Trước ý kiến cho rằng có sự tương đồng giữa một số câu hỏi logic trong đề thi đánh giá năng lực đợt 2 năm nay của ĐH Quốc gia TP.HCM với câu hỏi của các bài thi quốc tế, chiều qua (29.5), ĐH này cho biết đã tiến hành rà soát, thẩm định và đánh giá các câu hỏi phần logic trong đề thi, thành lập Hội đồng rà soát câu hỏi thi…
Từ đó hội đồng rà soát nhận định: “Sự tương đồng về dạng thức logic không phải là căn cứ để kết luận một câu hỏi được dịch hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của bài thi khác. Thực tế, trong nhiều kỳ thi chuẩn hóa quốc tế, các câu hỏi cùng dạng logic có thể có cấu trúc suy luận tương tự nhưng khác nhau về ngữ cảnh, dữ kiện và cách triển khai nội dung”.
Trên cơ sở đó, ĐH Quốc gia TP.HCM khẳng định chưa ghi nhận căn cứ cho thấy các câu hỏi phần logic trong đề thi đánh giá năng lực đợt 2 năm 2026 là bản dịch nguyên dạng hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của các bài thi nước ngoài.
Tuy nhiên, vụ việc này lại đặt ra một câu hỏi rộng hơn và có ý nghĩa lâu dài hơn đối với lĩnh vực khảo thí: đâu là ranh giới giữa học hỏi và sao chép trong quá trình xây dựng đề thi?
Trước hết cần nhìn nhận rằng khảo thí là một lĩnh vực khoa học mang tính quốc tế rất cao. Những nguyên lý về đo lường, đánh giá năng lực và thiết kế câu hỏi được hình thành, kiểm chứng và phát triển thông qua cộng đồng học thuật toàn cầu.
Vì vậy, việc những người làm khảo thí ở Việt Nam nghiên cứu các kỳ thi như SAT, LSAT hay PISA là điều hoàn toàn bình thường. Trên thực tế, nếu không học hỏi từ những thành tựu đã được kiểm chứng của thế giới thì mới là điều đáng lo ngại.
Các lý thuyết khảo thí thường khá trừu tượng. Muốn hiểu thế nào là một câu hỏi đánh giá tư duy tốt, người ta không chỉ đọc sách lý thuyết mà còn phải nghiên cứu những đề thi đã vận hành thành công trong thực tế. Chính vì vậy, các đề thi quốc tế từ lâu đã trở thành nguồn học liệu quan trọng đối với những người làm nghề.
Nói cách khác, tham khảo các đề thi quốc tế không phải là vấn đề. Vấn đề nằm ở cách thức tham khảo.
Trong những kỳ thi như LSAT (kỳ thi chuẩn hóa đầu vào các trường luật tại Mỹ và Canada, nổi tiếng với các câu hỏi tư duy logic phức tạp), mỗi câu hỏi thường được xây dựng rất công phu. Có thể hình dung phần logic cốt lõi của câu hỏi như một “bộ xương”, còn tên nhân vật, bối cảnh hay câu chuyện bên ngoài chỉ là phần “da thịt” bên ngoài.
Nếu một câu hỏi được sao chép nguyên vẹn cả bộ xương lẫn lớp da thịt bên ngoài (có thể đã cho thay đổi quần áo bên ngoài một chút) thì vấn đề đã rõ ràng. Nhưng trong thực tế, phần lớn tranh luận lại nằm ở vùng trung gian phức tạp hơn. Người biên soạn có thể học hỏi cấu trúc tư duy phía sau rồi phát triển thành những phiên bản mới với dữ liệu và bối cảnh khác.
Chính ở khoảng giữa này mà ranh giới giữa học hỏi và sao chép trở nên khó xác định hơn. Đó cũng là lý do những tranh luận như hiện nay không thể chỉ được giải quyết bằng cảm giác “giống” hay “không giống”.
Trong khoa học cũng như trong giáo dục, hầu như không có ai làm việc hoàn toàn từ con số không. Chúng ta đều học hỏi từ những người đi trước. Điều quan trọng không phải là ý tưởng ban đầu xuất phát từ đâu, mà là người sử dụng ý tưởng đó đã đóng góp thêm điều gì, đã phát triển nó đến mức nào và đã tạo ra giá trị mới ra sao.
