Đề thi:
Năm học 2026-2027, toàn tỉnh Bắc Ninh có hơn 50.000 thí sinh tham gia thi tuyển kỳ thi vào lớp 10 tại các trường THPT.
Theo kế hoạch tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2026-2027, tỉnh Bắc Ninh tuyển gần 41.000 chỉ tiêu.
Đây là kỳ thi có số lượng thí sinh đăng ký đông nhất từ trước đến nay trên địa bàn tỉnh.
Sau đây là đề thi và đáp án gợi ý môn văn vào lớp 10 tỉnh Bắc Ninh năm 2026:
Đang được cập nhật…
Tin Gốc: Dân Trí

Tuy nhiên theo các chuyên gia, cần phải hiểu IELTS là một định hướng dài hạn để xây nền tiếng Anh học thuật chứ không nên chỉ học IELTS khi cần thi lấy chứng chỉ, đạt điểm số cho "bằng bạn bằng bè".
Chia sẻ tại buổi tư vấn trực tuyến chủ đề Học IELTS thế nào chuẩn bị cho các kỳ thi lớn? của Báo Thanh Niên diễn ra hôm 5.5, tiến sĩ (TS) Đỗ Hữu Nguyên Lộc, Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy tiếng Anh TP.HCM (TESOL TP.HCM), cho biết theo quy chế tuyển sinh 2026 của Bộ GD-ĐT thì thí sinh có chứng chỉ IELTS được chọn một trong 2 hình thức: hoặc quy đổi điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển, hoặc được cộng điểm. Với quy định của Bộ GD-ĐT thì IELTS không thể là tấm vé "2 trong 1", vừa được quy đổi điểm môn tiếng Anh trong xét tuyển vừa được cộng điểm nữa. Đồng thời, thí sinh cũng có thể sử dụng chứng chỉ IELTS, tùy mức điểm, để xét học bổng khi trúng tuyển đầu vào ĐH, hay sử dụng khi du học. Nhưng không phải vì những ích lợi của tấm vé IELTS, mà phụ huynh, học sinh (HS) ngộ nhận về việc học tiếng Anh, ngộ nhận về IELTS.
TS Lộc cho rằng một trong những hiểu lầm phổ biến hiện nay là phụ huynh thường nhìn việc học tiếng Anh của trẻ tiểu học bằng tiêu chuẩn của người lớn: xem học tiếng Anh để thi sao cho đạt IELTS 7.0 hay 8.0; trẻ muốn học giỏi tiếng Anh là phải học nhiều ngữ pháp, làm nhiều bài tập, hoặc luyện thi chứng chỉ càng sớm càng tốt; hoặc nghĩ rằng trẻ phải phát âm giống người bản xứ mới được xem là giỏi; hay học với giáo viên (GV) nước ngoài thì hiệu quả hơn… Nhưng ở lứa tuổi tiểu học, điều quan trọng hơn là trẻ được tiếp xúc với tiếng Anh một cách tự nhiên, nghe, nói nhiều, bắt chước, tương tác, chơi trò chơi, sử dụng ngôn ngữ trong tình huống quen thuộc. Đặc biệt với trẻ em, yếu tố quan trọng là GV có hiểu tâm lý lứa tuổi, biết tổ chức hoạt động, biết điều chỉnh ngôn ngữ và biết giúp trẻ tiến bộ từng bước. Đó là lý do không phải ai có điểm IELTS cao cũng dạy được tiếng Anh, đặc biệt là dạy cho trẻ em.
Nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL IELTS Đình Lực, cho biết nếu nghĩ chỉ học tiếng Anh 1 - 2 năm là đạt được điểm IELTS mơ ước thì không khả thi; nhất là khi vào bậc THPT, HS vừa có quá nhiều môn học, kỳ thi để lo lắng, trong khi nếu học IELTS sớm, HS được bồi đắp vốn kiến thức, vốn tiếng Anh học thuật, xây dựng tư duy của mình, chứ không phải với tâm thế "học để thi".
