Mức hỗ trợ này được Bộ Y tế nêu trong dự thảo Nghị quyết về ban hành cơ chế chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cơ sở 2 (Ninh Bình). Dự thảo lấy ý kiến đến hết ngày 2/5, dự kiến trình Chính phủ thông qua vào tháng 5.
Bộ Y tế đánh giá trong giai đoạn đầu vận hành hai bệnh viện ở cơ sở 2, lượng người bệnh chưa ổn định, nguồn thu chưa đủ chi trả thu nhập thường xuyên. Việc chi khoản thu hút nhân lực là cần thiết để người lao động yên tâm công tác khi phải làm việc xa nhà, đi lại nhiều, chi phí sinh hoạt còn khó khăn. Do đó, Bộ đề xuất ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 1.150 tỷ đồng cho nhân viên, người lao động tại hai bệnh viện cơ sở 2 trong ba năm (2026-2028).
Theo đề xuất, mức chi phí thu hút bình quân mỗi tháng cho y, bác sĩ về cơ sở 2 làm việc là 15,6 triệu đồng. Số tiền hỗ trợ điều dưỡng là 12,2 triệu đồng, còn các vị trí khác như hành chính, hộ lý nhận 11,6 triệu. Các mức đề xuất này dựa trên trình độ đại học, vị trí việc làm, bằng mức lương và các khoản phụ cấp theo lương, trích nộp bảo hiểm trung bình theo mức lương hiện được hưởng của cơ sở 1 cho mỗi người lao động.
Bên cạnh đó, người lao động tại hai bệnh viện cơ sở 2 được hỗ trợ chi phí thuê nhà lưu trú tối đa 2,5 triệu đồng/tháng. Còn chi phí vận chuyển, đi lại giữa Hà Nội – Ninh Bình, Bộ Y tế đề xuất hỗ trợ 3,6 triệu đồng/ngày/xe. Tuy nhiên hiện chưa rõ “xe” trong diện hỗ trợ là xe gì, hoạt động như thế nào.
“Khoản hỗ trợ này vừa bảo đảm công bằng giữa hai cơ sở, vừa giúp bệnh viện duy trì đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu vận hành và nhiệm vụ được giao”, theo Bộ Y tế.
Lý giải về đề xuất này, Bộ Y tế cho biết giai đoạn đầu vận hành hai bệnh viện cơ sở 2, số lượng người lao động thường trực và lưu trú dài ngày lớn trong khi điều kiện sinh hoạt còn hạn chế. Vì vậy, ngân sách nhà nước cần hỗ trợ chi phí nhà ở để bảo đảm đời sống và ổn định nhân lực, nhất là đối với lực lượng luân chuyển làm việc theo hình thức đi về cuối tuần. Bộ Y tế cũng đánh giá với khoảng cách xa, nhu cầu đi lại thường xuyên giữa hai cơ sở phát sinh chi phí lớn vượt khả năng tự chi trả của người lao động, do đó cần có cơ chế hỗ trợ chi phí vận chuyển.
Bệnh viện cơ sở 2 cũng được đề xuất xếp hạng, cấp chuyên môn kỹ thuật tương ứng với hạng, cấp chuyên môn kỹ thuật của cơ sở 1. Lý do, nếu không được xếp cấp và hạng tương đương sẽ dẫn đến việc cơ sở 2 chỉ là cơ sở cấp cơ bản và tiếp nhận khám chữa bệnh ban đầu bảo hiểm y tế (BHYT). Tình huống này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và các tỉnh lân cận – là nơi tiếp nhận khám, chữa bệnh ban đầu đối với loại hình BHYT.
Ngoài ra, cơ sở 2 không tương đương về hạng với cơ sở 1 sẽ dẫn đến chênh lệch về phụ cấp đối với lãnh đạo khoa phòng đồng thời ảnh hưởng đến tâm lý làm việc của người lao động do bị coi là đang làm việc cơ sở có hạng thấp hơn.
