Rời quân ngũ với thương tật còn mang trong người và cuộc sống nhiều khó khăn, cựu chiến binh Nguyễn Hữu Dinh (SN 1957, xóm Nam Lạc, xã Kim Liên, Nghệ An) không chấp nhận an phận. Ở tuổi gần 70, cựu chiến binh Nguyễn Hữu Dinh vẫn đều đặn có mặt bên ao ốc từ sáng sớm. Với ông, việc chăm sóc đàn ốc đã trở thành thói quen suốt nhiều năm qua.
Năm 1975, khi vừa tròn 18 tuổi, ông Dinh tình nguyện nhập ngũ và tham gia chiến đấu tại nước bạn Lào. Trong một trận chiến, ông bị mảnh đạn pháo găm vào người và hiện tại trở thành thương binh hạng 4. Sau hơn 12 năm phục vụ trong quân đội, năm 1985 ông chuyển ngành khi mang quân hàm Thượng úy, đến năm 2002 thì nghỉ hưu và năm 2006 trở về quê hương Kim Liên sinh sống.
Những ngày đầu trở về, cuộc sống gia đình còn nhiều khó khăn. Mảnh đất của ông bà để lại từng được canh tác lúa rồi chuyển sang trồng sen nhưng đều không mang lại hiệu quả do sâu bệnh và nguồn nước ô nhiễm. Vì thế, ông Dinh quyết định sẽ tìm hướng đi mới. “Thời điểm đó tôi luôn trăn trở phải tìm một hướng đi mới phù hợp với điều kiện kinh tế và sức khỏe của mình”, ông Dinh nhớ lại.
Qua quá trình tìm hiểu trên internet, ông phát hiện ra mô hình nuôi ốc bươu đen rồi tìm tòi, đào sâu vào nghiên cứu. Nhận thấy mô hình có nhiều ưu điểm như vốn đầu tư không lớn, thức ăn dễ kiếm, đầu ra ổn định và phù hợp với điều kiện địa phương, ông quyết định ra Hải Dương để học hỏi kinh nghiệm thực tế.
Năm 2019, ông bắt đầu thử nghiệm nuôi 10.000 con giống, mua từ huyện Yên Thành (cũ) với số tiền khoảng 5 triệu đồng. Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm kỹ thuật, đàn ốc bị nhiễm khuẩn, chết tới 9.000 con. “Nhìn ốc chết hàng loạt cũng xót lắm, nhưng mình là lính Cụ Hồ thì không thể bỏ cuộc. Thua keo này, ta bày keo khác”, ông Dinh nói.
Từ 1.000 con còn lại, ông tiếp tục chăm sóc, đồng thời miệt mài học cách đo độ pH, quản lý nguồn nước, chọn giống, phòng bệnh. Có những thời điểm, ông đều quanh quẩn ở ao kiểm tra đàn ốc để kịp thời xử lý nếu có bất thường.
“Tinh thần học hỏi, làm việc của tôi có được là nhờ rèn luyện trong môi trường quân ngũ. Làm việc gì cũng phải nghiêm túc, kiên trì và không ngại khó thì mới thành công được”, ông chia sẻ.
Theo ông Dinh, yếu tố quan trọng nhất khi nuôi ốc bươu đen là nguồn nước phải luôn sạch, con giống phải khỏe và nguồn thức ăn phù hợp.
Gia đình ông tận dụng diện tích đất vườn sát ao để trồng mướp, bí, bầu cùng nhiều loại rau xanh làm thức ăn cho ốc. Nhờ vậy, suốt nhiều năm qua ông gần như không phải mua thức ăn công nghiệp, vừa tiết kiệm chi phí vừa đảm bảo môi trường nuôi an toàn.
“Tất cả đều làm thủ công, không cần máy móc. Ngoài thức ăn thì mình phải thường xuyên theo dõi chất lượng nước, nếu nước bẩn phải thay ngay, định kỳ sử dụng men vi sinh và vôi để xử lý môi trường sống cho ốc”, ông cho biết.
