Đăng ký nguyện vọng: Chọn trường, ngành hay nghề ?

Đăng ký nguyện vọng: Chọn trường, ngành hay nghề ?

Chính vì chú trọng chọn trường để đậu mà không quan tâm đến chọn ngành, chọn nghề dẫn tới không ít bạn khi trở thành sinh viên có thái độ học thờ ơ, chán nản, không có động lực học dẫn đến phải bỏ học giữa chừng để chuyển đổi sang trường khác, ngành khác. Nhiều trường hợp khác không phấn đấu nỗ lực trong quá trình học, học đối phó; kết quả khi tốt nghiệp ra trường có năng lực chuyên môn thấp, kỹ năng yếu, thái độ thờ ơ, làm trái ngành nghề, không phù hợp với năng lực, tính cách và sở thích của bản thân. Điều này gây ra hậu quả vô cùng lãng phí các nguồn lực cho gia đình, xã hội và bản thân. Vậy định hướng thế nào là đúng?

Ngành học là lĩnh vực đào tạo rộng, ví dụ: ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, kinh doanh quốc tế, tài chính – ngân hàng, kế toán, luật, logistics, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu…

Chuyên ngành là hướng đi sâu hơn trong ngành, ví dụ: học ngành kinh tế có thể theo chuyên ngành kinh tế học, kinh tế đối ngoại. Học ngành luật có thể theo chuyên ngành luật kinh tế, luật thương mại quốc tế. Hay công nghệ thông tin có thể theo chuyên ngành trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, an toàn thông tin, công nghệ phần mềm. Học ngành điện tử viễn thông có thể đi theo vi mạch, hệ thống nhúng, IoT, truyền thông số. Học ngành công nghệ vật liệu có thể đi theo vật liệu polymer, vật liệu bán dẫn, vật liệu y sinh, vật liệu xanh, vật liệu nano.

Nghề là lĩnh vực công việc sau khi ra trường. Vị trí việc làm là chức danh cụ thể trong cơ quan, doanh nghiệp. Ví dụ, học ngành kinh doanh quốc tế thì nghề có thể là xuất nhập khẩu, logistics, mua hàng quốc tế, phát triển thị trường, thanh toán quốc tế, quản lý chuỗi cung ứng, quan hệ khách hàng quốc tế. Vị trí cụ thể có thể là Import-Export Executive, Logistics Coordinator, Purchasing Officer, Business Development Executive. Ngành này cần ngoại ngữ, hiểu văn hóa kinh doanh, chứng từ, hợp đồng, thương mại và khả năng làm việc với đối tác.

Học marketing không có nghĩa chỉ làm “quảng cáo” mà có thể làm nghiên cứu thị trường, quản trị thương hiệu, digital marketing, trade marketing, chăm sóc khách hàng, truyền thông nội bộ…

Tóm lại, có thể hình dung ngành học là con đường lớn; chuyên ngành là làn đường; nghề là hướng đi; vị trí công việc là điểm đến cụ thể. Nếu không phân biệt rõ, học sinh rất dễ chọn ngành theo cảm tính.

Thứ nhất, năng lực học tập. Chẳng hạn học tài chính cần toán và phân tích; luật cần đọc hiểu và viết; marketing cần sáng tạo kèm dữ liệu; kinh doanh quốc tế cần ngoại ngữ; AI cần toán – tin; bán dẫn cần toán – lý, điện tử, vật liệu mới cần lý – hóa…

Thứ hai, sở thích thật. Chẳng hạn thích mua sắm không có nghĩa hợp marketing; thích tiền không có nghĩa hợp tài chính; thích tranh luận không có nghĩa hợp luật; thích dùng công nghệ không có nghĩa học ngành kỹ thuật nào cũng được.

Thứ ba, tính cách nghề nghiệp. Chẳng hạn người cẩn thận hợp kế toán, kiểm toán, luật, quản trị rủi ro; người năng động hợp kinh doanh, marketing, nhân sự, đối ngoại; người thích hệ thống hợp logistics, vận hành, quản lý chuỗi cung ứng; người thích máy móc, số liệu kỹ thuật hợp tự động hóa, nhiệt, vật liệu, bán dẫn.

Thứ tư, sức bền học tập. Ngành càng có triển vọng càng đòi hỏi học thật.

Thứ năm, cơ hội tương lai. Nên ưu tiên ngành gắn cơ hội nghề nghiệp cao.

Việc chọn ngành học trong trường cũng quan trọng không kém so với chọn trường. Để đánh giá trường và ngành học trong trường cần xem lịch sử của trường, chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, chuẩn đầu ra, kiểm định, cơ hội thực tập, học phí, vị trí địa lý và phản hồi của cựu sinh viên…

Sau khi chọn ngành, chuyên ngành muốn học, bước tiếp theo thí sinh (TS) chọn trường để xét tuyển. TS nên nộp hồ sơ xét tuyển vào ít nhất 3 nhóm và dùng hết 15 nguyện vọng (NV).

Nhóm mơ ước, các trường có điểm thi năm trước các ngành mà bạn muốn học cao hơn hoặc bằng với điểm thi của bạn. Bạn nên sử dụng khoảng 6 NV đầu.

Nhóm hiện thực, các trường có điểm thi năm trước các ngành mà bạn muốn học bằng hoặc thấp hơn với điểm thi của bạn từ 1 – 3 điểm. Bạn nên sử dụng từ NV 7 – 11.

  Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao: Các bài toán thực tế tổng hợp

Nhóm an toàn, các trường có điểm thi năm trước các ngành mà bạn muốn học bằng hoặc thấp hơn với điểm thi của bạn từ 3 – 5 điểm. Bạn nên sử dụng từ NV 12 – 15.

Các NV được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các trường bạn mong muốn.

Tóm lại, chọn ngành đại học không phải là cuộc thi chọn cái tên nghe sang nhất. Cơ hội chỉ thành nghề nghiệp khi người học hiểu đúng ngành, chọn đúng chuyên ngành, rèn đúng năng lực và học thật.

Đừng chọn ngành chỉ vì nó đang “sáng đèn” trên truyền thông; hãy chọn con đường mình đủ năng lực để bước vào, đủ hứng thú để đi tiếp và đủ bản lĩnh để đi xa và đón các thách thức mới.

Tin Gốc: Thanh Niên