Ngày 10-4, thông tin từ UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư dự án khu nhà ở xã hội Núi Thành (xã Núi Thành).
Dự án do Công ty cổ phần Tập đoàn Hà Mỹ Hưng làm chủ đầu tư. Tổng diện tích đất khoảng 22.000m2, tổng mức đầu tư hơn 885 tỉ đồng.
Địa điểm thực hiện dự án tại khu đất A1, A2 – khu nhà ở công nhân thuộc Khu kinh tế mở Chu Lai, xã Núi Thành. Tiến độ thực hiện dự án dự kiến 3 năm từ 2026-2028.
Dự án đầu tư xây dựng chung cư nhà ở xã hội để bán đối với các đối tượng được hưởng chính sách về nhà ở xã hội theo quy định pháp luật.
Kinh doanh, khai thác phần diện tích nhà ở thương mại của dự án theo cơ chế chủ đầu tư quy định tại điều 85 Luật Nhà ở.
Bên cạnh đó UBND thành phố Đà Nẵng cũng có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời giao chủ đầu tư dự án khu nhà ở xã hội Vịnh An Hòa (xã Núi Thành).
Dự án do Công ty cổ phần Holdings Ngôi Sao Việt làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư sơ bộ hơn 684 tỉ đồng, diện tích đất khoảng 18.996m2, địa điểm thực hiện tại khu đất A3, A4 – khu nhà ở công nhân thuộc Khu kinh tế mở Chu Lai, xã Núi Thành. Tiến độ thực hiện dự kiến 3 năm từ 2026-2028.
Dự án đầu tư xây dựng chung cư nhà ở xã hội để bán đối với các đối tượng được hưởng chính sách về nhà ở xã hội theo quy định pháp luật. Kinh doanh, khai thác phần diện tích nhà ở thương mại của dự án theo cơ chế chủ đầu tư quy định tại Điều 85 Luật Nhà ở.

Trình bày tham luận về chuyển đổi số trong hoạt động Mặt trận tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ 11 sáng 12/5, bà Bùi Huyền Mai cho rằng chuyển đổi số là "cầu nối" để Mặt trận đến gần dân hơn, hiểu dân hơn và phục vụ nhân dân tốt hơn.
Theo bà, trước đây một phản ánh của người dân đôi khi phải qua nhiều cuộc họp, nhiều đơn thư và mất hàng tháng mới đến được cấp có thẩm quyền. "Nhưng hôm nay tại Hà Nội, chỉ cần một chiếc smartphone, vài thao tác trên ứng dụng iHanoi, tiếng nói của người dân đã đến ngay bàn làm việc của lãnh đạo để xử lý theo thời gian thực", bà nói.
Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hà Nội cho rằng chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là thay đổi tư duy quản trị và phương thức phục vụ nhân dân. Hà Nội đang xây dựng hạ tầng số "một trục, đa kênh", trong đó mọi hoạt động từ chỉ đạo điều hành đến tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân đều diễn ra trên môi trường mạng an toàn.
Thông qua các ứng dụng như iHanoi, HanoiWork, thông tin chính thống được lan tỏa nhanh hơn, trong khi tâm tư, nguyện vọng của người dân được tiếp nhận sớm hơn.
Mặt trận TP Hà Nội cũng ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tạo video ngắn, infographic; triển khai nền tảng làm việc số dùng chung tới 126 xã, phường, góp phần cắt giảm thủ tục hành chính, chuyển từ quản lý bằng văn bản sang quản trị bằng dữ liệu.
Theo bà Mai, Hà Nội đã xây dựng kho dữ liệu "Đúng - Đủ - Sạch - Sống - Thống nhất và dùng chung", giúp Mặt trận chuyển từ vận động theo phong trào sang vận động "đúng đối tượng, đúng nhu cầu, đúng thời điểm".
Hiện thành phố đang thí điểm mô hình "Thôn, tổ dân phố số", trong đó mọi phản ánh, yêu cầu của người dân qua nền tảng số đều được xử lý, phản hồi theo thời gian thực. "Một chạm, không qua trung gian, không cần giấy tờ, không phải chờ đợi", bà Mai nói về mục tiêu xây dựng cộng đồng tự quản số tại Hà Nội.
Theo bà, chuyển đổi số không phải là mua sắm thiết bị, là nâng cấp phần mềm mà là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị và phương thức phục vụ nhân dân. Nếu không thay đổi cách nghĩ, cách làm thì công nghệ hiện đại đến đâu cũng chỉ là "những cỗ máy vô hồn".
