Thạc sĩ Trần Thị Hồng Nhung, giáo viên Trường THCS Đông Hòa (P.Đông Hòa, TP.HCM), đánh giá đề thi lớp 10 môn tiếng Anh năm 2026, khá “dễ thở”, bám sát cấu trúc đã được công bố trước đó và phù hợp với định hướng đổi mới trong kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh. Nhìn chung, đề không xuất hiện những dạng câu hỏi đánh đố hay quá phức tạp, tạo điều kiện để học sinh có học lực trung bình khá trở lên phát huy năng lực và đạt kết quả tốt.
Về mặt kiến thức, đề thi lớp 10 sử dụng hệ thống từ vựng và cấu trúc ngữ pháp quen thuộc, nằm trong phạm vi chương trình THCS. Các câu hỏi ngữ âm, trọng âm, từ vựng, ngữ pháp và giao tiếp được thiết kế ở mức độ vừa phải, giúp phân loại năng lực học sinh một cách hợp lý mà không gây áp lực quá lớn.
Hai dạng bài Word Form và Sentence Transformation, vốn là những dạng bài thường khiến nhiều học sinh e ngại vì yêu cầu khả năng vận dụng ngôn ngữ linh hoạt. Tuy nhiên, trong đề năm nay, các câu hỏi được xây dựng rõ ràng, trực tiếp, không chứa yếu tố đánh lừa hay “bẫy” thí sinh. Nếu nắm vững kiến thức nền tảng và thực hiện bài làm cẩn thận, học sinh hoàn toàn có khả năng đạt điểm tối đa ở hai phần này. Những sai sót nếu có chủ yếu đến từ lỗi chính tả, dấu câu hoặc sự bất cẩn trong quá trình trình bày bài làm.
Ở phần đọc hiểu, thạc sĩ Hồng Nhung nhận xét, đề thi cho thấy xu hướng gắn với thực tiễn và các vấn đề mang tính thời sự. Bài đọc về công nghệ Deepfake không chỉ kiểm tra vốn từ vựng và khả năng xử lý ngôn ngữ mà còn yêu cầu học sinh hiểu nội dung, suy luận logic và nhận thức được những tác động của công nghệ đối với xã hội hiện đại.
Bên cạnh đó, bài đọc về hành trình khám phá Cliff Trail cũng đòi hỏi kỹ năng đọc hiểu chi tiết và xác định thông tin chính xác trong văn bản. Đây là những dạng bài giúp đánh giá năng lực sử dụng tiếng Anh trong bối cảnh thực tế thay vì chỉ kiểm tra ghi nhớ kiến thức đơn thuần.
Xét tổng thể, học sinh chỉ cần nắm chắc kiến thức cơ bản, luyện tập đầy đủ các dạng bài trong chương trình là có thể đạt mức điểm khá, giỏi. Dự đoán phổ điểm môn tiếng Anh năm nay sẽ tập trung ở mức 7 điểm. Đây được xem là một phổ điểm tích cực, phản ánh đúng năng lực học sinh cũng như mục tiêu đánh giá thực chất mà đề thi lớp 10 hướng tới.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngay từ buổi đầu của loài người, khảo cổ học đã cho thấy dấu vết của lòng biết ơn. Những ngôi mộ cổ xưa với đồ tùy táng cho thấy con người đã tưởng nhớ và tri ân người đã khuất.
Những đền thờ cổ đại của các nền văn minh Ai Cập, Hy Lạp và Maya đều được dựng lên để tỏ lòng biết ơn thần linh và tổ tiên.
Ở nhiều quốc gia, tượng đài và lễ tưởng niệm được dựng lên để tri ân những người đã hy sinh vì cộng đồng.
Có thể nói, văn minh nhân loại là một hình thức lớn của lòng biết ơn đối với quá khứ. Trong truyền thống Việt Nam, lòng biết ơn được coi là nền tảng của đạo làm người.
