Nồng độ axit uric cao (tăng axit uric máu) được xác định khi vượt quá 7,0 mg/dL (trên 420 μ mol/L) ở nam giới và hơn 6,0 mg/dL (trên 360 μ mol/L) ở nữ giới. Tình trạng này làm tăng nguy cơ lắng đọng tinh thể urat ở các khớp và mô, nếu không kiểm soát dẫn đến những bệnh lý nghiêm trọng như bệnh gout, tổn thương thận.
Nồng độ axit uric cao thường liên quan đến đau khớp, đặc biệt là ở các ngón chân. Tuy nhiên, đôi khi tình trạng này có những dấu hiệu dễ nhầm lẫn với mệt mỏi, dị ứng, dễ bị bỏ qua.
Phát ban đỏ, ngứa da, giống chàm hoặc dị ứng
Theo Times of India, khi nồng độ axit uric trong máu tăng cao kéo dài, các tinh thể urat có thể lắng đọng dưới da, hình thành các khối u nhỏ. Những khối nhỏ này thường xuất hiện quanh khớp, vành tai, ngón tay hoặc ngón chân.
Một số người bị tăng axit uric máu có thể bị ngứa, nổi mẩn hoặc đỏ da, khiến triệu chứng dễ nhầm lẫn với dị ứng, da khô hay rôm sảy.
Sốt nhẹ và đau nhức cơ thể, cảm giác như nhiễm virus
Trong cơn gout cấp, khi nồng độ axit uric trong máu tăng cao, các tinh thể urat có thể lắng đọng tại khớp. Hệ miễn dịch nhận diện những tinh thể này như tác nhân lạ và kích hoạt phản ứng viêm mạnh, gây đau dữ dội, sưng nóng đỏ khớp, đồng thời người bệnh có thể sốt nhẹ, mệt mỏi và đau nhức cơ thể. Người bệnh có thể nhầm lẫn với cơn sốt virus nhẹ, đau nhức khi tập thể dục hoặc mệt mỏi do thay đổi thời tiết.
Cảm giác tê bì ở bàn chân giống bệnh lý thần kinh
Tăng axit uric máu chủ yếu gây đau, sưng, nóng, đỏ khớp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tinh thể urat tích tụ lâu ngày quanh khớp và mô mềm có thể gây viêm hoặc chèn ép các dây thần kinh lân cận. Khi đó, người bệnh có thể cảm thấy tê bì, châm chích hoặc nóng rát ở bàn chân, đặc biệt quanh ngón chân cái, cổ chân.
Các đợt viêm do bệnh gout cũng có thể làm tăng áp lực lên mô xung quanh, khiến cảm giác khó chịu lan rộng, dễ bị nhầm với bệnh lý thần kinh.
Tuy nhiên, nếu tê bì bàn chân kéo dài, nguyên nhân thường gặp hơn vẫn là bệnh thần kinh do tiểu đường, thiếu vitamin B12, dây thần kinh bị chèn ép hoặc bệnh lý thần kinh ngoại biên khác. Vì vậy, nếu tình trạng kéo dài, người bệnh nên đi khám để được đánh giá và làm các xét nghiệm cần thiết, theo Healthline.
Tâm trạng thất thường, khó tập trung dễ nhầm căng thẳng
Tăng axit uric máu kéo dài có thể liên quan đến tình trạng viêm và stress oxy hóa trong cơ thể, từ đó ảnh hưởng đến chức năng não bộ ở một số người. Điều này có thể gây cảm giác mệt mỏi, khó tập trung hoặc giảm minh mẫn, dễ bị nhầm với căng thẳng, thiếu ngủ hay kiệt sức tinh thần.
Với sự hợp tác trên, hai BV sẽ hội chẩn liên viện, phối hợp chuyên môn, chuyển tuyến; triển khai các chương trình chăm sóc răng miệng cho người cao tuổi, người có nhiều bệnh nền.