Mặt trận TP Hà Nội cũng đặt mục tiêu xây dựng hệ sinh thái số thống nhất từ thành phố tới cơ sở; đồng thời đào tạo kỹ năng, tư duy quản trị số cho cán bộ và ứng dụng công nghệ để nhận diện sớm các vấn đề dân sinh, "đi trước một bước" trong tạo đồng thuận xã hội.
Tin Gốc: Vnexpress

Bà Trần Ngọc Sen (76 tuổi, khối phố Bàn Thạch, P.Hương Trà, TP.Đà Nẵng) trước đây làm giấy tờ phải đi nhiều lần, có khi thiếu giấy tờ lại phải về bổ sung. Nay cán bộ hướng dẫn rất kỹ, hồ sơ gần như hoàn chỉnh ngay từ đầu. Bà kể, có những thủ tục chỉ cần đi một lần là xong. "Người dân đánh giá rất cao cách làm việc của chính quyền mới khi tinh gọn, hiệu quả và gần dân hơn", bà nói.
Với P.Hương Trà, địa bàn đồng bằng với mật độ dân cư đông, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai trong bối cảnh khối lượng công việc tăng cao, trong khi cơ sở vật chất và dữ liệu chưa đồng bộ hoàn toàn. Đây là thách thức không nhỏ đối với đội ngũ cán bộ, công chức.
Áp lực công việc rất lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, nhưng cán bộ phường luôn nỗ lực hết mình để không làm gián đoạn quá trình giải quyết thủ tục. Minh chứng rõ ràng nhất là chỉ sau gần 1 tháng vận hành chính thức, phường đã trao 35 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người dân. Đến nay, số trường hợp được cấp giấy lần đầu đã gần chạm mốc 100.
Quy trình xử lý hồ sơ cũng trở nên minh bạch, rõ ràng hơn. Người dân có thể theo dõi tiến độ giải quyết thông qua hệ thống số hóa hoặc được hướng dẫn cụ thể ngay tại bộ phận tiếp nhận. Cũng đã có sự thay đổi lớn trong mối quan hệ giữa chính quyền và người dân: trước đây người dân đôi khi e ngại khi tiếp cận cơ quan công quyền (do khoảng cách về thủ tục), nay sự gần gũi đã được cải thiện rõ rệt.
Mô hình 1 cửa điện tử đang là điểm sáng tại P.Hương Trà khi hầu hết các thủ tục đều được tiếp nhận và xử lý trên phần mềm, giúp giảm thiểu giấy tờ, tiết kiệm thời gian và hạn chế sai sót. "Tôi nộp hồ sơ qua mạng, thanh toán cũng trực tuyến nên không cần phải nghỉ làm để đi lại. Có vướng mắc thì gọi điện hoặc nhắn tin là được cán bộ hỗ trợ ngay. Chính quyền bây giờ rất gần gũi, không còn cảm giác xa cách như trước", anh Nguyễn Văn Nhật (36 tuổi, ở P.Hương Trà), chủ một hộ kinh doanh nhỏ, chia sẻ.
Nếu Hương Trà là câu chuyện của một phường đồng bằng với áp lực lớn về khối lượng công việc, thì Trà Tân lại là hình ảnh của một xã miền núi nỗ lực vượt khó để đưa dịch vụ công đến gần hơn với người dân.
Xã Trà Tân chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số, nên hình ảnh cán bộ "cầm tay chỉ việc" không còn xa lạ do phần lớn người dân còn lúng túng trong việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Cán bộ phải dành nhiều thời gian để hướng dẫn từng bước, là yếu tố then chốt giúp nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến. Ông Hồ Văn Bảy (53 tuổi, ở xã Trà Tân) cho hay: "Nhà tôi ở xa trung tâm, trước đây mỗi lần đi làm giấy tờ là cả ngày. Giờ xã giải quyết được nhiều việc ngay tại chỗ, đỡ vất vả hơn rất nhiều. Ngoài ra, cán bộ thì nhiệt tình, hỏi gì cũng được giải thích rõ ràng".