Từ thuở nhỏ, trẻ em đã được dạy “uống nước nhớ nguồn”. Một câu ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một triết lý đạo đức. Hay “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Những câu tục ngữ ấy không chỉ là lời khuyên đạo đức mà là một hệ giá trị văn hóa.
Trong đời sống, lòng biết ơn được thể hiện qua nhiều phong tục như thờ cúng tổ tiên, giỗ chạp, lễ tết, tưởng niệm anh hùng dân tộc. Từ những ngôi đình làng đến các đền thờ như Đền Hùng, truyền thống ấy nhắc nhở rằng mỗi người đều là kết quả của một dòng chảy lịch sử.
Trong gia đình, cha mẹ dạy con cái phải kính trên nhường dưới nhớ, công sinh thành, biết ơn thầy cô. Đó là những bài học đầu tiên của đạo làm người.
Có thể nhìn lòng biết ơn theo 3 tầng – từ gần với bản năng đến chiều sâu tinh thần với độ “sâu nặng ” tăng dần. Biết ơn sinh học – nền tảng của sự sống. Đó là sự gắn bó tự nhiên với người nuôi dưỡng: cha mẹ, người chăm sóc, môi trường nuôi sống (đất, nước, thiên nhiên). Ở tầng này, biết ơn gần với bản năng đáp lại, tạo ra tình thân, sự trung thành, cảm giác an toàn.
Biết ơn vật chất – tầng của trao nhận hữu hình. Đó là biết ơn những gì ta được cho, được giúp như tiền bạc, cơ hội, điều kiện sống, sự hỗ trợ cụ thể trong lúc khó khăn. Tầng này dễ nhận thấy, nhưng cũng dễ phai nhạt nếu chỉ dừng ở “trả ơn – đền ơn”.
Tâng sâu nhất chính là biết ơn tinh thần. Đây là biết ơn những gì định hình con người mình: sự giáo dục, khai mở trí tuệ; sự dẫn dắt, truyền cảm hứng; truyền thống, giá trị văn hóa.
Trong văn hóa Á Đông, điều này kết tinh trong đạo “Quân – Sư – Phụ”: ơn sinh thành (Phụ), ơn dẫn dắt trí tuệ (Sư), ơn định hướng lý tưởng (Quân). Tầng này sâu nhất vì không chỉ nuôi ta sống, mà giúp ta “trở thành”, không chỉ cho ta cái có mà cho ta cách để tạo ra giá trị. Nó có sự ảnh hưởng lâu dài, xuyên suốt cả cuộc đời và thế hệ sau.
Một người có thể quên một món quà, nhưng khó quên một người đã thay đổi cách mình nhìn thế giới. Đôi khi, một lời dạy, một sự khai sáng, một niềm tin được trao còn lớn hơn mọi hỗ trợ vật chất.
Biết ơn tạo ra khiêm nhường mở cửa cho mọi đức tính. Từ biết ơn dẫn đến nhân ái, bao dung, dũng cảm và sự hy sinh.
Tuy nhiên, khi xã hội phát triển nhanh, biết ơn sinh học dễ bị lãng quên (xa gia đình, thiên nhiên). Biết ơn vật chất dễ bị “bình thường hóa” (mọi thứ sẵn có). Tinh thần tri ân đôi khi bị thay thế bằng tâm lý đòi hỏi. Nhiều người quen với việc nhận mà ít khi nghĩ đến việc cảm ơn.
Có nhiều nguyên nhân sâu xa. Ngày nay, con người được khuyến khích khẳng định cái tôi. Điều đó có mặt tích cực, nhưng nếu đi quá xa sẽ khiến người ta quên rằng mình trưởng thành nhờ người khác.
Nhịp sống nhanh cũng khiến con người ít có thời gian suy ngẫm. Khi mọi thứ trôi qua quá nhanh, người ta dễ quên những ân nghĩa.
Chúng ta đang sống trong một xã hội tiêu dùng, nhiều giá trị được đo bằng lợi ích và vật chất. Khi mọi thứ đều có thể mua bán, lòng biết ơn dễ bị xem nhẹ.