Đồng thời, có các khóa đào tạo liên tục và luân phiên cán bộ chuyên môn nâng cao năng lực chuyên sâu...; lồng ghép tư vấn, sàng lọc răng miệng trong chương trình khám sức khỏe người cao tuổi; ứng dụng nền tảng công nghệ thông tin để truyền thông và theo dõi sức khỏe răng miệng. Đặc biệt, cùng nghiên cứu khoa học về sức khỏe răng miệng và bệnh lý liên quan; xây dựng mô hình chăm sóc răng miệng tích hợp tại BV và cộng đồng.
Mới đây, BV Răng hàm mặt T.Ư Hà Nội đã tiến hành điều tra sức khỏe răng miệng cộng đồng tại tỉnh Bắc Ninh (thuộc khuôn khổ đề tài khoa học và công nghệ về nghiên cứu xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng tại VN giai đoạn 2025 - 2030, triển khai tại 14 tỉnh, thành, bao gồm cả người trưởng thành và trẻ em).
Bắc Ninh là tỉnh đầu tiên triển khai nghiên cứu, với sự tham gia của khoảng 1.000 người dân địa phương. Thông qua khám, điều tra sức khỏe răng miệng; khảo sát kiến thức, hành vi chăm sóc sức khỏe răng miệng, nghiên cứu đánh giá xu hướng bệnh răng miệng trong cộng đồng; đồng thời thu thập mẫu nước sinh hoạt để xây dựng bản đồ fluor, làm cơ sở xây dựng hướng dẫn sử dụng fluor quốc gia và chiến lược chăm sóc sức khỏe răng miệng cộng đồng.
Kết quả đề tài sẽ cung cấp dữ liệu cho xây dựng chiến lược phát triển ngành răng hàm mặt VN, góp phần nâng cao sức khỏe răng miệng của người dân trong thời gian tới.
Theo đó, Cục Quản lý dược yêu cầu các đơn vị trên toàn quốc thu hồi toàn bộ lô thuốc Natri clorid 0,9% (số giấy đăng ký lưu hành 893100060724), số lô 10370725, ngày sản xuất 14-7-2025, hạn dùng 14-1-2028, do Công ty Pharmedic sản xuất.
Nguyên nhân thu hồi là theo báo cáo của cơ sở kiểm nghiệm, lô thuốc dung dịch nhỏ mắt Natri clorid 0,9% nêu trên không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu độ trong, vi phạm mức độ 3.
Thuốc nhỏ mắt - nhỏ mũi Natri Clorid 0,9% của Công ty Pharmedic được giới thiệu có thành phần chính natri clorid, dùng để rửa mắt, rửa mũi, phụ trị nghẹt mũi, sổ mũi, viêm mũi do dị ứng; sản phẩm dùng được cho trẻ sơ sinh. Đây cũng là sản phẩm được bán tại nhiều nhà thuốc, bệnh viện và được nhiều người sử dụng.
Cục Quản lý dược yêu cầu Công ty Pharmedic phải ngừng việc kinh doanh và tiến hành biệt trữ lô thuốc bị thu hồi nêu trên. Đồng thời báo cáo tình hình phân phối thuốc tới cơ sở bán buôn, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Chủ trì, phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan gửi thông báo thu hồi lô thuốc bị thu hồi nêu trên tới tất cả cơ sở bán buôn, bán lẻ, cơ sở tổ chức chuỗi nhà thuốc, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã nhận lô thuốc nêu trên.
Tổ chức thu hồi và tiếp nhận toàn bộ lô thuốc bị thu hồi nêu trên, hoàn thành trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 11-5.