Hơn nữa, lứa tuổi tiểu học là giai đoạn vàng để HS học nghe, nói tiếng Anh, bồi đắp tư duy, phát triển kiến thức. Do đó, nên trả IELTS về đúng vị trí của nó - học để các em phát triển ngôn ngữ và tư duy, kết nối với thế giới - không phải là một đường đua điểm số.
TS Đỗ Hữu Nguyên Lộc nhìn nhận: "Nếu học IELTS ở tiểu học bằng cách cho các em luyện đề thật, học mẹo làm bài, viết bài nghị luận học thuật, hoặc chạy theo mức điểm từ quá sớm, điều này có thể quá sức và chưa phù hợp. HS tiểu học chưa có nhu cầu thực tế phải thi IELTS ngay. Quan trọng hơn, các em đang trong giai đoạn hình thành ngôn ngữ, tư duy, cảm xúc học tập và sự tự tin. Nếu đưa áp lực thi cử vào quá sớm, trẻ có thể học một cách máy móc, thậm chí mất hứng thú với tiếng Anh".
Ông Lộc nói thêm: "Nếu IELTS được hiểu là một định hướng dài hạn để xây nền tiếng Anh học thuật, thì câu chuyện sẽ khác. Ở cấp tiểu học, các em hoàn toàn có thể làm quen với những năng lực nền tảng mà sau này IELTS cần: nghe hiểu ý chính, mô tả tranh, kể chuyện, so sánh, đưa ra lý do đơn giản, đọc văn bản phù hợp với lứa tuổi, viết câu và đoạn ngắn rõ ràng. Vấn đề không nằm ở chữ IELTS mà nằm ở cách chương trình được thiết kế".
Nghiên cứu sinh Như Quỳnh cũng cho hay hiện nay nhiều HS tiểu học đã học các chương trình Starter, Mover, Flyer; nhiều em mới lớp 2, lớp 3 đã hoàn thành Flyers, có nền tảng tiếng Anh khá vững. Sau khi hoàn thành các cấp độ trên, HS thường đã có vốn từ vựng, ngữ pháp và mẫu câu giao tiếp đủ tốt để miêu tả những điều quen thuộc xung quanh mình, cũng như giao tiếp cơ bản trong các tình huống đời thường. Vì vậy, khi chuyển lên IELTS ở bậc THCS, các em không bắt đầu từ con số 0, mà đã có một bước đệm tốt về ngôn ngữ.
Thạc sĩ Đỗ Thị Ngọc Anh, giảng viên tại DOL IELTS Đình Lực, cho rằng hoàn toàn khả thi nếu một HS tiểu học đạt được 7.0 IELTS, nếu em đó có phương pháp học tập, lộ trình phù hợp. Ví dụ, HS được học Starters từ lớp 1, Movers ở lớp 2, Flyers ở lớp 3, sau đó chuyển sang IELTS THCS trong giai đoạn lớp 4, lớp 5 và lớp 6. Khi lên lớp 7 hoặc lớp 8, các em có thể bắt đầu học IELTS theo hướng chuyên sâu hơn. "Còn lại nếu chỉ học IELTS bằng cách học tủ, học mẹo, luyện đề, học tập nhồi nhét để lấy điểm số thì điều này vừa áp lực, vừa không khả thi với HS tiểu học, THCS", thạc sĩ Ngọc Anh nói.