Chính vì vậy, khi đánh giá một câu hỏi có phải là sao chép hay không, giới chuyên môn thường không chỉ nhìn vào sự giống nhau bề mặt mà còn xem xét mức độ chuyển hóa, mức độ sáng tạo và vai trò của câu hỏi đó trong toàn bộ hệ thống đánh giá.
Trong thực tế giáo dục, một chuyên gia giỏi thường đồng thời đảm nhận nhiều vai trò khác nhau. Họ là giảng viên, hiểu rõ các nguyên lý đánh giá và biết thế nào là một câu hỏi tốt. Họ cũng có thể tham gia hoạt động luyện thi. Trong vai trò này, họ nghiên cứu những dạng câu hỏi đã được chứng minh là hiệu quả, phân tích cấu trúc của chúng rồi tạo ra nhiều câu hỏi tương tự để người học luyện tập. Đó là công việc hoàn toàn chính đáng.
Nhưng đôi khi chính những người này lại được mời tham gia xây dựng ngân hàng đề cho một kỳ thi chính thức. Và lúc đó vai trò nghề nghiệp của họ đã thay đổi.
Họ vẫn cần học hỏi từ các tổ chức khảo thí lớn trên thế giới, nhưng điều cần học là nguyên lý, phương pháp và triết lý đánh giá. Điều mà một cơ quan khảo thí cần xây dựng về lâu dài là một ngân hàng câu hỏi đủ độc lập để trở thành chuẩn mực của chính mình.
Sự khác biệt nằm ở chỗ: nếu thành công của một trung tâm luyện thi được đo bằng khả năng giúp học sinh nhận diện và dự đoán các dạng câu hỏi có thể xuất hiện trong kỳ thi, thì thành công của một cơ quan khảo thí lại nằm ở khả năng bảo đảm rằng đề thi của mình không thể bị dự đoán trước.
Lý do rất đơn giản. Nếu đề thi trở nên quá dễ đoán, lợi thế sẽ ngày càng nghiêng về những thí sinh có điều kiện tham gia các khóa luyện thi chuyên biệt. Khi đó, kết quả thi có nguy cơ phản ánh mức độ luyện tập nhiều hơn là năng lực thực sự của người học.
Đây mới là điểm đáng suy nghĩ nhất trong toàn bộ cuộc tranh luận hiện nay.
Tất nhiên, đây chỉ là một giả thuyết để suy nghĩ chứ không phải một kết luận về vụ việc đang được nhắc đến. Tuy nhiên, với tư cách một người từng tham gia công việc liên quan đến khảo thí, tôi cho rằng đôi khi những tranh luận như thế này có thể xuất phát từ sự mờ nhạt giữa các vai trò nghề nghiệp.
Một thực hành hoàn toàn hợp lý trong môi trường dạy học hoặc luyện thi chưa chắc đã còn phù hợp khi được đưa vào môi trường khảo thí chính thức. Người biên soạn hoàn toàn có thể không có bất kỳ ý định sao chép nào. Họ chỉ đang mang theo những thói quen nghề nghiệp vốn phù hợp ở vai trò giảng dạy hoặc luyện thi sang một vai trò khác đòi hỏi những chuẩn mực cao hơn về tính độc lập của câu hỏi và ngân hàng đề.
Nếu không có những quy định đủ rõ ràng về nguồn tham khảo, mức độ chuyển thể được phép và trách nhiệm của người viết câu hỏi, những sự nhầm lẫn như vậy hoàn toàn có thể xảy ra.
Vấn đề tranh luận hiện nay là cơ hội để các đơn vị khảo thí nhìn lại quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi của mình. Những quy định rõ ràng hơn về việc tham khảo các nguồn quốc tế, về tiêu chuẩn đối với người biên soạn câu hỏi, về cơ chế phản biện chuyên môn và về tính độc lập của ngân hàng đề có thể giúp tránh những tranh luận tương tự trong tương lai.
Khảo thí suy cho cùng là câu chuyện của niềm tin công chúng. Một kỳ thi lớn không được đánh giá bằng việc có hay không có tranh cãi, mà bằng cách những người có thẩm quyền ứng xử trước những tranh cãi ấy. Sự minh bạch, tinh thần cầu thị, những quy trình giám sát chặt chẽ và khả năng tự điều chỉnh khi cần thiết mới là nền tảng tạo nên uy tín lâu dài của một tổ chức khảo thí.