Bộ Y tế cũng đề xuất được chuyển người bệnh trực tiếp giữa cơ sở 1 và cơ sở 2, xác định đúng trình tự chuyển giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT. Hai cơ sở 1 và 2 không phải ký hợp đồng với nhau khi chuyển người bệnh hoặc chuyển mẫu bệnh phẩm để thực hiện dịch vụ cận lâm sàng hay chuyển giao kỹ thuật. Thông thường hai đơn vị y tế độc lập phối hợp chuyển bệnh cần ký hợp đồng hợp tác với nhau.
Dự án cơ sở 2 của Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức khởi công năm 2015 với quy mô 1.000 giường mỗi nơi. Đưa cơ sở 2 của hai bệnh viện này vào hoạt động được xem là giải pháp chiến lược nhằm giảm tải cho bệnh viện tại Hà Nội, đồng thời giúp hàng chục triệu người dân tại Ninh Bình, Thanh Hóa và khu vực lân cận được tiếp cận dịch vụ y tế kỹ thuật cao ngay tại địa phương.
Tuy nhiên, cả hai công trình tạm dừng thi công từ năm 2021 khiến nhiều hạng mục xuống cấp. Thanh tra Chính phủ từng kết luận dự án có nhiều vi phạm về đầu tư, đấu thầu, gây lãng phí hơn 1.200 tỷ đồng. Bộ Công an đã khởi tố 7 bị can liên quan đến sai phạm tại hai dự án này.
Hôm 14/4, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu xử lý dứt điểm vướng mắc, hoàn thiện thủ tục và đưa hai bệnh viện Bạch Mai 2, Việt Đức 2 vào hoạt động trong quý II/2026.
Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai Đào Xuân Cơ xác nhận đơn vị đã hoàn tất khâu chuẩn bị nhân lực và thiết bị. Hơn 600 nhân viên y tế từ Hà Nội đã đăng ký luân chuyển, kết hợp cùng đội ngũ tuyển mới để vận hành 325 giường bệnh và hai phòng mổ cấp cứu.
Còn lãnh đạo bệnh viện Việt Đức xác định việc xây dựng cơ sở 2 không đơn thuần là mở rộng diện tích mà nhằm hoàn thiện 4 trụ cột là hạ tầng, trang thiết bị, con người và cơ chế vận hành. Bệnh viện đề xuất khởi động 30% công suất, tương đương 300 giường bệnh. Khi hệ thống hoạt động ổn định, đơn vị sẽ mở rộng quy mô theo nhu cầu thực tế.
Chiều 31-3, Bệnh viện Y học cổ truyền tổ chức hội thảo khoa học "Phát triển gói liệu pháp quản lý đau bằng y học cổ truyền hướng tới du lịch y tế".
Phát biểu tại hội thảo, ông Đỗ Tân Khoa, Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM, cho biết hiện nay Bệnh viện Y học cổ truyền đang xây dựng một mô hình du lịch y học cổ truyền gắn kết chặt chẽ với văn hóa Nam Bộ, nơi du khách không chỉ trải nghiệm các liệu pháp chăm sóc sức khỏe truyền thống mà còn được thưởng thức đời sống văn hóa và ẩm thực đặc sắc của vùng đất phương Nam.
PGS.TS Võ Thị Ngọc Thúy - Trường Tài Năng, Đại học Kinh tế TP.HCM - cho rằng du lịch y tế tại TP.HCM có lợi thế cạnh tranh lớn nhờ chi phí hợp lý và khả năng kết hợp giữa điều trị y khoa hiện đại với y học cổ truyền. Điều này cho phép bệnh nhân và du khách có thể điều trị dài ngày với mức chi phí phù hợp, đồng thời trải nghiệm nghỉ dưỡng.
Tuy nhiên một trong những khó khăn hiện nay là cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển mô hình này, đặc biệt là thiếu các khu nghỉ dưỡng kết hợp điều trị. Trong bối cảnh TP.HCM đang mở rộng địa bàn, việc đề xuất phát triển các khu đất riêng để xây dựng mô hình "resort y tế" là hướng đi hợp lý trong thời gian tới.
"So với các quốc gia trong khu vực như Singapore, Malaysia hay Thái Lan, du lịch y tế của Việt Nam đang ở mức cạnh tranh trung bình. Dù vậy, Việt Nam đã bắt đầu thu hút sự chú ý của du khách quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực y học cổ truyền, khi được xếp vào một trong những nhóm dịch vụ được quan tâm. Để phát triển mạnh mẽ hơn, cần tập trung vào chiến lược marketing bài bản", PGS Ngọc Thúy nhấn mạnh.