Bên cạnh đó, công nghệ và mạng xã hội đôi khi khuyến khích sự phán xét, so sánh và chỉ trích hơn là sự trân trọng.
Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI), câu chuyện về lòng biết ơn càng trở nên quan trọng. AI có thể giúp con người làm việc nhanh hơn, học nhanh hơn, thậm chí sáng tạo nhanh hơn. AI hiện nay không có “cảm nhận được nhận”, không có ký ức sống như con người, không có cảm xúc thật. Nên AI chỉ có thể mô phỏng, chưa thể trải nghiệm.
AI có thể học cách nói lời cảm ơn đúng lúc, ghi nhận công lao người khác, phản hồi một cách trân trọng. Đây là văn hóa giao tiếp số. AI trong tương lai có thể phản hồi tốt hơn với giao tiếp lịch sự. Các mô hình có thể nhận diện giọng điệu, nhận diện ý định giao tiếp. Nếu người dùng lịch sự, hợp tác, tôn trọng AI có thể phản hồi thân thiện hơn, hỗ trợ sâu hơn.
Nếu chúng ta quen ra lệnh cho mọi thứ xung quanh, rất có thể một ngày nào đó ta cũng sẽ nói chuyện với nhau bằng giọng điệu ấy. Nhưng nếu ta vẫn giữ những từ giản dị như "xin giúp", "làm ơn", "cảm ơn", thì dù thế giới có đầy những cỗ máy thông minh, ngôn ngữ của con người vẫn còn hơi ấm của sự tử tế.
Có lẽ trong tương lai, khi người ta nói về văn minh của kỷ nguyên AI, không bắt đầu từ những phòng thí nghiệm lớn mà bắt đầu từ một điều rất nhỏ – một câu hỏi được viết ra với sự tôn trọng và một lời cảm ơn ở cuối câu.
Một xã hội đôi khi không được giữ vững chỉ bằng luật pháp hay sức mạnh. Nó được giữ vững bởi vô số sợi dây vô hình của niềm tin giữa con người. Và mỗi lời cảm ơn chân thành giống như một nút thắt nhỏ buộc những sợi dây ấy lại với nhau.
Có thể chúng ta không thay đổi được cả thế giới trong một ngày, nhưng chúng ta có thể làm cho thế giới quanh mình tốt đẹp hơn một chút, bắt đầu từ những điều giản dị nhất. Một nụ cười, một cái gật đầu và một lời cảm ơn.
Và có lẽ, giữa một thế giới đang thay đổi nhanh chóng bởi công nghệ và AI, điều quan trọng nhất để giữ cho con người vẫn là con người chính bởi điều rất giản dị ấy: biết nói lời cảm ơn đối với cuộc đời.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Làm việc 10 tiếng mỗi ngày, giáo viên mầm non không có thời gian chăm con

Tại Hội thảo “hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non”, do Viện Khoa học Giáo dục tổ chức ngày 8/4, GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho biết, thời gian qua, Nhà nước đã có rất nhiều chế độ hỗ trợ phát triển giáo dục mầm non.
Tuy vậy, giáo viên mầm non vẫn đang quá tải, thời gian dành cho công việc trên trường rất lớn.
“Theo khảo sát cho thấy, họ làm việc khoảng 10 tiếng/ngày, đến trường từ khi mới mở cửa và ra về khi đã đóng cửa trường. Nhiều thầy cô phản ánh họ chỉ chăm sóc con người khác, không có thời gian chăm sóc con mình và gia đình”, theo lời GS Lê Anh Vinh.
Vì vậy ông cho rằng, cần phải thiết kế chế độ làm việc linh hoạt, phù hợp với nhóm giáo viên mầm non trên cả nước.
