Trước ý kiến cho rằng có sự tương đồng giữa một số câu hỏi logic trong đề thi đánh giá năng lực đợt 2 năm nay của ĐH Quốc gia TP.HCM với câu hỏi của các bài thi quốc tế, chiều qua (29.5), ĐH này cho biết đã tiến hành rà soát, thẩm định và đánh giá các câu hỏi phần logic trong đề thi, thành lập Hội đồng rà soát câu hỏi thi…
Từ đó hội đồng rà soát nhận định: “Sự tương đồng về dạng thức logic không phải là căn cứ để kết luận một câu hỏi được dịch hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của bài thi khác. Thực tế, trong nhiều kỳ thi chuẩn hóa quốc tế, các câu hỏi cùng dạng logic có thể có cấu trúc suy luận tương tự nhưng khác nhau về ngữ cảnh, dữ kiện và cách triển khai nội dung”.
Trên cơ sở đó, ĐH Quốc gia TP.HCM khẳng định chưa ghi nhận căn cứ cho thấy các câu hỏi phần logic trong đề thi đánh giá năng lực đợt 2 năm 2026 là bản dịch nguyên dạng hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của các bài thi nước ngoài.
Tuy nhiên, vụ việc này lại đặt ra một câu hỏi rộng hơn và có ý nghĩa lâu dài hơn đối với lĩnh vực khảo thí: đâu là ranh giới giữa học hỏi và sao chép trong quá trình xây dựng đề thi?
Trước hết cần nhìn nhận rằng khảo thí là một lĩnh vực khoa học mang tính quốc tế rất cao. Những nguyên lý về đo lường, đánh giá năng lực và thiết kế câu hỏi được hình thành, kiểm chứng và phát triển thông qua cộng đồng học thuật toàn cầu.
Vì vậy, việc những người làm khảo thí ở Việt Nam nghiên cứu các kỳ thi như SAT, LSAT hay PISA là điều hoàn toàn bình thường. Trên thực tế, nếu không học hỏi từ những thành tựu đã được kiểm chứng của thế giới thì mới là điều đáng lo ngại.
Các lý thuyết khảo thí thường khá trừu tượng. Muốn hiểu thế nào là một câu hỏi đánh giá tư duy tốt, người ta không chỉ đọc sách lý thuyết mà còn phải nghiên cứu những đề thi đã vận hành thành công trong thực tế. Chính vì vậy, các đề thi quốc tế từ lâu đã trở thành nguồn học liệu quan trọng đối với những người làm nghề.
Nói cách khác, tham khảo các đề thi quốc tế không phải là vấn đề. Vấn đề nằm ở cách thức tham khảo.
Trong những kỳ thi như LSAT (kỳ thi chuẩn hóa đầu vào các trường luật tại Mỹ và Canada, nổi tiếng với các câu hỏi tư duy logic phức tạp), mỗi câu hỏi thường được xây dựng rất công phu. Có thể hình dung phần logic cốt lõi của câu hỏi như một “bộ xương”, còn tên nhân vật, bối cảnh hay câu chuyện bên ngoài chỉ là phần “da thịt” bên ngoài.
Nếu một câu hỏi được sao chép nguyên vẹn cả bộ xương lẫn lớp da thịt bên ngoài (có thể đã cho thay đổi quần áo bên ngoài một chút) thì vấn đề đã rõ ràng. Nhưng trong thực tế, phần lớn tranh luận lại nằm ở vùng trung gian phức tạp hơn. Người biên soạn có thể học hỏi cấu trúc tư duy phía sau rồi phát triển thành những phiên bản mới với dữ liệu và bối cảnh khác.
Chính ở khoảng giữa này mà ranh giới giữa học hỏi và sao chép trở nên khó xác định hơn. Đó cũng là lý do những tranh luận như hiện nay không thể chỉ được giải quyết bằng cảm giác “giống” hay “không giống”.