Ốc bươu đen sau khoảng 4 tháng có thể xuất bán thương phẩm, từ 5 tháng bắt đầu sinh sản. Bình quân mỗi năm gia đình ông thu khoảng 2 tấn ốc thương phẩm, mang về doanh thu khoảng 200 triệu đồng.
Ngoài bán ốc thịt, ông còn cung cấp con giống cho nhiều hộ dân. Mỗi ngày có từ 15 đến 20kg ốc được các thương lái, nhà hàng và quán ăn đến thu mua với giá bán sỉ khoảng 80.000 đồng/kg.
Hiện mô hình mang lại nguồn thu bình quân khoảng 15 triệu đồng mỗi tháng, gần 200 triệu đồng mỗi năm.
Không chỉ làm kinh tế tốt, cựu chiến binh Nguyễn Hữu Dinh còn sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với những người có nhu cầu. Đến nay, ông đã hướng dẫn thành công khoảng 10 hộ dân phát triển mô hình nuôi ốc bươu đen, trong đó có nhiều cựu chiến binh khác. “Bất kỳ ai muốn học kỹ thuật thì tôi luôn sẵn sàng hướng dẫn. Chỉ mong bà con làm được để cùng phát triển kinh tế”, ông nói.
Theo ông Chu Văn Cải, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Kim Liên, cho biết, ông Nguyễn Hữu Dinh được hội viên và bà con trong xóm quý mến bởi sự cần cù, trách nhiệm và tinh thần không ngại khó. Từng là người lính trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Lào, ông vẫn giữ được tác phong của Bộ đội Cụ Hồ khi đã trở về đời thường.
“Từ phát triển kinh tế gia đình đến tham gia công tác hội với cương vị Chi hội phó Chi hội Cựu chiến binh xóm Nam Lạc, ông đều làm bằng tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm. Chính vì thế, ông Dinh cũng nhiều lần được địa phương tuyên dương vì những đóng góp tích cực trong phong trào cựu chiến binh cũng như phát triển kinh tế”, ông Cải nói.
Trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Tp.Huế trở thành đô thị trực thuộc Trung ương trên nền tảng di sản, văn hóa, sinh thái và thông minh, việc Tp.Huế đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án phát triển kinh tế - xã hội vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một bước đi có ý nghĩa chiến lược đặc biệt. Đây không chỉ là một chương trình phát triển kinh tế - xã hội đơn thuần, mà còn là sự định vị lại vai trò của một không gian địa lý – sinh thái – văn hóa độc đáo bậc nhất Việt Nam trên bản đồ phát triển quốc gia và quốc tế.
Với diện tích mặt nước rộng hơn 22.000 héc ta, lớn nhất Đông Nam Á, hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai từ lâu đã được nhìn nhận như một "kho báu sinh thái" của miền Trung. Nhưng hơn thế, đó còn là một không gian văn hóa – lịch sử dày đặc, nơi thiên nhiên và con người đã cùng nhau kiến tạo nên một hệ giá trị đặc sắc qua hàng trăm năm. Hiện khu vực này có diện tích khoảng hơn 1300km2 (27% diện tích Tp.Huế), dân số trên 452.000 người, thuộc địa bàn 16/20 phường xã của Tp.Huế.
Vùng đầm phá này hiện sở hữu một hệ thống di sản và cảnh quan hết sức phong phú với 151 di tích đã được xếp hạng và kiểm kê, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt là Trấn Hải thành và chùa Thánh Duyên; 18 di tích cấp quốc gia và 36 di tích cấp thành phố. Đặc biệt, trong "Thần Kinh nhị thập cảnh" do vua Thiệu Trị tuyển chọn, một bảng xếp hạng danh thắng tiêu biểu của kinh đô Huế thế kỷ XIX, khu vực đầm phá đã có tới 3 danh thắng được vinh danh, gồm cửa biển Thuận An, đầm Hà Trung và núi Thúy Vân – chùa Thánh Duyên. Điều đó cho thấy, từ rất sớm, không gian đầm phá đã được nhìn nhận như một phần không thể tách rời của cảnh quan văn hóa Huế.
