Dù là mô hình hoàn toàn mới, chưa có tiền lệ và đòi hỏi cách tiếp cận khác biệt, song sau những tháng đầu vận hành, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng và Tp.HCM đã bắt đầu ghi nhận những tín hiệu tích cực về thu hút đầu tư, hoàn thiện thể chế và hình thành hệ sinh thái tài chính hiện đại.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Đặng Đình Đức – Phó Chủ tịch Thường trực Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng (VIFC-DN), sau gần 4 tháng đi vào hoạt động, Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng đã ghi nhận kết quả tích cực trên 3 phương diện: thu hút đầu tư, tổ chức vận hành và hoàn thiện thể chế.
Đến nay, trung tâm đã có 12 thành viên chính thức, 11 nhà đầu tư được cấp chấp thuận quan tâm và 12 nhà đầu tư đang hoàn thiện hồ sơ. Đồng thời, gần 90 nhà đầu tư trong và ngoài nước đã gửi thư bày tỏ quan tâm.
Về vận hành, bộ máy được kiện toàn với 21 nhân sự, có sự tham gia của chuyên gia quốc tế giàu kinh nghiệm, góp phần chuẩn hóa quy trình theo thông lệ quốc tế. Thành phố cũng đang hoàn tất thủ tục để tiếp nhận thêm chuyên gia trong thời gian tới.
“Nhiều tổ chức tài chính, quỹ đầu tư, tập đoàn đa quốc gia đã làm việc trực tiếp hoặc trực tuyến, không chỉ tìm hiểu mà còn xúc tiến hiện diện và triển khai thủ tục cho các dự án cụ thể. Điều này cho thấy niềm tin thị trường đang dần hình thành”, ông Đức cho biết.
Trong khi đó, tại Tp.HCM, ông Nguyễn Hữu Huân – Phó Chủ tịch cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Tp.Hồ Chí Minh (VIFC-HCM) đánh giá tín hiệu tích cực lớn nhất của IFC-HCMC là đã bắt đầu xuất hiện những chuyển động thực chất của dòng vốn và cấu trúc thị trường.
Theo ông Huân, hiện đã có khoảng 50 định chế tài chính và nhà đầu tư lớn đăng ký hiện diện hoặc tham gia hệ sinh thái của trung tâm, với tổng vốn cam kết xấp xỉ 19 tỷ USD.
“Dù đây mới là vốn cam kết chứ chưa phải dòng vốn giải ngân thực tế, nhưng về mặt kinh tế học, điều đó phản ánh kỳ vọng của thị trường đối với một cấu trúc tài chính mới đang hình thành tại Việt Nam”, ông Huân nhận định.
Theo lãnh đạo hai trung tâm, Việt Nam không lựa chọn cách phát triển theo mô hình “sao chép” các trung tâm tài chính truyền thống. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, IFC-HCM đang đi theo chiến lược chọn các phân khúc ngách như tài chính hàng không, tài chính hàng hải và tài chính số.
“Một trung tâm đi sau nếu muốn cạnh tranh thì phải tạo ra sự khác biệt về cấu trúc thị trường, thay vì cạnh tranh trực diện với Singapore hay Hong Kong (Trung Quốc)”, ông Huân nói.
Trong khi đó, Đà Nẵng lại tập trung vào việc xây dựng các nền tảng tài chính mới phục vụ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh. Theo ông Đặng Đình Đức, cơ quan điều hành đang nghiên cứu đề xuất xây dựng 2-3 sàn giao dịch chuyên biệt, trong đó có sàn giao dịch tài sản số và token hóa tài sản trong khuôn khổ sandbox nhằm huy động vốn cho các dự án hạ tầng lớn của Đà Nẵng, miền Trung và cả nước.
Bên cạnh đó là kế hoạch hình thành trung tâm giao dịch tín chỉ carbon thí điểm và nghiên cứu xây dựng sàn giao dịch hàng hóa cho kim loại màu, kết nối với các sàn quốc tế và Khu thương mại tự do Đà Nẵng.
Theo ông Đức, định hướng của Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại Đà Nẵng không chỉ là nơi cung ứng dịch vụ tài chính mà còn là hạt nhân kết nối dòng vốn, công nghệ và tri thức, qua đó hình thành cực tăng trưởng tài chính mới cho khu vực miền Trung.
Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là xây dựng mô hình vận hành cho lĩnh vực hoàn toàn mới tại Việt Nam. Ông Đặng Đình Đức cho biết, khó khăn lớn nhất của VIFC-DN là chuyển từ giai đoạn thiết kế sang vận hành thực tế, vừa tuân thủ khung pháp lý trong nước vừa tiếp cận chuẩn mực quốc tế.
Đặc biệt, các lĩnh vực như fintech, tài sản số hay tài chính xanh phát triển rất nhanh, đòi hỏi phải cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và kiểm soát rủi ro. Yêu cầu về giám sát, phòng chống rửa tiền và bảo đảm an toàn hệ thống được đặt ra rất cấp thiết.
Theo ông Đức, VIFC-DN hiện lựa chọn cách tiếp cận “vừa làm, vừa hoàn thiện”, ban hành hướng dẫn tạm thời, phối hợp với các bộ ngành rà soát quy định và tham vấn nhà đầu tư quốc tế để hoàn thiện chính sách theo hướng tiệm cận chuẩn mực toàn cầu.
Ở góc độ Tp.HCM, ông Nguyễn Hữu Huân cho rằng điểm tiến bộ đáng chú ý nhất là việc triển khai sandbox và khung pháp lý đặc thù theo Nghị quyết 222 cùng các nghị định liên quan. Theo ông, điều nhà đầu tư quốc tế quan tâm nhất không phải là ưu đãi thuế, mà là khả năng chuyển đổi vốn, mức độ bảo vệ pháp lý và khả năng thoái vốn.
“Khi nhà đầu tư nhìn thấy một không gian pháp lý linh hoạt nhưng vẫn có kiểm soát rủi ro, họ sẽ sẵn sàng tham gia hơn”, ông Huân nói.
Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, vốn quốc tế không đi theo lời kêu gọi mang tính hành chính mà vận động theo logic lợi nhuận, rủi ro và khả năng thanh khoản.
“Vấn đề cốt lõi không phải là làm sao thu hút thêm nhà đầu tư, mà là làm sao tạo ra lý do để nhà đầu tư buộc phải đi qua trung tâm này”, ông Huân nhấn mạnh.
Muốn làm được điều đó, theo ông, trung tâm tài chính phải tạo ra các thị trường và sản phẩm tài chính gắn với nhu cầu thực của nền kinh tế như tài chính hàng không, tài chính hàng hải, tài sản số hay tài chính xanh.
Trong khi đó, ông Đặng Đình Đức cho biết VIFC-DN hiện tập trung vào 3 trụ cột chính: triển khai hiệu quả các cơ chế chính sách đã được ban hành; xây dựng bộ máy vận hành minh bạch, ổn định; và định vị trung tâm trở thành kênh dẫn vốn cho các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, quản lý tài sản dài hạn, tài chính chuỗi cung ứng và chuyển đổi xanh.
Bên cạnh thể chế và dòng vốn, nguồn nhân lực cũng là yếu tố then chốt. Ông Đặng Đình Đức cho biết ngay trong đợt tuyển dụng đầu tiên, VIFC-DN đã nhận được 129 hồ sơ ứng tuyển, trong đó khoảng 20% là chuyên gia nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài từng học tập, làm việc tại các trung tâm tài chính quốc tế. Đáng chú ý, trung tâm đã ký hợp đồng với một chuyên gia quốc tế từng là giám đốc điều hành một trung tâm tài chính quốc tế để chuẩn hóa quy trình vận hành theo thông lệ toàn cầu.
Trong thời gian tới, VIFC-DN sẽ tiếp tục tuyển dụng theo hướng quốc tế hóa, kết hợp thu hút nhân tài toàn cầu và phát triển nguồn nhân lực trong nước.
Theo các chuyên gia, tác động của trung tâm tài chính quốc tế sẽ không xuất hiện ngay lập tức mà mang tính tích lũy trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, nếu được vận hành đúng hướng, đây có thể trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân cho rằng, sự xuất hiện của VIFC-HCMC không đơn thuần là bổ sung thêm một khu chức năng tài chính, mà là cú hích mang tính “tái cấu trúc” đối với mô hình tăng trưởng của Tp.HCM.
