lưng - cùng. Bệnh nhân được chỉ định thực hiện các cận lâm sàng khẩn cấp để đánh giá toàn diện tình trạng chấn thương.
Kết quả chụp MRI cột sống thắt lưng ghi nhận xẹp đốt sống L1, mảnh gãy phía sau thân sống di lệch ra sau chèn ép bao màng cứng, gây hẹp nặng ống sống với đường kính trước sau chỉ còn khoảng 6 mm. Đồng thời, X-quang khung chậu thẳng và CT vùng hông đùi trái ghi nhận hình ảnh theo dõi hoại tử chỏm xương đùi trái.
Nhận định đây là trường hợp cấp cứu ngoại khoa có nguy cơ để lại di chứng liệt và rối loạn cơ tròn nếu chậm trễ điều trị, các bác sĩ Khoa Ngoại Thần kinh, Ngoại Chấn thương và Ngoại Tổng quát nhanh chóng hội chẩn liên chuyên khoa. Bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng chùm đuôi ngựa do xẹp đốt sống L1 chèn ép thần kinh và được chỉ định phẫu thuật cấp cứu giải ép ống sống.
Trong quá trình phẫu thuật, ê kíp đã giải ép rộng ống sống, lấy bỏ mảnh xương chèn ép, xử trí tổn thương màng tủy và phục hồi giải phẫu vùng tổn thương nhằm bảo tồn tối đa chức năng vận động cho người bệnh.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân hồi phục tốt. Đến ngày thứ 5, bệnh nhân tỉnh táo, sinh hiệu ổn định, vết mổ khô, lành tốt, sức cơ 2 chi dưới cải thiện lên 4/5, có thể ngồi dậy và tập đi lại với hỗ trợ. Dự kiến, bệnh nhân sẽ được xuất viện vào ngày thứ 7 sau phẫu thuật và tiếp tục chương trình phục hồi chức năng.
Thạc sĩ - bác sĩ Trầm Quốc Thuần, Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long, cho biết hội chứng chùm đuôi ngựa là tình trạng cấp cứu thần kinh cần được chẩn đoán sớm và can thiệp kịp thời. Nếu trì hoãn điều trị, người bệnh có thể đối mặt với nguy cơ yếu liệt 2 chân, rối loạn tiểu tiện kéo dài và giảm chất lượng cuộc sống. Với trường hợp này, việc phẫu thuật đúng thời điểm đã góp phần quan trọng trong quá trình hồi phục của bệnh nhân.
Các bác sĩ khuyến cáo người dân, đặc biệt là lao động trong lĩnh vực xây dựng và làm việc trên cao, cần tuân thủ nghiêm các quy định an toàn lao động, sử dụng đầy đủ thiết bị bảo hộ để hạn chế nguy cơ tai nạn lao động đáng tiếc.
Bệnh nhân được đưa vào Bệnh viện Từ Dũ cơ sở 2 tại Cần Giờ cấp cứu tối 14/6 trong tình trạng lơ mơ, kích động, huyết áp tụt còn 90/70 mmHg, mạch nhanh, có dấu hiệu sốc chấn thương nặng sau tai nạn giao thông. Chẩn đoán hình ảnh ghi nhận nhiều dịch quanh gan và lách bệnh nhân nghi xuất huyết trong ổ bụng, gãy xương đòn phải.
Cần Giờ cách trung tâm thành phố hơn 80 km, mất hơn một giờ đi ôtô. Trong khi đó tình trạng bệnh nhân không cho phép vận chuyển đi xa. Các bác sĩ kích hoạt hội chẩn từ xa, chỉ định mổ khẩn ngay tại Cần Giờ. Kíp ngoại khoa của Bệnh viện Lê Văn Thịnh gồm TS.BS Hoàng Đình Tuy, BS Ngô Thành Trung và BS Phan Điền Mạnh Nguyên lên đường đến Cần Giờ để phối hợp với các bác sĩ tại cơ sở 2 Bệnh viện Từ Dũ phẫu thuật.
Ca mổ bắt đầu lúc 22h40 ngày 14/6 và kết thúc lúc 1h15 sáng hôm sau. Các bác sĩ xác định bệnh nhân bị chảy máu ổ bụng do vỡ gan độ 3, tổn thương túi mật trên nền chấn thương bụng kín. Nhờ được chẩn đoán sớm, hồi sức tích cực và phẫu thuật kịp thời ngay tại chỗ, bệnh nhân qua cơn nguy kịch mà không cần chuyển đến các bệnh viện tuyến cuối trong nội thành.
Giám đốc Sở Y tế TP HCM Tăng Chí Thượng cho biết trước đây những trường hợp tương tự thường phải chuyển viện vào trung tâm thành phố, làm kéo dài thời gian xử trí và tăng nguy cơ mất "thời gian vàng" cấp cứu. Hiện, với cơ chế hội chẩn từ xa và điều động chuyên gia hỗ trợ khi cần thiết, nhiều ca bệnh nặng tại khu vực cửa ngõ có thể được xử trí ngay tại địa phương.
Cần Giờ là khu vực ven biển, việc tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao còn nhiều hạn chế trong khi địa phương đang phát triển mạnh kinh tế biển, du lịch và cảng biển. Hoạt động từ tháng 11 năm ngoái với quy mô 300 giường, cơ sở 2 Bệnh viện Từ Dũ đáp ứng nhu cầu khám chữa thường quy và xử trí các ca cấp cứu nặng, rút ngắn thời gian điều trị tại chỗ cho người dân.