Không chỉ dừng lại ở di sản vật thể, vùng Tam Giang – Cầu Hai còn là nơi lưu giữ một kho tàng di sản phi vật thể phong phú, tiêu biểu như lễ Cầu ngư làng Thai Dương với lịch sử hơn 500 năm, một nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng biển, phản ánh mối quan hệ sâu sắc giữa con người và đại dương. Cùng với đó là hệ thống tri thức dân gian về con nước, mùa gió, nghề cá, ẩm thực và các hình thức sinh hoạt cộng đồng đặc sắc, tất cả tạo nên một "di sản sống" hiếm có.
Chính vì vậy, cách tiếp cận phát triển vùng đầm phá không thể chỉ dừng lại ở các yếu tố kinh tế hay môi trường, mà cần đặt văn hóa vào vị trí trung tâm, như một "hệ điều hành mềm" chi phối toàn bộ quá trình phát triển.
Nhìn tổng thể, kế hoạch đã thể hiện một tầm nhìn bao quát và phù hợp với các định hướng lớn của Trung ương. Việc xác định mục tiêu xây dựng đầm phá trở thành "Công viên đầm phá Quốc gia", tiến tới khu dự trữ sinh quyển có tầm quan trọng quốc tế là một định hướng đúng đắn, thể hiện tư duy phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo tồn và khai thác. Đặc biệt, việc lựa chọn du lịch – dịch vụ – kinh tế biển làm động lực tăng trưởng cũng phù hợp với lợi thế so sánh của vùng.
Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ ngành văn hóa – thể thao, có thể thấy một khoảng trống rất cần được bổ sung: Văn hóa tuy đã được đề cập, nhưng chưa thực sự được đặt vào đúng vai trò nền tảng và động lực phát triển. Các nội dung liên quan đến văn hóa hiện vẫn phân tán trong các nhóm giải pháp về xã hội, du lịch hay môi trường, thiếu một cấu trúc tổng thể mang tính hệ thống. Nói cách khác, văn hóa mới dừng lại ở mức "thành tố hỗ trợ", chứ chưa trở thành "trục xuyên suốt" của toàn bộ đề án.
Trao đổi với PV, ông Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hoá và Thể thao Tp.Huế cho biết, một trong những nội dung quan trọng khác là cần có một chương trình tổng thể về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của vùng. Những giá trị như lễ hội cầu ngư, tín ngưỡng thờ cá Ông, văn hóa ẩm thực đầm phá hay các nghề truyền thống gắn với mặt nước cần được tích hợp thành các sản phẩm cụ thể. Điều này không chỉ làm tăng chiều sâu văn hóa của du lịch, mà còn khiến vùng đầm phá mới có thể trở thành một không gian "đẹp và có hồn".
Theo ông Hải, cùng với đó, việc phát triển các sản phẩm văn hóa – du lịch đặc thù cần phải được quan tâm nhấn mạnh, vì đây chính là lợi thế cạnh tranh lớn nhất của vùng. Một tour trải nghiệm đời sống ngư dân, một không gian ẩm thực đầm phá với những món ngon hiếm có được nâng tầm, hay một chương trình biểu diễn thực cảnh trên mặt nước, nếu được đầu tư bài bản, hoàn toàn có thể trở thành những sản phẩm mang tính biểu tượng, góp phần định vị thương hiệu Huế trên bản đồ du lịch quốc tế.
