Đó là liệu việc đề thi đánh giá năng lực tham khảo các nguồn câu hỏi quốc tế có phù hợp hay không; và không công bố đề thi và đáp án sau kỳ thi có phải là một thực tiễn hợp lý trong khảo thí hiện đại hay không?
Trước hết, cần phân biệt rõ giữa một công trình nghiên cứu khoa học và một bài thi đánh giá năng lực. Mục tiêu của một công trình nghiên cứu là tạo ra tri thức mới, trong khi mục tiêu của một bài thi là đo lường chính xác năng lực của người dự thi. Vì vậy, tiêu chí đánh giá chất lượng của một bài thi không phải là mức độ nguyên bản của từng câu hỏi mà là khả năng đánh giá đúng năng lực cần đo lường, bảo đảm độ tin cậy, độ giá trị và khả năng phân hóa thí sinh.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và tham khảo các nguồn câu hỏi quốc tế là một yêu cầu mang tính chuyên môn. Các kỳ thi như LSAT, GRE, SAT, GMAT hay CAT đã được phát triển và hoàn thiện trong nhiều thập niên, trở thành những chuẩn mực quan trọng trong lĩnh vực khảo thí đánh giá năng lực. Việc tham khảo các mô hình câu hỏi, cấu trúc đánh giá và kỹ thuật xây dựng ngữ liệu từ các kỳ thi này giúp đơn vị tổ chức tiếp cận những phương pháp đo lường tiên tiến, đồng thời nâng cao chất lượng và độ tin cậy của bài thi.
Đối với các câu hỏi thuộc nhóm Logical Reasoning hay Analytical Reasoning, số lượng mô hình suy luận thực chất không nhiều. Phần lớn các câu hỏi đều được xây dựng trên các dạng cơ bản như phân nhóm, sắp xếp thứ tự, suy luận điều kiện, loại trừ hoặc xác định khả năng xảy ra. Do đó, việc xuất hiện những câu hỏi có cấu trúc logic tương đồng với các nguồn quốc tế là điều hoàn toàn bình thường.
Điều quan trọng không phải là hình thức bên ngoài của câu hỏi mà là quá trình cải biên, Việt hóa, điều chỉnh dữ kiện, xây dựng phương án trả lời và tích hợp vào hệ thống đánh giá phù hợp với đối tượng dự thi.
Nếu xem việc tham khảo các nguồn quốc tế là không phù hợp thì trên thực tế sẽ rất khó xây dựng được một kỳ thi đánh giá năng lực đạt chuẩn. Trong lĩnh vực khảo thí, học hỏi từ những mô hình đã được kiểm chứng là con đường ngắn nhất để tiếp cận các chuẩn mực quốc tế. Vấn đề cần quan tâm không phải là có tham khảo hay không, mà là tham khảo như thế nào, cải biên đến mức độ nào và liệu sản phẩm cuối cùng có đáp ứng mục tiêu đánh giá năng lực hay không.
Một vấn đề khác cũng được dư luận quan tâm là việc không công bố đề thi và đáp án. Từ góc độ khảo thí, đây là một chính sách hợp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt đối với các kỳ thi được tổ chức nhiều đợt trong năm. Nhiều tổ chức khảo thí lớn trên thế giới không công bố toàn bộ đề thi và đáp án của tất cả các đợt thi nhằm bảo vệ ngân hàng câu hỏi, duy trì khả năng tái sử dụng các câu hỏi đã được chuẩn hóa và bảo đảm tính ổn định của hệ thống đánh giá.
Nếu toàn bộ đề thi và đáp án được công bố sau mỗi đợt thi, ngân hàng câu hỏi sẽ nhanh chóng bị lộ, làm giảm đáng kể khả năng phân hóa của kỳ thi. Khi đó, các trung tâm luyện thi có thể tập trung huấn luyện theo từng câu hỏi hoặc từng bộ đề cụ thể, khiến kết quả thi phản ánh mức độ luyện tập đối với một nguồn tài liệu hơn là phản ánh năng lực thực chất của thí sinh. Điều này đi ngược lại mục tiêu cốt lõi của các kỳ thi đánh giá năng lực.
Không công bố đề thi không đồng nghĩa với thiếu minh bạch. Minh bạch trong khảo thí hiện đại được thể hiện thông qua quy trình xây dựng đề thi, cơ chế phản biện và thẩm định độc lập, việc kiểm soát chất lượng câu hỏi, các chỉ số kỹ thuật đo lường và cơ chế giải quyết khiếu nại. Khi các quy trình này được thực hiện nghiêm túc, chất lượng và độ tin cậy của kỳ thi không phụ thuộc vào việc công khai từng câu hỏi cụ thể sau mỗi lần tổ chức thi.
Nhìn từ góc độ khảo thí đánh giá năng lực, việc tham khảo các nguồn quốc tế để xây dựng câu hỏi và việc không công bố đề thi, đáp án sau kỳ thi đều là những lựa chọn có cơ sở chuyên môn vững chắc.