Theo ông, trong nhiều năm qua, tăng trưởng của Tp.HCM chủ yếu dựa vào sản xuất, bất động sản và tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, mô hình này dần bộc lộ giới hạn về khả năng hấp thụ vốn và tạo ra giá trị gia tăng cao. Việc hình thành trung tâm tài chính quốc tế sẽ giúp thành phố chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào thị trường vốn, dịch vụ tài chính chất lượng cao và dòng vốn quốc tế.
“Sự xuất hiện của trung tâm tài chính sẽ tạo thêm một kênh dẫn vốn mới, giúp TP.HCM kết nối trực tiếp với dòng vốn toàn cầu. Khi đó, thành phố không chỉ “xin vốn” mà có thể “hấp thụ vốn” theo cơ chế thị trường thông qua trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư hay các sản phẩm tài chính mới”, ông Huân phân tích.
Theo ông Huân, tác động của trung tâm tài chính cũng không chỉ dừng ở lĩnh vực tài chính – ngân hàng mà sẽ lan tỏa sang toàn bộ nền kinh tế đô thị. Khi dòng vốn quốc tế, các định chế tài chính, quỹ đầu tư và doanh nghiệp công nghệ tài chính cùng hiện diện, thành phố sẽ có thêm động lực để nâng cấp hạ tầng số, cải thiện chất lượng quản trị đô thị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao.
“Trong dài hạn, Tp.HCM sẽ không chỉ là nơi tạo ra hàng hóa và dịch vụ, mà còn là nơi tạo ra và phân bổ vốn, tức nắm giữ vai trò cao hơn trong chuỗi giá trị kinh tế toàn cầu”, ông Huân nhận định.
Ở góc độ Đà Nẵng, ông Đặng Đình Đức cho rằng, VIFC-DN được định hướng trở thành cực tăng trưởng tài chính mới của miền Trung, đóng vai trò kết nối dòng vốn cho các dự án hạ tầng, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo.
Theo ông Đức, lợi thế của Đà Nẵng nằm ở khả năng phát triển các mô hình tài chính mới gắn với tài sản số, tín chỉ carbon, tài chính xanh và thương mại tự do. Đây cũng là những lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của các nhà đầu tư quốc tế trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển mạnh sang xu hướng số hóa và phát triển bền vững.
Theo lãnh đạo hai trung tâm, nếu tận dụng tốt cơ hội này, Việt Nam không chỉ có thêm nguồn lực cho tăng trưởng mà còn từng bước nâng vị thế trên bản đồ tài chính khu vực, tham gia sâu hơn vào mạng lưới dòng vốn và chuỗi giá trị toàn cầu.
Tại Tòa đàm "Tiết kiệm điện mùa cao điểm: Trách nhiệm và giải pháp", ông Hà Đăng Sơn – Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng tiết kiệm điện hiện đã trở thành tư duy phổ biến trong khối doanh nghiệp, nhưng vẫn tồn tại khoảng trống lớn ở nhóm hộ tiêu dùng dân cư.
Theo ông Sơn, với doanh nghiệp, tiết kiệm điện "đánh trực tiếp vào túi tiền", gắn với chi phí và rủi ro sản xuất, nên nhận thức đã tương đối rõ ràng.
Tuy nhiên, ở khu vực dân cư - chiếm khoảng 30% nhu cầu điện vẫn tồn tại nhiều quan niệm chưa phù hợp. Ông nêu thực tế về tư duy "tôi có tiền thì tôi được dùng nhiều" dẫn đến việc chưa nhận thức đầy đủ tác động của tiêu dùng điện tới hệ thống.
Theo phân tích, khi sử dụng điện vượt ngưỡng công suất hợp lý, hệ thống phải huy động các nguồn điện đắt đỏ hơn, kéo theo chi phí đầu tư và vận hành tăng cao. Tuy vậy, giá điện bán lẻ hiện vẫn được kiểm soát và còn mang tính bù chéo, chưa phản ánh đầy đủ chi phí công suất.
Một vấn đề khác là quan niệm "dùng nhiều thì phải rẻ". Ông Sơn cho rằng cách hiểu này khiến nhiều người tiêu dùng khó chấp nhận đặc thù ngành điện – nơi chi phí không giảm tuyến tính theo sản lượng như hàng hóa thông thường.