"Quan trọng hơn cả, cần khẳng định vai trò của người dân địa phương như là chủ thể của văn hóa. Mọi chiến lược phát triển, nếu không đặt cộng đồng vào trung tâm, sẽ khó có thể bền vững. Người dân đầm phá không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà phải là người tham gia, sáng tạo và hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng để kế hoạch thực sự phát huy hiệu quả, cần bổ sung một cách tiếp cận mang tính hệ thống hơn về văn hóa. Trước hết, cần xây dựng một "Đề án hệ sinh thái văn hóa đầm phá Tam Giang – Cầu Hai", trong đó tiến hành bản đồ hóa toàn bộ tài nguyên di sản, từ Trấn Hải thành, tháp Chăm Phú Diên, chùa Hà Trung, chùa Thánh Duyên… cho đến các không gian lễ hội và sinh kế cộng đồng, để tạo nền tảng cho phát triển", ông Hải nhấn mạnh.
Cũng theo ông Hải, song song với đó, việc gắn kết vùng đầm phá với các chương trình lớn của Huế như Festival bốn mùa, phát triển công nghiệp văn hóa hay kinh tế đêm sẽ mở ra những không gian sáng tạo mới. Khi đó, đầm phá không chỉ là nơi "đến để ngắm", mà còn là nơi "đến để sống, để trải nghiệm và để hiểu".
Ngày 8-9/7, ghi nhận của phóng viên tại một số cơ sở tái chế bao bì quy mô lớn tại các thôn Thái Lai, Thái Yên, xã Tân Ninh, Thanh Hóa cho thấy những khu vực từng là "điểm nóng" tái chế bao bì nay vắng lặng. Nhiều xưởng vắng bóng người, máy móc ngừng hoạt động, các bãi tập kết nguyên liệu không còn cảnh xe ra vào tấp nập như trước.
"Mấy năm nay, người dân phải sống chung với khói bụi, mùi hôi và nước thải từ các cơ sở tái chế. Chúng tôi phản ánh nhiều lần nhưng chỉ vài tháng gần đây khi chính quyền vào cuộc, họ mới ngừng hoạt động", một người dân sống gần khu vực sản xuất cho biết.
Xã Tân Ninh từ lâu được biết đến là nơi có nhiều hộ làm nghề tái chế bao bì. Ban đầu chỉ là hoạt động thu gom nhỏ lẻ, sau đó nhiều hộ đầu tư máy móc, thuê nhân công, mở rộng sản xuất, tạo nguồn thu nhập cho hàng chục gia đình. Đa phần các cơ sở đều tự phát, hoạt động không phép.
Nguồn nguyên liệu chủ yếu là bao bì xi măng và các loại bao bì sản phẩm được thu gom từ nhiều địa phương. Sau khi tập kết, bao bì được đưa vào máy giặt, tách phần nhựa để sản xuất hạt nhựa, còn lớp giấy được ép thành bìa tái chế. Quá trình sản xuất phát sinh lượng lớn chất thải.
Theo ghi nhận của phóng viên vào tháng 1/2026, thời điểm các cơ sở còn hoạt động rầm rộ, nước thải từ khâu rửa và ép bao bì được xả trực tiếp ra sông, suối và mương tiêu mà không qua xử lý. Khói từ việc đốt chất thải bốc lên nghi ngút, gây bức xúc cho người dân trong khu vực.
Trao đổi với Người Đưa Tin ngày 9/7, ông Trần Quốc Quảng, Trưởng phòng Kinh tế xã Tân Ninh, cho biết, có 17 cơ sở hoạt động tái chế bao bì trên địa bàn xã, chủ yếu ở các thôn Thái Lai, Thái Yên. Chính quyền đã lập đoàn kiểm tra một loạt đối các cơ sở này.
"Qua kiểm tra, các cơ sở chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh, bảo vệ môi trường; tình trạng thu mua, tập kết phế liệu tràn lan, xả thải không qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường không khí, nguồn nước, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân xung quanh", đại diện UBND xã Tân Ninh nêu rõ.
Theo ông Quảng, xã đã mời các chủ cơ sở lên làm việc, yêu cầu các hộ rà soát điều kiện về đất đai, môi trường. Cơ sở nào đáp ứng đầy đủ quy định thì được xem xét tiếp tục hoạt động, còn không phải dừng hoặc chuyển đổi ngành nghề. Đến nay, 100% các cơ sở đang dừng hoạt động.