Xử lý lô thuốc bị thu hồi; chi trả chi phí cho việc thu hồi, xử lý thuốc bị thu hồi; bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Cục cũng giao cơ sở bán buôn, bán lẻ, cơ sở tổ chức chuỗi nhà thuốc ngừng kinh doanh, cung cấp, cấp phát lô thuốc bị thu hồi nêu trên, thông báo và tổ chức thu hồi, tiếp nhận toàn bộ lô thuốc bị thu hồi nêu trên, trả thuốc cho cơ sở đã cung cấp thuốc.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người sử dụng thuốc ngừng việc kê đơn, bán, cấp phát và sử dụng lô thuốc bị thu hồi nêu trên, trả thuốc cho cơ sở cung cấp thuốc.
Cục Quản lý dược yêu cầu các sở y tế tỉnh, thành phố giám sát chất lượng thuốc lưu hành, đặc biệt tập trung lấy mẫu kiểm nghiệm đối với sản phẩm bị thu hồi.
Cả gừng và nghệ đều chứa các hợp chất sinh học có khả năng ức chế phản ứng viêm trong cơ thể. Gừng giàu gingerol, trong khi nghệ chứa curcumin - hoạt chất được nghiên cứu nhiều về tác dụng chống viêm.
Gừng có thể giúp giảm viêm nhờ khả năng ức chế các chất trung gian gây viêm. Gừng có thể hỗ trợ giảm đau cơ, viêm khớp và các tình trạng viêm nhẹ, theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH).
Tiến sĩ Rupali Datta, chuyên gia dinh dưỡng ở Ấn Độ, cho biết gừng không chỉ giúp giảm viêm mà còn hỗ trợ tuần hoàn máu, từ đó góp phần giảm cảm giác đau và cứng cơ.
Một số nghiên cứu cũng ghi nhận việc bổ sung gừng có thể giúp giảm triệu chứng viêm ở người bị thoái hóa khớp, dù hiệu quả còn phụ thuộc liều lượng và thời gian sử dụng.
So với gừng, nghệ thường được đánh giá cao hơn về khả năng chống viêm nhờ hoạt chất curcumin. Curcumin có thể tác động đến nhiều con đường viêm khác nhau trong cơ thể, giúp giảm viêm hiệu quả hơn, theo Cleveland Clinic.
Chuyên gia dinh dưỡng Anju Sood (Ấn Độ) cho biết nghệ có thể hỗ trợ kiểm soát các tình trạng viêm mạn tính và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do stress oxy hóa.
Ngoài ra, một số nghiên cứu đăng trên tạp chí Heliyon cho thấy curcumin có thể giúp giảm các dấu ấn viêm trong cơ thể, dù vẫn cần thêm nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn.
Các hợp chất chống viêm từ thực phẩm như gừng và nghệ có thể góp phần giảm nguy cơ bệnh mạn tính nếu được sử dụng trong chế độ ăn lành mạnh.
Tuy nhiên, các chuyên gia nhấn mạnh rằng hiệu quả chống viêm từ thực phẩm thường ở mức hỗ trợ, không thay thế thuốc điều trị trong các bệnh lý nghiêm trọng, theo Harvard Health Publishing.
Nếu mục tiêu là chống viêm, nghệ thường được đánh giá nhỉnh hơn nhờ tác động mạnh của curcumin. Tuy vậy, gừng vẫn là lựa chọn tốt để hỗ trợ giảm viêm nhẹ và cải thiện triệu chứng đau.
Trong thực tế, nhiều chuyên gia khuyến nghị có thể kết hợp cả hai trong chế độ ăn để tận dụng lợi ích của từng loại.
Cả gừng và nghệ đều có thể tương tác với một số loại thuốc, đặc biệt là thuốc chống đông máu. Việc sử dụng liều cao dưới dạng thực phẩm chức năng cần có sự tư vấn của bác sĩ.
Cả gừng và nghệ đều có khả năng chống viêm, nhưng nghệ thường nổi bật hơn về hiệu quả. Dù vậy, lựa chọn phù hợp vẫn phụ thuộc vào mục đích sử dụng và tình trạng sức khỏe của mỗi người.