Nhiều người có thói quen cho trực tiếp cơm thừa vào ngăn mát tủ lạnh nhưng các chuyên gia cảnh báo hành động này có thể tiềm ẩn rủi ro về an toàn thực phẩm. Bác sĩ Yên Tông Hải, Giám đốc Trung tâm Độc chất lâm sàng tại Bệnh viện Trường Canh (Đài Loan), cho hay vi khuẩn Bacillus cereus từng gây ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn tại các trường học. Hầu hết trường hợp này đều liên quan đến việc bảo quản không đúng cách các loại thực phẩm chứa tinh bột như cơm và các suất cơm hộp. Điểm mấu chốt không nằm ở việc chọn ngăn mát hay ngăn đá, mà là thời điểm đưa cơm vào tủ lạnh.
Trước những ý kiến nói không nên để cơm trắng trong ngăn mát, nhiều chuyên gia trong ngành gạo cho rằng cách tối ưu để xử lý cơm thừa là cho vào hộp kín và bảo quản trên ngăn đá. Họ giải thích nhiệt độ ngăn mát thường không đủ lạnh để bảo quản cơm hoàn hảo, khiến hạt cơm dễ bị ám mùi thực phẩm và mất đi độ ẩm bề mặt, dẫn đến kết cấu khô cứng, kém ngon. Cách làm lý tưởng là chia nhỏ cơm vào các hộp chuyên dụng và đưa vào ngăn đá ngay khi cơm còn tươi ngon.
Lò vi sóng là cách tốt nhất để giúp cơm đông lạnh lấy lại độ dẻo ngon như lúc mới nấu. Khi sử dụng cách này, cơm không cần phải rã đông trước; chỉ cần xịt một chút nước lên bề mặt rồi quay ở mức công suất 500W trong khoảng 3 phút 30 giây. Ngoài ra, việc sử dụng nồi cơm điện để hấp lại cơm trong khoảng 15 đến 20 phút cũng là một lựa chọn phù hợp.
Theo bác sĩ Yên, việc chỉ đơn thuần bỏ đồ ăn vào ngăn đá không giúp thực phẩm an toàn hơn một cách tuyệt đối. Mấu chốt nằm ở cách lưu trữ, nghĩa là thực phẩm sau khi nấu chín cần được đưa vào tủ lạnh càng sớm càng tốt. Nếu cơm trắng bị để ở nhiệt độ phòng suốt nhiều giờ mới mang đi cất, có thể vi khuẩn Bacillus cereus đã kịp sinh sôi và tiết ra độc tố. Khi đó, dù ngày hôm sau có mang cơm đi hấp lại, hâm nóng hay rang lên thì nhiệt độ cao cũng không thể tiêu diệt được những độc tố gây hại này.
Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Bacillus cereus được chia làm hai dạng chính. Dựa trên các tài liệu giáo dục sức khỏe của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Đài Loan, loại ngộ độc này gồm dạng gây nôn và gây tiêu chảy. Trong đó, dạng gây nôn chủ yếu liên quan đến thực phẩm chứa tinh bột và các món làm từ gạo.
Người bệnh thường có triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, đau bụng và các cảm giác khó chịu khác. Thời gian ủ bệnh khá ngắn, các triệu chứng thường xuất hiện chỉ sau khoảng 30 phút đến 6 giờ. Tại Đài Loan, hầu hết vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn liên quan đến suất ăn trường học trước đây đều bắt nguồn từ việc bảo quản cơm không đúng cách, dẫn đến sự xâm nhập của vi khuẩn Bacillus cereus.
Dạng ngộ độc gây tiêu chảy thường bắt nguồn từ nguồn thực phẩm đa dạng hơn. Bác sĩ cho biết khác với dạng gây nôn, loại ngộ độc do vi khuẩn Bacillus cereus dẫn đến tiêu chảy có thời gian ủ bệnh tương đối dài. Các loại thực phẩm dễ kích hoạt triệu chứng tiêu chảy rất phong phú, từ xúc xích, các loại nước sốt, nước dùng đến mứt, salad và bánh pudding.
Bác sĩ Yên nhấn mạnh một số độc tố do vi khuẩn Bacillus cereus tiết ra có khả năng chịu nhiệt cực tốt, và đây cũng chính là nguồn gốc của "hội chứng cơm rang". Loại độc tố gây nôn bền bỉ đến mức một khi cơm đã bị nhiễm khuẩn, dù có mang đi hâm nóng hay rang lại ở nhiệt độ cao, độc tố vẫn tồn tại mà không bị phá hủy.
Ông giải thích thêm nhiệt độ trong ngăn mát tủ lạnh thường duy trì ở mức 4 độ C. Mức nhiệt này chỉ có tác dụng ức chế sự phát triển của vi sinh vật chứ không thể tiêu diệt được vi khuẩn. Nếu cơm đã nhiễm độc tố gây nôn của vi khuẩn Bacillus cereus, loại độc tố này sẽ trở nên cực kỳ "lì lợm" và không thể bị loại bỏ bằng các phương pháp hâm nóng thông thường.
Theo bác sĩ Yên, trong y học có một khái niệm gọi là "vùng nhiệt độ nguy hiểm", cụ thể là từ 7 độ C đến 60 độ C. Hầu hết loại vi sinh vật gồm tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), vi khuẩn E. coli, Bacillus cereus và Salmonella, đều có thể dễ dàng sinh sôi và nhân bản nhanh chóng trong khung nhiệt độ này.
Nhiệt độ trung bình trong nhà thường rơi vào khoảng 20 độ C, hoàn toàn nằm trong vùng nhiệt độ nguy hiểm trên. Vì vậy, lý tưởng nhất là cất cơm vào tủ lạnh trong vòng một giờ vào mùa hè và hai giờ vào mùa đông. Việc duy trì nhiệt độ tủ lạnh ở mức khoảng 4 độ C sẽ giúp thực phẩm tránh được vùng nguy hiểm, từ đó giảm đáng kể nguy cơ nhiễm khuẩn Bacillus cereus.