Phạm Vũ Thiên Di, lớp 6 Trường THCS - THPT Trần Đại Nghĩa, TP.HCM, đang học IELTS tại DOL English. Di cho biết lý do học IELTS sớm: "Con thấy giỏi tiếng Anh thì nghe được nhiều loại nhạc, xem nhiều loại phim và đọc được nhiều sách, tìm hiểu được nhiều nền văn hóa. Con cũng thích đi du lịch, du học và mọi thứ sẽ dễ dàng hơn nếu mình giỏi ngoại ngữ từ sớm. Nên con nghĩ cái gì mình có cơ hội chinh phục trước thì mình tập trung học giỏi để từ đó có nền tảng chinh phục, cải thiện các kỹ năng khác. Con thấy việc học vui vẻ, không áp lực". Mỗi ngày trên lớp, Di thường nói chuyện bằng tiếng Anh với các bạn. Khi rảnh rỗi, em xem các chương trình, nghe nhạc bằng tiếng Anh.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Xác định số lượng tuyển sinh theo quy định mới, trường ĐH chuẩn bị ra sao?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 - 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: "Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ".
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
"Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước", tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
"Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học... theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động".
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
"Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn đề xuất.
"Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 - 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất", tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Học sinh Hà Nội tính được tỷ lệ chọi trước khi chốt nguyện vọng lớp 10

Thông tin được ông Nghiêm Văn Bình, Trưởng phòng Quản lý thi và kiểm định chất lượng, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, chia sẻ tại hội nghị hướng dẫn tuyển sinh lớp 10, ngày 2/4.
Theo đó, thí sinh sẽ đăng ký lớp 10 trực tuyến, từ ngày 10 đến 17/4. Điểm mới nổi bật so với mọi năm là thí sinh có thể nhìn thấy biểu đồ thể hiện số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đăng ký vào mỗi trường ngay trên hệ thống.
Dựa vào chỉ tiêu của trường và biểu đồ này, học sinh có thể tự tính toán tỷ lệ chọi tại thời điểm đó để quyết định giữ nguyên hoặc đổi nguyện vọng. Hệ thống cũng hiển thị khoảng cách từ nhà đến trường để các em cân nhắc điều kiện đi lại. Tuy nhiên, sau ngày 17/4, mọi thông tin sẽ được khóa lại và không thể thay đổi.
"Chúng tôi khuyến cáo việc điều chỉnh nguyện vọng nên căn cứ vào năng lực, điều kiện thực tiễn, khoảng cách, tránh đăng ký quá an toàn, khi đỗ lại không học, ảnh hưởng đến hoạt động tuyển sinh và chính các em", ông Bình nói.
Về hình thức đăng ký, thí sinh tự thực hiện bằng cách dùng tài khoản VNEID của mình. Trong trường hợp cần hỗ trợ, giáo viên chủ nhiệm hoặc người thân có thể giúp đỡ nhưng phải xác minh VNEID cá nhân và dùng tài khoản định danh của học sinh.
Sau khi hoàn tất, thông tin nguyện vọng sẽ được in thành 4 bản, gửi về Sở, xã/phường, gia đình học sinh, còn trường giữ lại một bản để đối soát.
Nguyên tắc xét nguyện vọng lớp 10 công lập ở Hà Nội như sau:
- Học sinh đủ điểm đỗ nguyện vọng 1 sẽ không được xét nguyện vọng 2 và 3.
- Trượt nguyện vọng 1, thí sinh lần lượt được xét tới hai nguyện vọng sau, nếu có điểm cao hơn điểm chuẩn nguyện vọng 1 của trường đó ít nhất 0,5 và 1 điểm.
Các nguyện vọng được xét song song cho đến hết thí sinh đủ điều kiện, chứ không phải xét ưu tiên nguyện vọng 1, thiếu chỉ tiêu mới tới nguyện vọng 2 và 3.
Các mốc thời gian quan trọng trong kỳ thi lớp 10
Năm học 2025-2026, Hà Nội có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng 20.000 so với năm ngoái. Chỉ tiêu trường công lập là 88.000, tính cả THPT, giáo dục thường xuyên, trường nghề. Sở hiện chưa công bố chỉ tiêu chi tiết của từng trường.
Kỳ thi lớp 10 năm nay diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Thanh Hằng