Những ngày đầu áp dụng mô hình mới, cán bộ vùng cao Trà Tân gặp một số khó khăn do khối lượng công việc tăng lên. Tuy nhiên, nhờ được tập huấn và hướng dẫn kịp thời, mọi việc dần đi vào ổn định. Theo bà Hồ Thị Minh Diệu, Phó giám đốc Trung tâm phục vụ hành chính công xã Trà Tân, hiện nay quy trình đã rõ ràng hơn, trách nhiệm cũng cụ thể hơn, nên công việc trôi chảy hơn trước. "Nhiều người dân chưa quen với công nghệ, chúng tôi phải hướng dẫn từ việc tạo tài khoản, nộp hồ sơ đến thanh toán trực tuyến. Dù vất vả hơn, nhưng đổi lại người dân dần quen và chủ động", bà Diệu nói.
Dù điều kiện khác nhau, nhưng phường đồng bằng (Hương Trà) và xã miền núi (Trà Tân) đều có điểm chung: sự thay đổi trong tư duy phục vụ. Chính quyền không còn đứng trên, mà đã "đi cùng" người dân, hướng đến một mục tiêu là làm sao để người dân hài lòng.
Ông Trần Trung Hậu, Chủ tịch UBND P.Hương Trà, cho biết khi người dân đến làm thủ tục, cán bộ địa phương có thể xử lý nhanh chóng, không phải chờ xin ý kiến cấp trên quá nhiều như trước do có sự phân cấp mạnh hơn cho cơ sở. Trách nhiệm của từng cán bộ và niềm tin từ phía người dân cũng được nâng lên. "Cải cách hành chính không chỉ là cắt giảm thủ tục mà còn là thay đổi tư duy phục vụ. Cán bộ phải coi người dân là trung tâm, là đối tượng được phục vụ, từ đó điều chỉnh cách làm việc sao cho hiệu quả và thân thiện hơn", ông Hậu khẳng định.
Theo ông Hậu, địa phương đang nỗ lực xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ. Ở đó, 1 cửa không chỉ là mô hình mà là cam kết; trực tuyến không chỉ là công nghệ mà là công cụ để rút ngắn khoảng cách; gần dân không chỉ là khẩu hiệu mà là hành động cụ thể mỗi ngày. "Chúng tôi luôn tâm niệm rằng, mỗi hồ sơ không chỉ là một thủ tục mà là quyền lợi của người dân. Giải quyết nhanh, đúng và thuận tiện chính là cách tốt nhất để phục vụ nhân dân", ông Hậu nhấn mạnh.
Việc phân cấp mạnh cho cơ sở có ý nghĩa rất lớn đối với địa bàn miền núi như Trà Tân. Ông Lê Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã Trà Tân, cho rằng cải cách hành chính ở miền núi không chỉ dừng ở việc tinh giản thủ tục mà còn phải gắn với điều kiện cụ thể của địa phương. Ví dụ, việc ứng dụng công nghệ thông tin cần có sự linh hoạt, kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp để phù hợp với trình độ tiếp cận của người dân. "Lãnh đạo xã luôn yêu cầu cán bộ phải gần dân, hiểu dân và hỗ trợ đến nơi đến chốn", ông Chiến nói. (còn tiếp)
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáu tháng qua, ông Lê Ngọc Hùng, 53 tuổi, chủ cơ sở gốm ở làng nghề Mang Thít, đứng ngồi không yên vì nguồn đất sét dùng cho sản xuất đã cạn.
Gia đình ông Hùng có hơn 50 năm gắn bó với nghề gốm đỏ. Cơ sở rộng hơn 11.000 m2, được đầu tư hàng chục tỷ đồng máy móc, từng tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 40 lao động với thu nhập khoảng 500.000 đồng mỗi ngày.
"Bình quân mỗi ngày, cơ sở cần 3-5 m3 đất sét nhưng nửa năm qua nguồn nguyên liệu tại địa phương gần như không còn", ông Hùng nói.
Thiếu đất, nhà máy phải hoạt động cầm chừng. Doanh thu trước đây đạt 1-1,5 tỷ đồng mỗi tháng, nay giảm hơn 10 lần, có tháng không phát sinh. Nhiều lao động lành nghề phải nghỉ việc hoặc chỉ làm nửa ngày, thời gian còn lại đi bán vé số kiếm sống.
Ông Hùng từng tìm mua đất từ các dự án nạo vét luồng lạch, song nguyên liệu này có độ dẻo thấp, không tạo được màu đỏ đặc trưng. Sản phẩm sau khi nung dễ nứt, tỷ lệ hao hụt cao, trong khi chi phí tăng nên khó tiêu thụ.