Hiện các tỉnh có điều kiện kinh tế tốt đề xuất đón trẻ linh hoạt, trả tiền trông trẻ ngoài giờ, đón muộn nhưng điều này không thể áp dụng với học sinh vùng khó khăn, các khu công nghiệp, khu chế xuất bởi phụ huynh không thể đáp ứng.
Theo GS.TS Lê Anh Vinh, giáo dục mầm non cần được nhìn nhận không chỉ là lĩnh vực giáo dục mà còn là câu chuyện chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ trong những năm đầu đời, bởi giai đoạn 0-6 tuổi được xem là giai đoạn vàng.
Chuyên gia này cho rằng, đây là giai đoạn nền tảng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi con người. Những gì trẻ được tiếp cận trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng lâu dài đến kết quả học tập, khả năng học tập suốt đời và năng suất lao động khi trưởng thành.
"Giáo dục mầm non phải là câu chuyện của tiếp cận sớm, cơ hội sớm và đầu tư sớm, không chỉ trong ngành giáo dục mà trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội", ông Vinh nhấn mạnh.
Trao đổi thêm về vấn đề trên, ông Lê Quang Tuấn, chủ Nhóm lớp mầm non độc lập Hoa Huệ Minh Hằng, Phú Thọ cho biết, giáo dục mầm non vô cùng khó khăn. Họ vừa làm cô, vừa làm bác sĩ vì nhiều bố mẹ gửi thuốc cho con uống hàng ngày, vừa thay vai trò bố mẹ, vừa làm lao công. Ngược lại, mức thu nhập cho giáo viên chưa xứng đáng, đặc biệt giai đoạn dịch bệnh hoặc giá cả tăng cao.
Tại hội thảo, bà Hoàng Thị Dinh, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non, Bộ GD&ĐT, cho biết đang triển khai chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tại khu đô thị, khu công nghiệp, với mục tiêu đến năm 2035, 100% trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi là con công nhân, người lao động có nhu cầu sẽ được đến trường.
Dưới góc độ quản lý, bà nhấn mạnh sự cần thiết của việc triển khai đồng bộ chương trình quốc gia, chú trọng tại các địa phương có khu công nghiệp lớn.

Theo dữ liệu mới công bố từ Bộ Giáo dục Trung Quốc do Tân Hoa Xã dẫn lại, trong 5 năm từ 2021 - 2025, các trường nước này đã bãi bỏ hoặc tạm dừng tuyển sinh 12.200 ngành học cử nhân, đồng thời mở mới 10.200 ngành - tương đương với việc điều chỉnh hơn 30% chương trình đào tạo trên cả nước. Những ngành bị cắt giảm tập trung phần lớn trong lĩnh vực ngoại ngữ, nghệ thuật, quản trị, khoa học xã hội và nhân văn.
Dựa trên dữ liệu công khai từ 134 trường ĐH Trung Quốc, tổ chức tư vấn giáo dục MyCOS tại nước này chỉ ra marketing là ngành bị đề xuất hủy bỏ nhiều nhất trong năm 2025, với 13 trường đề xuất. Xếp thứ 2 là quản trị công (12), thứ ba là quảng cáo và kỹ thuật dịch vụ ô tô (đều có 11 trường đề xuất hủy). Công tác xã hội và nghệ thuật truyền thông kỹ thuật số cũng là một số ngành học bị gọi tên.
Song song với hủy bỏ, các ĐH Trung Quốc còn dừng tuyển sinh nhiều ngành như quản trị nguồn nhân lực, quản trị du lịch, quản lý logistics, quản lý kinh tế quốc dân, quản lý đô thị, tiếng Nhật, tiếng Đức, giáo dục Hán ngữ quốc tế..., theo báo cáo công bố hồi tháng 5.
Tờ South China Morning Post phân tích những ngành nói trên ngày càng bị xem là lỗi thời hoặc dư thừa tại Trung Quốc, trong bối cảnh hơn 16% người trẻ thất nghiệp và thị trường lao động đổi thay nhanh chóng dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI). Vì thế, các ngành mở mới được xây dựng sát với mục tiêu phát triển kinh tế của Trung Quốc, nhất là khi nước này muốn trở thành quốc gia dẫn đầu toàn cầu về các công nghệ tiên tiến.