Trong khoa học cũng như trong giáo dục, hầu như không có ai làm việc hoàn toàn từ con số không. Chúng ta đều học hỏi từ những người đi trước. Điều quan trọng không phải là ý tưởng ban đầu xuất phát từ đâu, mà là người sử dụng ý tưởng đó đã đóng góp thêm điều gì, đã phát triển nó đến mức nào và đã tạo ra giá trị mới ra sao.
Chính vì vậy, khi đánh giá một câu hỏi có phải là sao chép hay không, giới chuyên môn thường không chỉ nhìn vào sự giống nhau bề mặt mà còn xem xét mức độ chuyển hóa, mức độ sáng tạo và vai trò của câu hỏi đó trong toàn bộ hệ thống đánh giá.
Trong thực tế giáo dục, một chuyên gia giỏi thường đồng thời đảm nhận nhiều vai trò khác nhau. Họ là giảng viên, hiểu rõ các nguyên lý đánh giá và biết thế nào là một câu hỏi tốt. Họ cũng có thể tham gia hoạt động luyện thi. Trong vai trò này, họ nghiên cứu những dạng câu hỏi đã được chứng minh là hiệu quả, phân tích cấu trúc của chúng rồi tạo ra nhiều câu hỏi tương tự để người học luyện tập. Đó là công việc hoàn toàn chính đáng.
Nhưng đôi khi chính những người này lại được mời tham gia xây dựng ngân hàng đề cho một kỳ thi chính thức. Và lúc đó vai trò nghề nghiệp của họ đã thay đổi.
Họ vẫn cần học hỏi từ các tổ chức khảo thí lớn trên thế giới, nhưng điều cần học là nguyên lý, phương pháp và triết lý đánh giá. Điều mà một cơ quan khảo thí cần xây dựng về lâu dài là một ngân hàng câu hỏi đủ độc lập để trở thành chuẩn mực của chính mình.
Sự khác biệt nằm ở chỗ: nếu thành công của một trung tâm luyện thi được đo bằng khả năng giúp học sinh nhận diện và dự đoán các dạng câu hỏi có thể xuất hiện trong kỳ thi, thì thành công của một cơ quan khảo thí lại nằm ở khả năng bảo đảm rằng đề thi của mình không thể bị dự đoán trước.
Lý do rất đơn giản. Nếu đề thi trở nên quá dễ đoán, lợi thế sẽ ngày càng nghiêng về những thí sinh có điều kiện tham gia các khóa luyện thi chuyên biệt. Khi đó, kết quả thi có nguy cơ phản ánh mức độ luyện tập nhiều hơn là năng lực thực sự của người học.
Đây mới là điểm đáng suy nghĩ nhất trong toàn bộ cuộc tranh luận hiện nay.
Tất nhiên, đây chỉ là một giả thuyết để suy nghĩ chứ không phải một kết luận về vụ việc đang được nhắc đến. Tuy nhiên, với tư cách một người từng tham gia công việc liên quan đến khảo thí, tôi cho rằng đôi khi những tranh luận như thế này có thể xuất phát từ sự mờ nhạt giữa các vai trò nghề nghiệp.
Một thực hành hoàn toàn hợp lý trong môi trường dạy học hoặc luyện thi chưa chắc đã còn phù hợp khi được đưa vào môi trường khảo thí chính thức. Người biên soạn hoàn toàn có thể không có bất kỳ ý định sao chép nào. Họ chỉ đang mang theo những thói quen nghề nghiệp vốn phù hợp ở vai trò giảng dạy hoặc luyện thi sang một vai trò khác đòi hỏi những chuẩn mực cao hơn về tính độc lập của câu hỏi và ngân hàng đề.
Nếu không có những quy định đủ rõ ràng về nguồn tham khảo, mức độ chuyển thể được phép và trách nhiệm của người viết câu hỏi, những sự nhầm lẫn như vậy hoàn toàn có thể xảy ra.