Mục tiêu cuối cùng của một kỳ thi đánh giá năng lực không phải là tạo ra những câu hỏi hoàn toàn chưa từng xuất hiện ở bất kỳ đâu, mà là xây dựng được một công cụ đo lường chính xác, công bằng và đáng tin cậy để đánh giá năng lực của thí sinh. Khi mục tiêu đó được bảo đảm thông qua một quy trình biên soạn, phản biện và thẩm định chặt chẽ, việc tham khảo các mô hình quốc tế và bảo mật ngân hàng câu hỏi không chỉ là lựa chọn hợp lý mà còn là điều cần thiết để duy trì chất lượng của kỳ thi trong dài hạn.
Trường ĐH Y dược TP.HCM có thông báo chính thức thông tin tuyển sinh năm 2026, bao gồm học phí áp dụng cho sinh viên trúng tuyển khóa 2026.
Theo đó, học phí ngành cao nhất là răng-hàm-mặt với mức thu 90 triệu đồng/năm. Kế đến, ngành y khoa thu 88 triệu đồng/năm.
Tiếp theo đó, ngành dược học thu 63,5 triệu đồng/năm; y học dự phòng và y học cổ truyền cùng mức thu 55 triệu đồng/năm; công nghệ dược phẩm 53,5 triệu đồng/năm; hóa dược 52,5 triệu đồng/năm. Nhiều ngành khác học phí đồng loạt ở mức 48 triệu đồng/năm.
Đáng chú ý, 2 ngành tâm lý học và công tác xã hội học phí chỉ ở mức 30 triệu đồng/năm. Đây cũng là 2 ngành có sử dụng tổ hợp môn D01 (toán-văn-tiếng Anh) để xét tuyển trong năm nay.
Học phí từng ngành cụ thể như bảng sau:
Trước đó, học phí thí sinh trúng tuyển năm 2025 vào Trường ĐH Y dược TP.HCM dao động trong khoảng 30-84,7 triệu đồng/năm tùy ngành. Trong đó, ngành răng-hàm-mặt có mức học phí cao nhất là 84,7 triệu đồng. Tiếp đến, ngành y khoa học phí 82,2 triệu đồng/năm. Ngành dược học dự kiến thu 60,5 triệu đồng/năm.
Các ngành y học cổ truyền, y học dự phòng, hóa dược năm ngoái thu cùng mức 50 triệu đồng/năm. Các ngành có cùng mức thu 46 triệu đồng/năm gồm: Điều dưỡng, điều dưỡng chuyên ngành gây mê hồi sức, hộ sinh, dinh dưỡng, kỹ thuật phục hình răng, kỹ thuật xét nghiệm y học, kỹ thuật hình ảnh y học, kỹ thuật phục hồi chức năng, y tế công cộng.
Như vậy, học phí hầu hết các ngành của trường đều tăng so với năm ngoái. Riêng ngành công tác xã hội, cùng với ngành mới tâm lý học lần đầu được tuyển sinh trong năm nay, có học phí thấp nhất và không điều chỉnh so với năm ngoái ở mức 30 triệu đồng/năm.
Tối 7/5, UBND thành phố Hà Nội phê duyệt đề án nói trên. Hai trường này sẽ dành cho học sinh có năng lực nổi trội. Các em được học chuyên sâu, tham gia dự án, nghiên cứu và rèn kỹ năng đại học. Kết quả đầu ra của học sinh được thế giới công nhận rộng rãi.
Từ đó, hướng phát triển của mỗi trường có sự khác biệt, theo đặc điểm học sinh, giáo viên và mục tiêu.
Trường THPT chuyên Chu Văn An xây dựng 5 tiêu chí, gồm: chuẩn đầu ra quốc tế hóa, quản trị và kiểm định chất lượng, quốc tế hóa môi trường học tập, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, công bằng tiếp cận.
Trường chia thành ba giai đoạn phát triển, mỗi giai đoạn sẽ có mục tiêu được lượng hóa.
Chẳng hạn, trong giai đoạn 2026-2030, ít nhất 150 học sinh trúng tuyển đại học tại Anh, Mỹ, Australia, tối thiểu 80 em nhận học bổng quốc tế. Tiếp đó, giai đoạn 2031-2035, 90% giáo viên có năng lực dạy song ngữ hoặc theo chuẩn quốc tế, tiếp nhận học sinh các nước hoặc có 1% học sinh trao đổi. Trong giai đoạn 2036-2045, tất cả học sinh có chứng chỉ ngoại ngữ, học thuật, công nghệ thông tin quốc tế.
Để đạt được, trường chuyên Chu Văn An sẽ hỗ trợ học sinh tham gia kỳ thi chuẩn hóa quốc tế như SAT, ACT, AP, IB; tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, xây dựng phòng thí nghiệm mở, không gian sáng tạo STEM/STEAM; liên kết và hợp tác với các đại học, doanh nghiệp...