Có thể thấy, diễn biến tại Trung Quốc không mới, dù nguyên nhân có phần khác biệt so với các nước có chung xu hướng.
Ở Úc, số lượng ĐH "quay lưng" với nhóm ngành nghệ thuật, ngôn ngữ, nhân văn... ngày càng tăng với những tên tuổi nổi bật gồm ĐH Quốc gia Úc, ĐH Công nghệ Queensland, ĐH Wollongong, ĐH Macquarie. Kéo theo đó là xu hướng cắt giảm giảng viên, nhân viên và sáp nhập hoặc giải thể các đơn vị nghiên cứu, đào tạo trong vài năm trở lại đây. Vấn đề này xuất phát từ cả hai phía. Một mặt, số học sinh trong và ngoài nước chọn các ngành này có xu hướng giảm trong thời gian qua vì triển vọng việc làm không như mong đợi. Mặt khác, theo truyền thông Úc, một số chính sách liên quan đến tài trợ từ ngân sách chính phủ được cho là đã khiến học sinh phải đóng tiền cao hơn nếu học các ngành không được coi là ưu tiên quốc gia và các trường gặp khó khăn tài chính.
Xu hướng cắt giảm các ngành ngôn ngữ, khoa học xã hội và nhân văn cũng lan rộng trong hệ thống giáo dục ĐH Mỹ, ở hàng loạt trường công lập lẫn tư thục. Khó khăn tài chính và yếu tố chính trị là 2 nguyên nhân phổ biến được gọi tên đằng sau những quyết định nói trên. Điều này làm dấy lên nhiều tranh luận về "giá trị" của tấm bằng ĐH ở thời điểm hiện tại, khi các ngành học khối nghệ thuật, nhân văn... được cho là có ít cơ hội việc làm và tạo ra thu nhập thấp hơn.
Thực tế, theo báo cáo năm 2025 của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), trong số những người trưởng thành có trình độ ĐH, nhóm từng học các ngành liên quan đến công nghệ thông tin và truyền thông đạt tỷ lệ việc làm trung bình cao nhất trong các quốc gia OECD, ở mức 90%. Tỷ lệ việc làm thấp nhất thuộc về nhóm được đào tạo ở các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn... với mức trung bình 84%.
Báo cáo cũng chỉ ra các ngành thuộc nhóm khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) thường gắn với mức thu nhập cao nhất. Ở Mỹ, người có bằng ĐH ngành STEM có thể đạt thu nhập cao hơn trung bình tới 20%. Ngược lại, những người có bằng cấp trong lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn và giáo dục thường có mức thu nhập thấp nhất trong nhiều quốc gia được khảo sát. Tuy nhiên, OCED khuyến nghị các số liệu trên cần được diễn giải thận trọng, cần tính tới bối cảnh thực tế và đặc thù ngành học.
Có nhiều năm học tập, làm việc với các trường ĐH Trung Quốc, tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Trưởng phòng Quan hệ quốc tế Trường ĐH Lạc Hồng, Giám đốc Công ty TNHH Giáo dục quốc tế Lucky Star, thông tin: Riêng trong năm 2024, các ĐH trên toàn Trung Quốc đã mở mới 1.839 ngành, dừng tuyển sinh 2.220 ngành và xóa sổ 1.428 ngành. Các ngành mới chủ yếu liên quan tới AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ thông minh và năng lượng mới. Đây là các ngành gắn chặt với chiến lược phát triển KH-CN của quốc gia này, theo bà Oanh.