Vấn đề tranh luận hiện nay là cơ hội để các đơn vị khảo thí nhìn lại quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi của mình. Những quy định rõ ràng hơn về việc tham khảo các nguồn quốc tế, về tiêu chuẩn đối với người biên soạn câu hỏi, về cơ chế phản biện chuyên môn và về tính độc lập của ngân hàng đề có thể giúp tránh những tranh luận tương tự trong tương lai.
Khảo thí suy cho cùng là câu chuyện của niềm tin công chúng. Một kỳ thi lớn không được đánh giá bằng việc có hay không có tranh cãi, mà bằng cách những người có thẩm quyền ứng xử trước những tranh cãi ấy. Sự minh bạch, tinh thần cầu thị, những quy trình giám sát chặt chẽ và khả năng tự điều chỉnh khi cần thiết mới là nền tảng tạo nên uy tín lâu dài của một tổ chức khảo thí.
Nếu nhìn theo hướng đó, vụ việc hiện nay không chỉ là một tranh cãi về vài câu hỏi cụ thể. Nó cũng là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực nghề nghiệp, củng cố niềm tin xã hội và bảo đảm rằng mọi thí sinh đều được đánh giá trong một môi trường công bằng và đáng tin cậy.
Tại buổi họp báo về kinh tế - xã hội TP. HCM vào chiều 14.5, ông Hồ Tấn Minh, Chánh văn phòng Sở GD-ĐT TP. HCM, cho biết ngành giáo dục thành phố đang từng bước nghiên cứu mô hình tuyển sinh mới phù hợp với điều kiện từng địa phương. Theo đó, từ năm học tới, một số khu vực có đủ cơ sở vật chất và nguồn lực giáo dục có thể triển khai phương thức xét tuyển lớp 10 thay vì tổ chức thi tuyển tập trung như hiện nay.
Theo Chánh văn phòng Sở GD-ĐT TP.HCM, năm học 2025-2026, TP. HCM có 169.972 học sinh lớp 9 hoàn thành chương trình THCS, đạt tỷ lệ gần 99,81%. Tuy nhiên, chỉ có 151.269 em đăng ký dự thi lớp 10 công lập. Điều này đồng nghĩa khoảng hơn 17.000 học sinh đã lựa chọn những hướng đi khác ngoài hệ thống trường THPT công lập.
Con số này phản ánh rõ xu hướng phân luồng giáo dục đang dần phát huy hiệu quả. Thay vì tập trung bằng mọi giá vào trường công lập, nhiều học sinh và phụ huynh đã chủ động lựa chọn học nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên, trường quốc tế hoặc các mô hình đào tạo kỹ năng chuyên sâu.
Từ nhiều năm nay, TP.HCM đã ban hành bộ tiêu chuẩn tạm thời phổ cập bậc trung học (trong đó bao gồm cấp THCS, THPT) để tiến tới phổ cập cấp THPT theo chủ trương của Đảng và nhà nước.
Với chủ trương này, khi các loại hình trường phổ thông và tương đương bao gồm trường THPT công lập và ngoài công lập, trường trung học nghề, trung tâm GDNN-GDTX, được hình thành bài bản thì học sinh có thể lựa chọn cho mình loại hình học tập phù hợp với năng lực, điều kiện gia đình, định hướng nghề nghiệp...
Như vậy TP sẽ tiến tới không tổ chức thi tuyển lớp 10 đại trà mà sẽ thực hiện phương thức xét tuyển vào cấp THPT với tiêu chí đảm bảo công bằng, học sinh học tập theo đúng năng lực, nguyện vọng và đảm bảo gần nhà.
"Khi các loại hình trường đảm bảo thực hiện chủ trương thì sẽ sở nghiên cứu xây dựng các tiêu chí xét tuyển không chỉ đảm quyền lợi của học sinh mà còn đảm bảo các trường THPT tuyển chọn được học sinh có nguyện vọng, phù hợp với định hướng phát triển của mỗi nhà trường".