Theo đại diện UBND xã Tân Ninh, cơ quan công an cũng đã phối hợp với chính quyền địa phương rà soát, kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn.
Ngày 30/6, Công an tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Gây ô nhiễm môi trường đối với 3 chủ cơ sở tái chế bao bì trên địa bàn xã.
Cụ thể, khởi tố bị can đối với Lê Đồng Thành (48 tuổi, trú xã Tân Ninh) về tội: Gây ô nhiễm môi trường quy định tại khoản 1 Điều 235 Bộ luật Hình sự. Trong thời gian từ năm 2023 đến năm 2026, Thành đã đầu tư, xây dựng, vận hành cơ sở giặt bao bì trên khu đất nông nghiệp thuộc thôn Cổ Định, xã Tân Ninh.
Quá trình hoạt động cơ sở giặt bao bì không có hồ sơ pháp lý, không có giấy phép môi trường, không có công trình bảo vệ môi trường và xử lý chất thải theo quy định, cơ sở đã đổ trái phép chất thải rắn là bùn thải phát sinh từ quá trình giặt bao bì, chất thải là bao bì nhiễm bẩn chưa được phân loại ra môi trường (khu vực đất trống quanh nhà xưởng) với tổng khối lượng là 147.635 kg.
Khởi tố bị can đối với Trịnh Trọng Dũng (46 tuổi, trú xã Triệu Sơn) về tội: Gây ô nhiễm môi trường quy định tại khoản 1 Điều 235 Bộ luật Hình sự. Từ năm 2023 đến tháng 5/2026, trong quá trình vận hành xưởng sản xuất hạt nhựa tại thôn Cổ Định, Trịnh Trọng Dũng đã thải trái phép ra môi trường 192.125kg chất thải rắn thông thường.
Khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Trình (47 tuổi, trú phường Võ Cường, tỉnh Bắc Ninh) về tội: Gây ô nhiễm môi trường quy định tại khoản 2 Điều 235 Bộ luật Hình sự.
Từ năm 2022 đến tháng 5/2026, Nguyễn Văn Trình có hành vi đổ chất thải rắn thông thường trái phép ra môi trường với khối lượng 240.286kg.
Việc kiểm tra, xử lý các cơ sở tại Tân Ninh cũng nằm trong lộ trình xử lý các điểm sản xuất gây ô nhiễm trên địa bàn tỉnh.
Theo Đề án di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi đô thị, khu dân cư đến năm 2030 được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt tháng 4/2024, giai đoạn 2026-2027 tỉnh sẽ di dời, chuyển đổi ngành nghề hoặc buộc dừng hoạt động đối với các cơ sở gây ô nhiễm, không phù hợp quy hoạch hoặc không đáp ứng khoảng cách an toàn môi trường.
Thống kê của tỉnh cho thấy hiện có 826 cơ sở sản xuất, kinh doanh nằm trong khu dân cư hoặc đô thị có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Trong đó có 75 cơ sở thu mua phế liệu, tái chế và giặt bao bì.
Những video cổ súy thân hình gầy trơ xương, eo bé như tờ giấy, xương quai xanh càng lộ càng quyến rũ đang gây tranh cãi dữ dội vì bị cảnh báo là cánh cửa dẫn tới rối loạn ăn uống và ám ảnh ngoại hình.
Chỉ cần gõ từ khóa #SkinnyTok trên TikTok trong suốt thời gian qua, người dùng dễ dàng bị cuốn vào hàng chục nghìn video khoe thân hình mỏng dính, xương quai xanh hằn sâu, vòng eo bé đến mức tưởng chỉ còn da bọc xương. Nhiều clip không ngần ngại đưa ra những câu khẩu hiệu như: "Càng đói càng đẹp", "Đừng ăn nếu chưa đủ gầy", "Lộ xương quai xanh mới là đỉnh cao quyến rũ".