Ông nhấn mạnh, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhiều lần khẳng định "tiết kiệm điện là nguồn năng lượng đầu tiên (first fuel)", song nhận thức này vẫn chưa lan tỏa mạnh trong cộng đồng do người dân chưa nhìn thấy rõ cấu trúc chi phí điện.
Ngoài ra, ông Sơn chỉ ra một số hạn chế khác như cơ chế điều chỉnh phụ tải chưa có khung tài chính rõ ràng; thói quen đầu tư thiết bị giá rẻ nhưng hiệu suất thấp; và đặc biệt là thiếu văn hóa đo lường tiêu thụ điện. "Bạn không thể quản lý cái mà bạn không đo đạc được", ông dẫn lại nguyên lý quản trị phổ biến, nhấn mạnh vai trò của dữ liệu trong kiểm soát tiêu dùng năng lượng.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Đặng Hải Dũng – Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết hệ thống điện Việt Nam đang chịu áp lực rất lớn từ tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Dũng, thời gian gần đây công suất cực đại của hệ thống đã vượt 58.000 MW, trong khi sản lượng điện có những ngày vượt mốc 1 tỷ kWh. Đây là mức tiêu thụ rất cao, phản ánh rõ đà tăng trưởng mạnh của nền kinh tế.
Ông nhấn mạnh mối quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng GDP và nhu cầu năng lượng: "Khi kinh tế tăng trưởng, nhu cầu điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống cũng tăng tương ứng".
Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao trong giai đoạn tới, nhu cầu điện được dự báo tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, ngành năng lượng đang đối mặt nhiều thách thức, đặc biệt là biến động địa chính trị toàn cầu khiến chuỗi cung ứng năng lượng bị gián đoạn, kéo theo giá điện, than, dầu, khí biến động mạnh.
Bên cạnh đó, các cơ chế thương mại xanh như CBAM hay European Green Deal đang đặt ra yêu cầu giảm phát thải trong sản xuất điện, buộc Việt Nam phải tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, điều này cũng làm gia tăng độ phức tạp trong vận hành hệ thống do phụ thuộc thời tiết.
Từ góc nhìn vận hành hệ thống, ông Ngô Sơn Hải – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nhấn mạnh tiết kiệm điện không chỉ giúp giảm chi phí cho người dân mà còn mang ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng quốc gia.
Ông cho biết, với tốc độ tăng trưởng hiện nay, mỗi năm hệ thống cần bổ sung khoảng 4.000–5.000 MW công suất mới. Trong khi đó, để xây dựng các nguồn điện lớn như điện gió ngoài khơi hay điện khí LNG, thời gian chuẩn bị và vận hành có thể kéo dài 3–4 năm.
"Chỉ cần tiết kiệm khoảng 2% công suất tiêu thụ đã tương đương giảm nhu cầu đầu tư khoảng 1.000 MW," ông Hải phân tích, cho rằng đây là giải pháp nhanh, hiệu quả và ít tốn kém hơn nhiều so với đầu tư nguồn điện mới.
Theo ông, hệ thống điện phải huy động theo thứ tự từ nguồn giá rẻ đến nguồn giá cao. Khi nhu cầu tăng, các nguồn đắt đỏ buộc phải vận hành nhiều hơn, làm tăng chi phí chung. Vì vậy, tiết kiệm điện giúp giảm áp lực huy động nguồn giá cao, qua đó tối ưu chi phí toàn hệ thống.
EVN hiện đã triển khai nhiều công cụ hỗ trợ người dân và doanh nghiệp theo dõi và tối ưu hóa tiêu thụ điện thông qua hệ thống dữ liệu trực tuyến và các cổng thông tin chăm sóc khách hàng.
Ông Hải khuyến nghị trong mùa nắng nóng, đặc biệt với thiết bị điều hòa vốn chiếm tỉ trọng tiêu thụ lớn, người dân nên cài đặt nhiệt độ khoảng 26°C để cân bằng giữa hiệu quả làm mát và tiết kiệm điện. Đồng thời, cần hạn chế thất thoát hơi lạnh bằng cách đóng kín không gian sử dụng và bảo dưỡng thiết bị định kỳ để duy trì hiệu suất.