Cũng theo ông Minh, trong năm đầu tiên tuyển sinh lớp 10 sau sáp nhập, TP.HCM có xã Thạnh An, đặc khu Côn Đảo đã thực hiện xét tuyển lớp 10. Trong những năm học tiếp theo, Sở GD-ĐT sẽ tiếp tục nghiên cứu để mở rộng ở những khu vực đủ điều kiện về cơ sở vật chất, số lượng học sinh...
Để hiện thực hóa lộ trình giảm áp lực tuyển sinh, bài toán quan trọng nhất theo ngành giáo dục TP.HCM chính là cơ sở vật chất. Thành phố hiện triển khai "Chiến dịch 150 ngày" nhằm hoàn thành khoảng 1.000 phòng học mới phục vụ năm học 2026-2027.
Hơn 100 dự án trường học đang được rà soát và đẩy nhanh tiến độ. Mục tiêu của TP. HCM là đạt tỷ lệ 300 phòng học trên 10.000 dân trong độ tuổi đi học, qua đó tạo điều kiện mở rộng quy mô tuyển sinh và giảm áp lực quá tải nhiều năm qua.
Theo ông Hồ Tấn Minh, khi cơ sở vật chất được đảm bảo, thành phố sẽ có thêm dư địa để triển khai các mô hình tuyển sinh linh hoạt, phù hợp với đặc điểm từng địa bàn thay vì áp dụng một phương thức chung cho toàn thành phố.
"Đây cũng được xem là nền tảng để TP.HCM tiến tới xây dựng môi trường giáo dục hiện đại, lấy học sinh làm trung tâm thay vì đặt nặng thi cử như trước", theo chánh văn phòng Sở GD-ĐT.
Trước định hướng về tuyển sinh lớp 10 của TP.HCM, đã có nhiều ý kiến đề xuất, tranh luận về tiêu chí thực hiện xét tuyển làm sao để đảm bảo công bằng, không giảm động lực học tập. Đồng thời học sinh được học lớp 10 đúng nguyện vong, chọn được loại hình trường phù hợp với năng lực và định hướng nghề nghiệp.
Theo đó, bắt đầu từ ngày 14 đến 18-4, Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM và UBND các phường xã, đặc khu chính thức triển khai công tác tuyển sinh lớp 1, lớp 6 năm học 2026-2027.
Từ ngày 20 đến 26-4, các đơn vị sẽ rà soát dữ liệu lần cuối, bổ sung cập nhật các thông tin còn thiếu sót.
Theo Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM, chậm nhất ngày 25-5, các đơn vị phải cập nhật kế hoạch tuyển sinh đầu cấp lên trang tuyển sinh của thành phố tại địa chỉ: https://tuyensinhdaucap.hcm.edu.vn.
Từ ngày 27-5 đến 7-6: phụ huynh sẽ chọn đối tượng tuyển sinh và khu vực tuyển sinh nhằm làm căn cứ phân bổ học sinh vào các trường đại trà trên địa bàn.
Song song đó là việc tuyển sinh vào các trường có chương trình đặc thù, bao gồm: chương trình chất lượng cao, tiên tiến, hội nhập khu vực và quốc tế; chương trình tiếng Anh tích hợp theo đề án 5695; chương trình tăng cường tiếng Pháp; các trường có mô hình đặc thù như TH - THCS - THPT Nam Sài Gòn, THCS - THPT Lương Thế Vinh. Hai trường này và các trường có chương trình đặc thù sẽ công kết quả tuyển sinh ở tất cả loại hình trước 17h ngày 15-6.