Từ một hashtag tưởng như chỉ chia sẻ bí quyết giảm cân, SkinnyTok nhanh chóng biến thành "thánh địa" mới của những người tôn sùng chuẩn thân hình siêu gầy. Ở đó, việc ăn cực ít, bỏ bữa, cắt sạch tinh bột, uống nước để át cơn đói hay tập luyện đến kiệt sức được mô tả như con đường ngắn nhất để trở nên hấp dẫn hơn.
Theo Healthline, làn sóng này nguy hiểm tới mức TikTok đã phải chặn hashtag #SkinnyTok sau khi chịu sức ép từ các cơ quan quản lý châu Âu vì nội dung cổ súy giảm cân cực đoan và hành vi ăn uống rối loạn. Tuy nhiên, việc xóa hashtag không khiến cơn sốt biến mất. Hàng loạt video tương tự vẫn tiếp tục xuất hiện dưới những tên gọi khác như "thin check", "body check", "what I eat in a day".
Điều khiến SkinnyTok gây tranh cãi nằm ở chỗ nó không chỉ đơn thuần là khoe vóc dáng, mà còn gieo vào đầu người xem một chuẩn đẹp méo mó: càng gầy càng đáng giá. Những cô gái với xương sườn lộ rõ, cánh tay khẳng khiu, gương mặt hóp sâu lại được tung hô là "discipline girl" – biểu tượng của sự kỷ luật và hấp dẫn. Từ đó, không ít bạn trẻ bắt đầu xem việc nhịn đói là thành tích.
Trên nhiều diễn đàn Reddit, chính những người từng giảm cân hoặc mắc rối loạn ăn uống cũng phải lên tiếng rằng SkinnyTok chẳng khác nào cộng đồng "pro-ana" trá hình – nơi tôn vinh chứng biếng ăn dưới lớp vỏ truyền cảm hứng sống healthy. Một tài khoản viết: "Tôi ghét sự trỗi dậy của SkinnyTok vì nó khiến việc chỉ ăn một bữa/ngày được xem như bình thường và quyến rũ."
Các chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo, chế độ ăn 500–800 calo/ngày mà nhiều TikToker đang khoe khoang gần như không thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu của cơ thể. Hậu quả là thiếu sắt, thiếu canxi, mất cơ, rối loạn nội tiết, rụng tóc, mất kinh và thậm chí ảnh hưởng tim mạch. Đáng sợ hơn, tổn thương tâm lý mới là thứ âm thầm ăn mòn người trẻ: cảm giác tội lỗi khi ăn, ám ảnh cân nặng, liên tục soi gương kiểm tra xương và mỡ thừa.
Nhiều chuyên gia gọi đây là sự trở lại của thời kỳ "size zero" từng ám ảnh phụ nữ những năm 2000, nhưng lần này còn nguy hiểm hơn vì nó được thuật toán mạng xã hội khuếch đại. Chỉ cần xem vài video giảm cân, TikTok sẽ liên tục đẩy thêm những nội dung thân hình gầy nhom lên trang chủ, khiến người dùng có cảm giác chuẩn đẹp đó đang là xu thế bắt buộc phải theo.
Từ mong muốn giảm vài ký cho đẹp dáng, không ít cô gái trẻ dần rơi vào cuộc đua vô hình với chính chiếc cân và những khúc xương trên cơ thể mình. Họ không còn hỏi "mình có khỏe không?" mà chỉ chăm chăm nhìn xem xương quai xanh đã đủ sâu, đùi đã đủ nhỏ, bụng đã đủ lép hay chưa.
SkinnyTok vì thế không còn là một trend làm đẹp đơn thuần. Nó là lời nhắc đáng sợ rằng trong thời đại mạng xã hội, chỉ một hashtag cũng có thể biến nỗi tự ti ngoại hình thành cơn ám ảnh tập thể nơi cái đẹp được đo bằng mức độ gầy guộc đến trơ xương.