Theo PGS Võ Trọng Tuân - Trưởng khoa y học cổ truyền, Trường đại học Y Dược TP.HCM, trước hết cần xác định rõ vị trí của y học cổ truyền Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Qua các mô hình thành công như Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản hay Đài Loan, có thể thấy họ không chỉ phát triển y học như một lĩnh vực chuyên môn mà còn nâng tầm thành một sản phẩm văn hóa - kinh tế.
Ví dụ tại Trung Quốc, du khách thường được trải nghiệm các nhà thuốc nổi tiếng, thưởng thức trà dược liệu hoặc ẩm thực dưỡng sinh trước khi tiếp cận sâu hơn với các dịch vụ khám chữa bệnh. Đây chính là cách "dẫn dắt trải nghiệm" rất hiệu quả.
Singapore lại là một ví dụ điển hình trong việc chuyển hóa tiềm năng y tế thành một ngành công nghiệp dịch vụ có giá trị kinh tế cao, đặc biệt trong lĩnh vực điều trị chuyên sâu và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao.
Quay trở lại thực tiễn của TP.HCM, sau khi sáp nhập các địa phương, TP.HCM hiện nay có nhiều lợi thế nổi bật như có biển, có rừng, có hệ thống y tế phát triển và có sự quan tâm từ các cơ quan quản lý. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch y tế, đặc biệt trong lĩnh vực y học cổ truyền.
Ông Trần Ngọc Triệu, Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho biết trước đây Sở Y tế TP.HCM đã phối hợp với Sở Du lịch TP.HCM có những buổi làm việc nhằm định hướng phát triển du lịch y tế. Qua quá trình đi thực tế thấy các lĩnh vực tiềm năng phát triển y tế du lịch bao gồm y học cổ truyền, thẩm mỹ, nha khoa, khám sức khỏe tổng quát và sản - nhi.
Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy một số khó khăn. Đối với TP.HCM, dù có nhiều bệnh viện có tiềm năng lớn như Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM - nhưng cơ sở vật chất vẫn còn hạn chế, không mở rộng được nên chưa đáp ứng đầy đủ cho việc phát triển mạnh du lịch y tế.
Đối với các khu vực như Bình Dương hay Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, mặc dù có lợi thế về du lịch biển, nhưng lại gặp khó khăn về vị trí địa lý và sự kết nối với các khu du lịch.
Một yếu tố đặc biệt quan trọng là sự liên kết với các công ty lữ hành. Đây chính là cầu nối để đưa khách du lịch - cả quốc tế và nội địa, đến với các cơ sở y tế. Thực tế cho thấy số lượng khách tự tìm đến trải nghiệm dịch vụ y tế là rất ít; phần lớn đều thông qua các chương trình tour do công ty lữ hành tổ chức.
Ông Triệu cũng giao nhiệm vụ cho Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM đóng vai trò đầu mối để phát triển về du lịch TP.HCM không chỉ trong phạm vi thành phố mà còn lan tỏa ra các địa phương lân cận như Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và Lâm Đồng. Từ đó hình thành hệ sinh thái du lịch kết hợp nghỉ dưỡng, sinh thái và chăm sóc sức khỏe một cách bền vững.
"Bối cảnh già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và thay đổi lối sống như hút thuốc, thừa cân béo phì, ít vận động được xem là những yếu tố góp phần làm tăng số ca mắc", PGS.TS.BS. Bùi Diệu, Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, nói tại Hội thảo khoa học về Ung thư (Oncology Summit) do AstraZeneca Việt Nam phối hợp Hội Ung Thư tổ chức, hôm 11/4.
Hiện, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 180.000 ca ung thư mới và hơn 120.000 ca tử vong do ung thư. Tỷ suất mắc - tử vong ở mức 150,8 và 99 trên 100.000 dân, phản ánh gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng đối với hệ thống y tế cũng như toàn xã hội. Theo dự báo gánh nặng ung thư toàn cầu đăng trên tạp chí The Lancet, số ca ung thư tại Việt Nam có thể tăng 60-70% trong khoảng 25 năm tới.