Sau khi phụ huynh xác nhận nhập học các lớp thuộc chương trình đặc thù, hệ thống sẽ "bỏ" những học sinh này ra khỏi danh sách và tiếp tục xếp chỗ học cho những học sinh còn lại vào lớp 1, lớp 6 thuộc chương trình đại trà. Việc xếp chỗ học lớp 1, lớp 6 chương trình đại trà sẽ có 2 đối tượng ưu tiên như sau:
Đối tượng ưu tiên 1: bao gồm những trẻ em cư trú tại địa bàn đúng độ tuổi quy định (đối với lớp 1) hoặc học sinh đã hoàn thành chương trình tiểu học và cư trú tại địa bàn (đối với lớp 6); Nhóm này cũng bao gồm các học sinh đã hoàn thành chương trình tiểu học theo các hình thức đào tạo đặc thù tại các trường được tổ chức tuyển sinh theo địa bàn quận trong các năm học trước.
Đối tượng 2 là các trường hợp còn lại không thuộc nhóm 1. Thứ tự ưu tiên bao gồm: học sinh đã học mầm non/tiểu học tại địa bàn hoặc vùng giáp ranh; Học sinh có cha hoặc mẹ làm việc tại các cơ quan, khu công nghiệp trên địa bàn; Học sinh cư trú tại các khu vực giáp ranh; hoặc học sinh chuyển từ tỉnh, thành khác đến sau thời điểm đăng ký.
Toàn bộ quy định về thứ tự ưu tiên này sẽ được ban chỉ đạo tuyển sinh địa phương xem xét dựa trên các tiêu chí ưu tiên cụ thể và chỉ tiêu còn lại, niêm yết và công khai chi tiết trong kế hoạch tuyển sinh của từng địa phương nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và tạo thuận lợi nhất cho học sinh.
Dự kiến ngày 10-7 các đơn vị sẽ công bố kết quả tuyển sinh lớp 1, lớp 6 chương trình đại trà.
Chính phủ Pháp sẽ triển khai đại trà chương trình giáo dục tài chính cho toàn bộ học sinh lớp 8 từ năm học 2026-2027 nhằm trang bị kỹ năng quản lý tiền bạc và phòng tránh lừa đảo tài chính cho giới trẻ.
Chương trình mang tên 'Hộ chiếu giáo dục kinh tế, ngân sách và tài chính' (Educfi) được Ngân hàng Trung ương Pháp phối hợp với Bộ Giáo dục quốc gia và Bộ Kinh tế Pháp công bố ngày 6-5.
Chương trình đã được thí điểm từ năm 2019 tại một số trường trung học cơ sở và trung học nghề trước khi được triển khai trên toàn quốc.
Theo kế hoạch, học sinh lớp 8 sẽ tham gia khóa học khoảng 2 giờ với các nội dung như quản lý ngân sách cá nhân, phương thức thanh toán, cách vận hành của nền kinh tế và những kỹ năng tài chính cơ bản trong đời sống hằng ngày.
Riêng học sinh trung học nghề sẽ học chương trình kéo dài 12 giờ do nhóm này sớm tiếp cận thị trường lao động và các vấn đề tài chính thực tế. Chính phủ Pháp cũng dự kiến mở rộng thử nghiệm chương trình tại các trường trung học phổ thông từ năm 2027.
Bà Marguerite Collignan - vụ trưởng giáo dục tài chính thuộc Ngân hàng Trung ương Pháp - cho biết mục tiêu của chương trình là giúp thanh thiếu niên sớm hình thành kiến thức nền tảng về quản lý tiền bạc trước khi bước vào cuộc sống tự lập.
Trong khi đó, Bộ trưởng Kinh tế Pháp Roland Lescure nhận định việc nâng cao hiểu biết tài chính đang trở nên cấp thiết trong bối cảnh tình trạng vay nợ và lừa đảo tài chính ngày càng gia tăng, đặc biệt ở giới trẻ.
Theo khảo sát của Viện nghiên cứu CSA công bố hồi tháng 1, tỉ lệ người Pháp mắc nợ đã tăng từ 51% năm 2023 lên 57% hiện nay. Khảo sát cũng cho thấy các vụ lừa đảo tài chính ngày càng phổ biến, trong khi 38% người trẻ từ 18-24 tuổi cho biết từng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để xin tư vấn tài chính.