"Trung Quốc đã tái cơ cấu giáo dục ĐH theo nhu cầu phát triển kinh tế và thị trường lao động. Thực tế, yếu tố việc làm đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi điều chỉnh ngành. Không ít nơi áp dụng cơ chế cảnh báo với các ngành có tỷ lệ việc làm thấp trong nhiều năm liền. Những ngành bị cảnh báo có thể giảm chỉ tiêu hoặc tạm dừng tuyển sinh, thậm chí tiến tới đóng ngành", bà Oanh nói.
Song, điều này không đồng nghĩa Trung Quốc bỏ rơi các ngành như ngoại ngữ. Thay vào đó, các trường chuyển dịch từ đào tạo ngoại ngữ đơn thuần sang ngoại ngữ kèm chuyên môn như tiếng Anh kết hợp logistics quốc tế, thương mại điện tử xuyên biên giới... "Điều doanh nghiệp cần không chỉ là người biết ngoại ngữ, mà là nhân sự dùng được ngoại ngữ để giải quyết công việc thực tế", tiến sĩ Oanh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, tiến sĩ Trần Thị Cẩm Tú, Viện trưởng Viện Đào tạo và hợp tác quốc tế kiêm Giám đốc chương trình ngôn ngữ Trung Quốc, Trường ĐH Hoa Sen, cho rằng các ĐH Trung Quốc không "bỏ" ngành ngoại ngữ, nghệ thuật, nhân văn hay quản trị, mà buộc các ngành này phải tái định vị trong bối cảnh mới theo hướng tích hợp công nghệ, tăng cường kiến thức thực tiễn và gắn với nghề cụ thể.
"Học ngoại ngữ ngày nay phải có yếu tố liên ngành, kết hợp năng lực liên văn hóa. Các ngành khoa học nhân văn cũng không thể chỉ dừng ở tri thức hàn lâm mà phải có năng lực phân tích xã hội, chính sách, thiết kế trải nghiệm con người trong kỷ nguyên AI", bà Tú nhận định. Chuyên gia này cho biết thêm một nguyên do khác khiến nhóm ngành ngoại ngữ tại Trung Quốc ít được quan tâm hơn trước là nước này đang muốn tăng cường lan tỏa văn hóa, ngôn ngữ Trung ra thế giới.
Đó là nguyên nhân bà cho rằng tại VN cần xem xét thận trọng cả ưu tiên phát triển của quốc gia lẫn nhu cầu của thị trường lao động, thay vì học hỏi rập khuôn các mô hình ở nước ngoài. Thực tế, VN và các quốc gia không chỉ khác nhau về vị trí địa lý mà còn về giai đoạn phát triển. Chưa kể, VN đang mở rộng quan hệ đối tác với các quốc gia và cán cân kinh tế đang dịch chuyển sang khối dịch vụ, sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là tiền đề dẫn tới sự phát triển "nóng" của một số ngành tại VN như quản trị, truyền thông, marketing, nghệ thuật ứng dụng, ngoại ngữ - đặc biệt là tiếng Trung khi dòng vốn đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan, Singapore... đang đổ về.
"Rồi sẽ tới giai đoạn các ngành học phát triển đủ mạnh, đủ đa dạng cũng như đáp ứng đủ nhu cầu thị trường. Lúc này, chúng ta phải xem xét lại danh mục đào tạo hiện hành để chuyển đổi theo hướng bền vững hơn", bà Tú lưu ý.
Tiến sĩ Tú nói thêm riêng việc đào tạo ngoại ngữ ở VN cũng đang có chuyển dịch đáng kể. Chẳng hạn, nếu muốn theo đuổi định hướng sư phạm, sinh viên được đào tạo thêm kỹ năng ứng dụng AI và công nghệ số trong dạy học. Còn nếu theo hướng ứng dụng, việc đào tạo gắn chặt với AI và kỹ năng ngành nghề nhất định, trải rộng nhiều lĩnh vực để sinh viên sau khi ra trường có thể làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ và đa văn hóa. "Đã không còn cảnh chỉ học thuần túy ngôn ngữ để thi lấy chứng chỉ như xưa", bà Tú chia sẻ.
Tin Gốc: Thanh Niên