Nếu nhìn theo hướng đó, vụ việc hiện nay không chỉ là một tranh cãi về vài câu hỏi cụ thể. Nó cũng là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực nghề nghiệp, củng cố niềm tin xã hội và bảo đảm rằng mọi thí sinh đều được đánh giá trong một môi trường công bằng và đáng tin cậy.
Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, về biên chế giáo viên, tính đến hết năm học 2025-2026, tổng số giáo viên mầm non, phổ thông là 1.277.297 giáo viên mầm non, phổ thông và 98.477 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông.
Cả nước hiện còn thiếu 110.930 giáo viên các cấp học mầm non, phổ thông trong biên chế so với định mức quy định.
Trước đó, trong kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chuẩn bị năm học mới 2026 - 2027 đã giao Ban Tổ chức Trung ương phối hợp Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các địa phương khẩn trương đề xuất phương án biên chế, quản lý biên chế, chế độ, chính sách cho ngành giáo dục và đào tạo.
Linh hoạt điều động nhân sự, chấm dứt tình trạng thừa thiếu cục bộ, bảo đảm nguyên tắc "Ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên".
Nghiên cứu chuyển đổi cơ chế giao chỉ tiêu, biên chế "cứng" cho từng trường sang áp dụng biên chế linh hoạt, cho phép luân chuyển giáo viên giữa các trường trong cùng một địa bàn.
Bộ Nội vụ được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu việc phân cấp giao tổng biên chế cho địa phương tự chủ tuyển dụng và sử dụng dựa trên định mức thực tế học sinh/lớp.
Đồng thời phối hợp với các địa phương khẩn trương rà soát thực trạng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo cấp ở xã và đề xuất phương án xử lý (hoàn thành trong quý 3-2026).
Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27-6-2026 cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương rà soát, tháo gỡ ngay các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ đối với các dự án chậm triển khai thuộc các thành phần kinh tế, các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia (như các tuyến đường sắt đô thị Hà Nội và TP.HCM, tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc, một số tuyến trên đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; bảo đảm tiến độ xây dựng Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, mở rộng Cảng hàng không Phú Quốc, Chu Lai, Cà Mau...), các Chương trình mục tiêu quốc gia; tập trung tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài.
Tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về giá; rà soát, đánh giá kỹ chi phí cấu thành giá nguyên vật liệu xây dựng (đất, cát, đá...), xác định chính xác nguyên nhân biến động giá, nguồn cung trong thời gian qua để có giải pháp giải quyết dứt điểm, phối hợp với lực lượng chức năng xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, cục bộ, lợi dụng biến động giá xăng dầu để tăng giá bất hợp lý.
Khẩn trương tháo gỡ khó khăn liên quan đến cấp phép mỏ đá, cát, đất, đưa vào khai thác các mỏ vật liệu mới. Căn cứ nhu cầu nguyên vật liệu cho đầu tư công, cần thiết có giải pháp thu hồi các giấy phép đã cấp không thực hiện đúng quy định để phục vụ cho việc triển khai các dự án, công trình quan trọng.
Phát triển bền vững, an toàn, lành mạnh thị trường bất động sản. Các địa phương Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình... chủ động rà soát, điều chỉnh, đề xuất để xác định cụ thể vị trí, quy mô phát triển nhà ở cho thuê gắn với các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn với trọng tâm xác định nhu cầu nhà ở cho thuê theo phân khúc làm cơ sở quy hoạch và phân bổ nguồn lực.
Tại hội thảo do Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo và Hội đồng Y khoa Quốc gia tổ chức về chủ đề "Triển khai công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược ngành y tế: Từ nghiên cứu phát triển, xây dựng tiêu chuẩn, thử nghiệm và ứng dụng lâm sàng", TS Nguyễn Ngô Quang, Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, cho biết ngành y tế đang tập trung nguồn lực vào ba mũi nhọn công nghệ cốt lõi: liệu pháp tế bào (tế bào gốc, tế bào miễn dịch), vắc xin thế hệ mới (vắc xin mRNA, vắc xin phối hợp) và sản phẩm y tế cá thể hóa ứng dụng in 3D.