Trường ước tính cần gần 608 tỷ đồng để thực hiện đề án này.
Trong khi đó, trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam (Ams) theo đuổi 4 nhóm tiêu chí: chất lượng học thuật và nghiên cứu khoa học của học sinh; mức độ tích hợp giáo dục STEM/STEAM; năng lực ngoại ngữ và hội nhập học thuật; hệ thống bảo đảm và minh chứng chất lượng.
Trường cho biết sẽ chuyển trọng tâm từ học lý thuyết sang dự án nghiên cứu dưới dự hướng dẫn của chuyên gia, tối ưu hóa chương trình học, tăng khả năng sử dụng thông tin Toán học, khoa học, kỹ thuật thực tiễn. Đồng thời, trường ưu tiên phát triển các chuyên đề liên môn, chú trọng học theo dự án gắn với sản phẩm.
Học sinh sẽ được dạy tiếng Anh như công cụ để nghiên cứu, viết luận, thuyết trình và tranh biện. Các em còn được trang bị khả năng phân tích các mối liên hệ giữa kinh tế, xã hội và môi trường, từ đó hình thành tư duy hệ thống để giải quyết các thách thức phi truyền thống như biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng và bất bình đẳng.
Lộ trình thực hiện của trường Ams được chia thành ba giai đoạn, gồm 2026-2027 (chuẩn bị, khởi động, thí điểm), 2027-2030 (triển khai đồng bộ, hoàn thiện điều kiện), 2030-2035 (hoàn thiện mô hình, nâng cao chất lượng).
Trường THPT chuyên Chu Văn An tiền thân là trường Bưởi, thành lập năm 1908, mang tên hiện tại từ năm 1945. Trường được chuyển đổi từ mô hình cơ sở công lập có lớp chuyên thành trường chuyên từ năm 2025.
Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam được thành lập năm 1985, với nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đây là hai trường có chương trình đào tạo đa dạng nhất với 13 môn chuyên. Ngoài ra, Hà Nội còn hai trường chuyên khác là Nguyễn Huệ và Sơn Tây, lần lượt tuyển 11 và 9 môn chuyên.
Đại học Cát Lâm cho biết Giáo sư Hartmut Michel sẽ gia nhập Bệnh viện số 1 của trường với tư cách là "nhân sự hạt nhân" trong chiến lược thu hút nhân tài quốc tế.
Theo lãnh đạo trường, xây dựng một đại học tầm cỡ thế giới phụ thuộc lớn vào việc thu hút và nuôi dưỡng những bộ óc hàng đầu. Họ kỳ vọng ông Michel sẽ tạo ra những đột phá trong nghiên cứu và thắt chặt hơn nữa quan hệ hợp tác khoa học quốc tế.
Ông Michel đánh giá trường có nền tảng học thuật vững chắc, có nhiều bước tiến vượt bậc những năm gần đây. Nhà khoa học Đức bày tỏ mong muốn sát cánh cùng các cộng sự để đẩy mạnh nghiên cứu về sinh học cấu trúc, phát triển thuốc và y học chuyển dịch, đồng thời hỗ trợ đào tạo thế hệ nhà khoa học trẻ.
Trước khi sang Trung Quốc, phần lớn sự nghiệp của ông Michel gắn liền với Viện Lý sinh học Max Planck ở Frankfurt (Đức). Đây là một trong những trung tâm nghiên cứu protein màng tế bào hàng đầu thế giới. Ông giữ chức Giám đốc từ năm 1987, nghỉ hưu tại đây năm 2007.
Năm 1988, ông đoạt giải Nobel Hóa học nhờ công trình giải mã cơ chế quang hợp ở cấp độ phân tử.
Giáo sư Michel có mối duyên lâu năm với nền khoa học Trung Quốc. Từ đầu thập niên 1980, ông đã tích cực thúc đẩy sự phát triển của ngành sinh học tại nước này qua hơn 30 chuyến thăm và làm việc. Ông từng giảng dạy và nghiên cứu tại nhiều cơ sở uy tín như Đại học Thanh Hoa, Đồng Tế hay Tứ Xuyên.
Bến đỗ mới của ông Michel - Bệnh viện số 1 thuộc Đại học Cát Lâm (còn gọi là Bệnh viện Bethune số 1) - có lịch sử từ năm 1949. Đây là một trong những bệnh viện thực hành danh tiếng nhất khu vực Đông Bắc Trung Quốc, nổi bật trong cả ba lĩnh vực: điều trị lâm sàng, đào tạo y khoa và nghiên cứu khoa học.
Những năm gần đây, Trung Quốc tích cực thu hút các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và chuyên gia nước ngoài. Tiêu biểu là chương trình tuyển dụng nhân tài cấp cao "Ngàn Tài năng", tạo điều kiện thuận lợi về visa và ưu đãi tài chính hào phóng.