Với các không gian không cần điều hòa, nên ưu tiên thông gió tự nhiên hoặc các giải pháp chống nóng thụ động. Người dân và doanh nghiệp cũng được khuyến nghị hạn chế sử dụng đồng thời nhiều thiết bị công suất lớn trong khung giờ cao điểm, thường từ 18h đến 22h–23h vào mùa hè.
Ông nhấn mạnh: không phải hạn chế sử dụng điện, mà là phân bổ hợp lý để giảm áp lực cho hệ thống.
Công ty Cổ phần Imexpharm (Hose: IMP) vừa công bố nghị quyết HĐQT về việc bầu ông Liu Daping giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị nhiệm kỳ còn lại 2023 - 2027.
Cùng với đó bà Liu Ning được bổ nhiệm làm thành viên Ủy ban Đề cử và Thù lao, đồng thời là thành viên Ủy ban Kiểm toán và Quản lý rủi ro. HĐQT cũng bổ sung bà Hàn Thị Khánh Vinh vào Ủy ban Đề cử và Thù lao, trong khi ông Hoàng Đức Hùng được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch Ủy ban Kiểm toán và Quản lý rủi ro.
Theo thông tin từ Imexpharm ông Liu Daping sinh năm 1987 (quốc tịch Trung Quốc), có trình độ Cử nhân Công nghệ Dược phẩm. Trong khi đó, bà Liu Ning (sinh năm 1983, quốc tịch Trung Quốc) có chứng chỉ hành nghề luật tại Trung Quốc và là Kế toán viên công chứng (ACCA).
Động thái thay đổi nhân sự cấp cao diễn ra sau khi Imexpharm đón cổ đông chi phối mới. Giữa tháng 5/2026, Lian SGP Holding Pte. Ltd. - công ty con của Livzon Pharmaceutical Group (Trung Quốc) đã hoàn tất việc mua hơn 104,54 triệu cổ phiếu IMP, tương đương 67,8% vốn điều lệ của Imexpharm, qua đó trở thành cổ đông lớn và nắm quyền chi phối doanh nghiệp.
Với giá trị khoảng 6.000 tỷ đồng, đây được đánh giá là một trong những thương vụ M&A nổi bật của ngành dược Việt Nam trong năm, đánh dấu việc tập đoàn dược Trung Quốc chính thức nắm quyền kiểm soát một doanh nghiệp nội địa thuộc nhóm dẫn đầu về năng lực sản xuất thuốc chất lượng cao.
Bên cạnh đó, HĐQT Imexpharm cũng thông qua kế hoạch chi trả cổ tức năm 2025 bằng tiền mặt với tỉ lệ 6%, tương ứng 600 đồng/cổ phần. Ngày đăng ký cuối cùng dự kiến là 14/7/2026, còn ngày thanh toán dự kiến vào 21/7/2026.
Về kết quả kinh doanh, quý 1/2026 IMP ghi nhận doanh thu thuần hơn 546 tỷ đồng, giảm 8% so với cùng kỳ năm trước.
Hoạt động tài chính trong kỳ có diễn biến tích cực khi tăng doanh thu tài chính 25% lên 5,3 tỷ đồng và giảm được chi phí 23% còn 6,7 tỷ đồng. Đáng chú ý, doanh nghiệp giảm được 2 khoản chi phí vận hành, với chi phí bán hàng giảm 10% và chi phí quản lý doanh nghiệp giảm 5%. Nhờ vậy, lãi ròng quý I/2026 đạt 82 tỷ đồng, tăng 10%.
Báo cáo thị trường bất động sản Hà Nội quý 2/2026 của CBRE cho hay, nguồn cung chung cư tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, giá chung cư mở bán mới vẫn tăng dù giao dịch chững lại.
Theo bà Nguyễn Hoài An, Giám đốc cấp cao CBRE chi nhánh Hà Nội, phân khúc căn hộ chung cư ghi nhận tổng nguồn cung mở bán 16.600 căn, mức cao nhất kể từ năm 2020.
Thị trường ghi nhận sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu sản phẩm. Đáng chú ý, Hà Nội không còn chung cư mới có giá bán dưới 60 triệu đồng/m². Thay vào đó, hai phân khúc nổi bật nhất là 80 - 110 triệu đồng/m² và trên 120 triệu đồng/m², lần lượt chiếm 30% và 35% tổng nguồn cung mới.