Theo TS Ngô Quang, mục tiêu của ngành là làm chủ các công nghệ này và hướng tới sở hữu các sản phẩm thương mại hoàn chỉnh vào năm 2030. Năm 2026, Bộ Y tế đã đề xuất 11 nhiệm vụ công nghệ chiến lược và 135 Tiêu chuẩn quốc gia để làm cơ sở cho sự phát triển bền vững.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức cũng đồng thời cho rằng các đơn vị công lập không hề thiếu năng lực nghiên cứu khoa học. Theo Thứ trưởng, với những chính sách mới được ban hành, đặc biệt là việc triển khai Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, môi trường pháp lý cho khoa học công nghệ hiện nay đã có những thay đổi rất lớn.
Trong thời gian tới, các trường đại học, bệnh viện lớn như Đại học Y Hà Nội, Đại học Y Dược TP.HCM, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy cùng nhiều cơ sở nghiên cứu trên cả nước sẽ có điều kiện phát huy mạnh mẽ tiềm lực khoa học công nghệ.
Đề cập đến hình thức xét tuyển lớp 10 thay cho thi tuyển đầu vào cấp THPT, trưa nay (17.5), trao đổi với phóng viên Thanh Niên, ông Nguyễn Văn Ngai, nguyên Phó giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM trong giai đoạn thực hiện phương thức này, cho biết: "Trước đây đã có nhiều năm TP.HCM thực hiện xét tuyển lớp 10 công lập. Đó là năm học 2006-2007, song song với hình thức thi tuyển lớp 10 đối với các trường THPT ở các quận nội thành và vùng ven, TP.HCM quyết định thực hiện xét tuyển tại 3 huyện Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi".
Sau năm học đó, việc xét tuyển mở rộng dần dần, đến năm học 2013-2014, TP.HCM có 9 quận, huyện trong số 24 quận, huyện thực hiện xét tuyển lớp 10 là huyện Bình Chánh, Củ Chi, Cần Giờ, Hóc Môn, Thủ Đức, Bình Tân, quận 9, 2, 6. Tuy nhiên, ông Ngai cho biết, đây cũng là giai đoạn TP.HCM có nhiều học sinh lớp 10, 11 nghỉ, bỏ học do không theo kịp chương trình THPT.
Ông Ngai cũng cho biết trong một cuộc họp đánh giá về việc thí điểm thực hiện xét tuyển lớp 10 vào đầu năm học 2013-2014, lãnh đạo các trường THPT, trong đó có ý kiến thẳng thắn của Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Hữu Huân (Q.Thủ Đức lúc bấy giờ) cho rằng việc xét tuyển vào lớp 10 đã làm giảm động lực học tập của học sinh, các em không cần cố gắng vẫn được vào học lớp 10 công lập khiến chất lượng đầu vào ngày càng giảm sút.
Thời điểm đó, Sở GD-ĐT dự kiến mở rộng hình thức xét tuyển lớp 10 ở quận 10 nhưng sau khi nghe lãnh đạo các trường có ý kiến thì Ban giám đốc đã họp bàn và thống nhất tạm dừng phương thức này.
Theo đó, vào ngày 23.10.2013, UBND TP.HCM có văn bản chấp thuận theo đề nghị của Sở GD-ĐT TP về việc tổ chức thi tuyển sinh lớp 10 công lập từ năm học 2014-2015. Như vậy, tất cả các trường THPT trên địa bàn thành phố phải tổ chức thi lớp 10 để tuyển học sinh vào công lập theo quy chế tuyển sinh của Bộ GD-ĐT. Sở GD-ĐT có nhiệm vụ chỉ đạo hiệu trưởng các trường THPT, THCS có kế hoạch chuẩn bị, triển khai nghiêm túc quy định này ngay từ năm học 2013-2014.
Sở GD-ĐT TP.HCM mới đây cho biết định hướng từ năm 2027 sẽ tính toán mở rộng khu vực xét tuyển, học sinh không phải thi lớp 10 nhằm giảm áp lực thi cử. Khi các loại hình trường đảm bảo thực hiện chủ trương, Sở sẽ nghiên cứu xây dựng các tiêu chí xét tuyển không chỉ đảm quyền lợi của học sinh mà còn để các trường THPT tuyển chọn được học sinh có nguyện vọng, phù hợp với định hướng phát triển của mỗi nhà trường.