Tương tự, cơ sở của ông Nguyễn Văn Buôi, 65 tuổi, cũng phải thu hẹp sản xuất. Ông Buôi có hàng chục năm gắn bó với nghề, sở hữu ngôi nhà ba gian hai chái rộng 300 m2 được xây dựng chủ yếu bằng gốm đỏ Vĩnh Long.
"Đất nung ở vùng này tạo nên màu sắc và chất lượng riêng mà nơi khác không có", ông Buôi nói, cho biết hơn một năm qua cơ sở đã ngừng làm gốm mỹ nghệ xuất khẩu, chỉ duy trì quy mô nhỏ để giữ nghề và phục vụ khách du lịch.
Theo bà Đoàn Thị Ngọc Diệp, Chủ tịch Hiệp hội Gạch, gốm mỹ nghệ tỉnh Vĩnh Long, địa phương có khoảng 50 doanh nghiệp sản xuất gạch, gốm xuất khẩu, tạo việc làm cho 2.000 lao động. Mỗi năm, các cơ sở cần hơn 200.000 m3 đất sét.
Nguồn nguyên liệu trước đây chủ yếu được lấy khi người dân cải tạo lớp đất mặt ở những thửa ruộng gò cao. Tuy nhiên, từ năm 2024, việc khai thác nguồn đất này không còn được cho phép. Sau khi dùng hết lượng dự trữ, nhiều doanh nghiệp phải ngừng sản xuất hoặc hoạt động cầm chừng.
Sản phẩm gốm đỏ Vĩnh Long chủ yếu xuất khẩu sang châu Âu, với kim ngạch khoảng 450 tỷ đồng mỗi năm. Do chưa tìm được nguồn nguyên liệu thay thế, các doanh nghiệp không dám nhận đơn hàng mới.
"Nếu tình trạng này kéo dài, nhiều cơ sở sẽ phải đóng cửa, lao động mất việc và làng nghề có nguy cơ mai một", bà Diệp nói.
Hiệp hội và các doanh nghiệp kiến nghị tỉnh khảo sát, cho phép khai thác đất sét tại những vùng gò cao thuộc các huyện Tam Bình, Trà Ôn, Bình Tân và thị xã Bình Minh cũ. Theo các đơn vị, việc này vừa tạo nguồn nguyên liệu cho làng nghề, vừa hạ thấp mặt ruộng để thuận lợi sản xuất nông nghiệp.
Ông Đặng Văn Chính, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Vĩnh Long, ngày 15/6 cho biết tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường điều tra, đánh giá, xây dựng phương án quản lý địa chất và khoáng sản giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Dự án sẽ khảo sát, bổ sung những khu vực có nguồn đất sét để mở rộng vùng nguyên liệu, đồng thời xây dựng cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ, thăm dò và khai thác khoáng sản.
Trong thời gian chờ kết quả khảo sát, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Hiệp hội tìm mua đất sét tại những mỏ đang được phép khai thác ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, đại diện Hiệp hội cho rằng đất sét ở địa phương khác không đáp ứng yêu cầu về độ dẻo, màu sắc và chất lượng đặc trưng của gốm đỏ Vĩnh Long. Các nguyên liệu được thử nghiệm thời gian qua cũng chưa cho ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn thương mại.
Làng gạch, gốm đỏ Vĩnh Long hình thành hơn 100 năm trước, được xem là một trong những làng nghề lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long. Thời hoàng kim khoảng 20 năm trước, làng nghề trải dài 30 km qua TP Vĩnh Long, huyện Long Hồ và Mang Thít, với hơn 3.000 lò hoạt động.
Hiện toàn vùng còn khoảng 800 lò, tập trung dọc kênh Thầy Cai đến nơi tiếp giáp sông Cổ Chiên, một nhánh sông Mekong.
Cuối năm 2024, UBND tỉnh Vĩnh Long phê duyệt quy hoạch khu lò gạch, gốm rộng hơn 3.060 ha tại các xã Mỹ An, Mỹ Phước, Nhơn Phú và Hòa Tịnh, huyện Mang Thít cũ. Khu vực được định hướng trở thành điểm du lịch trọng điểm, kết hợp bảo tồn làng nghề với phát triển dịch vụ và kinh tế sáng tạo.
Tỉnh cũng kêu gọi khoảng 3.500 tỷ đồng vốn xã hội hóa để phát triển làng gạch, gốm thành điểm đến du lịch. Tuy nhiên, theo các doanh nghiệp, kế hoạch hồi sinh làng nghề khó thực hiện nếu bài toán nguồn đất sét chưa được giải quyết.
Tin Gốc: Vnexpress