Trong đó, chỉ tính riêng phân khúc trên 120 triệu đồng/m², thị trường căn hộ Hà Nội quý này đã ghi nhận hơn 3.000 căn từ 4 dự án tại nội đô và cận nội đô như Thanh Xuân, Tây Hồ và Đông Anh được mở bán.
Tuy nhiên, trái ngược với mức giá vẫn tăng, giao dịch lại đang chững lại. Tổng số căn bán được đạt hơn 5.800 căn, tương ứng 68% tổng nguồn cung mở bán mới. Tỷ lệ này tương đương với quý 1 năm nay, nhưng thấp hơn đáng kể so với giai đoạn 2024 - 2025 (thường xuyên vượt 90%, thậm chí vượt tổng số căn mở bán mới trong kỳ).
Mặt bằng lãi suất vay mua nhà ở mức cao tiếp tục là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người mua. "Thay vì xuống tiền nhanh như giai đoạn lãi suất thấp, khách hàng hiện có xu hướng cân nhắc kỹ hơn về dòng tiền và thời điểm tham gia thị trường, đặc biệt với những sản phẩm có giá trị lớn", bà Hoài An cho hay.
Cũng theo báo cáo của CBRE, tại thị trường sơ cấp (mở bán mới), giá bán trung bình căn hộ Hà Nội trong quý 2 đạt khoảng 95 triệu đồng/m² (chưa gồm VAT, phí bảo trì và trước chiết khấu), tăng 12% so với quý trước và tăng 21% so với cùng kỳ năm ngoái. Mức tăng này chủ yếu đến từ việc nhiều dự án mở bán trong quý nằm ở khu vực nội đô với mặt bằng giá cao.
Trong khi đó, thị trường thứ cấp (mua đi bán lại) bắt đầu xuất hiện dấu hiệu điều chỉnh. Giá bán trung bình đạt khoảng 60 triệu đồng/m², giảm 3% so với quý trước. Đây là lần đầu tiên giá căn hộ thứ cấp tại Hà Nội ghi nhận giảm theo quý kể từ cuối năm 2022. Đồng thời, tốc độ tăng giá theo năm cũng giảm còn 13%, thấp hơn đáng kể so với mức 24 - 26% của giai đoạn 2024 - 2025.
Đối với thị trường bất động sản gắn liền với đất tại Hà Nội, tổng nguồn cung mở bán mới của phân khúc này trong 6 tháng đầu năm đạt gần 2.100 căn, giảm 17% so với cùng kỳ năm trước. Riêng quý II, thị trường có hơn 1.110 căn thấp tầng được mở bán.
Đáng chú ý, khoảng 80% nguồn cung mới đến từ các đại đô thị tại Văn Giang (Hưng Yên), cho thấy xu hướng phát triển của phân khúc thấp tầng ngày càng mở rộng về các khu vực giáp ranh Hà Nội thay vì khu vực nội đô. Phần nguồn cung còn lại tập trung tại các khu vực nội đô và cận trung tâm, chủ yếu là sản phẩm shophouse.
Dù vậy, thanh khoản của phân khúc nhà đất thấp tầng tiếp tục suy giảm khi trong quý 2 chỉ có hơn 660 căn được giao dịch, giảm 30% so với quý trước và giảm tới 74% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân mặt bằng lãi suất vay mua nhà vẫn ở mức cao khiến nhiều người mua lựa chọn tiếp tục chờ đợi thay vì xuống tiền ngay.
Tại thị trường sơ cấp, giá bán trung bình bất động sản gắn liền với đất đạt khoảng 209 triệu đồng/m² theo diện tích đất, giảm 9% so với quý trước và gần 9% so với cùng kỳ năm ngoái. Diễn biến này chủ yếu phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu nguồn cung khi phần lớn sản phẩm mở bán thuộc các đại đô thị ven Hà Nội.
Trong khi đó, trên thị trường thứ cấp, giá biệt thự và liền kề trung bình đạt khoảng 195 triệu đồng/m², giảm 3% theo quý nhưng vẫn tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Theo CBRE, trước áp lực lãi suất cao, nhiều chủ nhà đang có xu hướng tạm dừng rao bán hoặc điều chỉnh kỳ vọng lợi nhuận.