Trước chủ trương này, ông Nguyễn Văn Ngai cho rằng Sở GD-ĐT TP.HCM cần có nghiên cứu kỹ càng và đánh giá tổng thể tình hình trước khi có quyết định chính thức về xét tuyển lớp 10.
Việc phổ cập trung học hiện nay cần phải giải thích cho người dân hiểu tường tận. Tức học sinh học trung học ở trường phổ thông công lập, trường phổ thông tư thục, trung tâm giáo dục thường xuyên - giáo dục nghề nghiệp... thì bằng tốt nghiệp THPT, cơ hội để các em xét tuyển vào đại học là như nhau chứ không phân biệt như trước.
Đó là chưa kể thời gian gần đây TP.HCM thực hiện miễn học phí cho học sinh THPT thì các em học ngoài công lập cũng được hỗ trợ bằng với khoản học phí của học sinh công lập.
"Tôi cho rằng kiến thức bậc phổ thông là nền tảng quan trọng để TP đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Nếu bỏ thi lớp 10 cần phải có lộ trình cụ thể để tránh không lâm vào tình trạng như trước đây, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục", ông Ngai nói.
Còn ông Lê Văn Linh, nguyên hiệu trưởng một trường THPT tư thục tại TP.HCM, cho rằng tiêu chí xét tuyển bằng học bạ hay bằng hình thức nào khác thì nghiên cứu để khắc phục những vấn đề chưa đúng, vốn đã tồn tại quá lâu trong giáo dục.
Ông Lê Văn Linh nói rằng xét học bạ tính công bằng sẽ thấp bởi giáo viên hiện giờ mỗi người có cách kiểm tra, cho điểm khác nhau, đề kiểm tra, đề thi mỗi trường lại cũng khác nhau. Khi tuyển sinh trên diện rộng, chỉ cần cách nhau 0,1 là đã có thể thắng - thua. Chưa kể việc giảng dạy và cho điểm ở các trường tư và các trường có tên đi kèm chữ quốc tế lại rất khác, không lẽ không cho học sinh của những trường này tham gia xét tuyển?.
Chính vì vậy, nguyên hiệu trưởng trường tư cho rằng thay vì đổi tiêu chí tuyển sinh, cơ quan quản lý nên nghiên cứu để khắc phục những vấn đề chưa đúng, vốn đã tồn tại quá lâu trong giáo dục.
Theo ông Linh, tại sao chất lượng đào tạo ở các trường công lập lại khác nhau trong khi cùng là cơ sở vật chất của nhà nước, đội ngũ quản lý, giảng dạy cũng được nhà nước đào tạo?
"Chắc chắn mọi người sẽ bảo là do điểm chuẩn, đầu vào... Đúng là mọi thứ đang nằm ở chỗ này, cơ chế tuyển sinh, điểm chuẩn... đã tồn tại quá lâu gây bao tổn thất và áp lực cho cả xã hội. Hệ lụy của nó là con mới vào lớp 6 phụ huynh đã phải tính đường lớp 10 con học ở trường nào, muốn vào đó thì phải cho con luyện thi ở đâu?...
Hãy thử thống kê xem có bao nhiêu học sinh đang tham gia học THPT không phải ở ngôi trường gần nhà nhất? Hậu quả của việc đa số học sinh phải tham gia học tập ở những trường cách xa nhà là gì? Sáng con phải dậy sớm, không kịp ăn sáng, ba mẹ phải tất bật đưa con đi học, tranh thủ xén giờ làm để đón con, xăng xe, khí thải, kẹt xe cũng có phần góp không nhỏ của bất hợp lý này", ông Linh đặt vấn đề.
Câu hỏi lớn thứ hai là tại sao ở một khu dân cư, số chỗ học lại giảm dần từ cấp mầm non, tiểu học, THCS rồi THPT? Đã phổ cập giáo dục xong, giờ lại gặp tình trạng con trẻ không có chỗ học? Mỗi năm hơn 10.000 học sinh ở TP.HCM không có chỗ học ở lớp 10 nói lên điều gì? Chuẩn bị đủ cơ sở cho số học sinh này có khó không?
Ông Linh cho rằng hiện nay địa điểm, ngân sách có đủ, bây giờ làm sẽ rất thuận lợi do sắp xếp lại các cơ quan nhà nước, địa điểm dôi ra khá nhiều, có nhiều trụ sở rất đẹp, chuyển đổi công năng xây trường học vẫn còn kịp.
Từ đó, theo ông Lê Văn Linh, cần giải quyết 2 vấn đề thì mọi áp lực sẽ tan biến.
Để làm được 2 việc này khó nhưng không phải là không làm được, thậm chí nếu cần áp đặt phân tuyến trong giai đoạn đầu, phụ huynh cũng sẽ ủng hộ, đương nhiên là trường chuyên sẽ có cơ chế riêng.
Sau đây là gợi ý đáp án của các giáo viên Tuyensinh247:
I. Đọc hiểu văn bản văn học và viết đoạn văn nghị luận văn học (5 điểm)
Câu 1 (3 điểm):
a.
- Lời người kể chuyện: Biết Điều mở sổ, viết vào đó một dòng
- Lời nhân vật: Nếu mình lo sợ mất mình, thì có lẽ mình đã bắt đầu không chỉ là một robot nữa rồi.
b. Vai trò của chi tiết trong việc thể hiện đặc điểm của nhân vật Biết Điều:
- Thể hiện Biết Điều là một robot có khả năng suy nghĩ, tự nhận thức về bản thân.
- Cho thấy chú không chỉ thực hiện các mệnh lệnh được lập trình mà còn biết trăn trở về sự tồn tại và giá trị của chính mình.
- Qua đó làm nổi bật khát vọng được thấu hiểu, được công nhận như một cá thể có cảm xúc, góp phần khắc họa hình ảnh Biết Điều giàu cảm xúc, tình cảm.
c.
- Câu rút gọn: "Rồi đặt tay lên vai Biết Điều".
- Khôi phục thành phần bị rút gọn: Rồi ông đặt tay lên vai Biết Điều.
- Tác dụng:
+ Giúp câu văn ngắn gọn, tránh lặp lại chủ ngữ "ông".
+ Làm cho lời kể tự nhiên, mạch văn liền mạch.
+ Nhấn mạnh hành động ân cần, yêu thương của ông dành cho Biết Điều.
d.
Học sinh trình bày quan điểm cá nhân phù hợp. Sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensinh247.com:
- Em cho rằng khi máy móc ngày càng giống con người thì một số người cũng đang dần sống như máy móc. Nhiều người quá phụ thuộc vào công nghệ, sống vội vàng, làm việc theo thói quen mà ít quan tâm đến cảm xúc của bản thân và những người xung quanh. Tuy nhiên, điều làm nên giá trị của con người chính là tình yêu thương, sự đồng cảm và khả năng sẻ chia. Vì vậy, mỗi người cần biết cân bằng giữa công nghệ và đời sống cảm xúc để không trở nên vô cảm trong thế giới hiện đại.
*Tiếp tục cập nhật
Năm nay, hơn 151.300 học sinh đăng ký thi lớp 10 công lập ở TP HCM, khoảng 78% đỗ.
Điểm xét tuyển lớp 10 đại trà là tổng ba môn, cộng điểm ưu tiên, khuyến khích (nếu có). Với các lớp chuyên, công thức là tổng điểm ba môn nói trên theo hệ số 1, cộng điểm môn chuyên hệ số 2.
Điểm chuẩn vào lớp 10 ở TP HCM, Bình Dương cũ phân hóa giữa trung tâm và ngoại thành trong khi các trường ở Bà Rịa - Vũng Tàu biến động mạnh trong năm 2025 do thay đổi công thức tính điểm.
Ba năm qua, THPT Nguyễn Thượng Hiền luôn có điểm đầu vào lớp 10 cao nhất với 23,5-25,5 điểm. Các gương mặt quen thuộc trong top 10 thường lấy mức trên 22 điểm, như THPT Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Thị Minh Khai, Phú Nhuận, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Phú.
Ở chiều ngược lại, các trường ngoại thành ở khu vực Cần Giờ, Bình Chánh có đầu vào thấp, thường loanh quanh mức 10 điểm. Thậm chí một số trường ở khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu lấy chưa đến 3 điểm mỗi môn như THPT Dương Bạch Mai, Trần Văn Quan, Ngô Quyền, Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Phú Mỹ.