Các loại ung thư phổ biến gồm vú, gan, phổi, đại trực tràng và dạ dày. Xu hướng trẻ hóa ở một số bệnh như ung thư vú và ung thư đại trực tràng, đặt ra thách thức mới về tầm soát sớm, chẩn đoán và điều trị.
Tỷ lệ tử vong do ung thư ở Việt Nam cao do bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, dẫn đến hiệu quả điều trị hạn chế. Ngoài ra, những ung thư phổ biến nhất ở người Việt lại là loại có tiên lượng xấu như ung thư gan,phổi.
Dưới áp lực gánh nặng ung thư ngày càng gia tăng và xu hướng trẻ hóa bệnh nhân tại Việt Nam, PGS Diệu cho rằng ứng dụng các tiến bộ y học không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
"Thúc đẩy y học chính xác, với trọng tâm là cá thể hóa phác đồ điều trị, mở ra một kỷ nguyên chăm sóc y tế dựa trên bằng chứng và đặc điểm riêng của từng người bệnh", PGS Diệu nói. Chìa khóa cho kỷ nguyên này nằm ở việc triển khai các kỹ thuật chẩn đoán tiên tiến. Ví dụ, sinh thiết lỏng trong xét nghiệm sinh học phân tử, kết hợp hạ tầng dữ liệu số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chẩn đoán, theo dõi.
Tại hội nghị, TS.BS Jomtana Siripaibun, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Chulabhorn (Thái Lan) cho hay thúc đẩy hội chẩn đa chuyên khoa (MDT) số hóa và sinh thiết lỏng là nền tảng cho cá thể hóa điều trị ung thư bằng y học chính xác. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy bệnh nhân ung thư có thể cải thiện thời gian sống thêm hơn 15 tháng nếu áp dụng MDT vào chẩn đoán và điều trị so với không áp dụng.
Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vận hành MDT chưa được thường quy, trong đó có thiếu hạ tầng số khiến dữ liệu bị phân tán. Giải pháp được các chuyên gia quốc tế chia sẻ nằm ở việc triển khai các nền tảng MDT số hóa, kết nối trực tiếp với hồ sơ bệnh án điện tử để theo dõi kết quả điều trị theo thời gian thực.
MDT là chiến lược sống còn trong điều trị ung thư, và chuyển đổi số là điều kiện bắt buộc để mô hình này vận hành bền vững. "Khi triển khai nền tảng MDT số hóa kết nối dữ liệu lâm sàng, chúng tôi ghi nhận quy trình chuẩn bị ca bệnh hiệu quả hơn và hồ sơ điều trị đầy đủ, nhất quán hơn", bà nói. Điều quan trọng là bắt đầu từ một nhóm bệnh ưu tiên và một quy trình hội chẩn chuẩn, theo dõi đầy đủ, để từng bước xây dựng năng lực hệ thống cho chăm sóc ung thư hiện đại.
Còn TS.BS Chien-Feng Li, Trưởng khoa Giải phẫu bệnh lâm sàng và Xét nghiệm Trung tâm Y tế Chi Mei, Giáo sư Trường Y khoa, Đại học Quốc gia Sun Yat-sen, Đài Loan, đánh giá những tiến bộ trong sinh thiết lỏng và trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo nên chuyển đổi mang tính bước ngoặt trong chẩn đoán và điều trị ung thư. Cách tiếp cận này giúp lựa chọn điều trị phù hợp hơn cho từng người bệnh và tối ưu hóa hiệu quả điều trị, chăm sóc.
Tại Việt Nam, tỷ lệ mang gen bệnh tan máu bẩm sinh ước trên 13%, có khoảng 14 triệu người mang gen bệnh trên cả nước. Một số dân tộc có tỷ lệ mang gen thalassemia lên tới 30 - 40%, riêng dân tộc Kinh là 9,8%.
Trước đây, nhiều người hiểu lầm chỉ có người dân khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa mới bị bệnh tan máu bẩm sinh. Nhưng thực tế, tất cả các địa phương và 54 dân tộc ở nước ta đều có người mang gen bệnh.
Thông tin trên được Viện Huyết học - Truyền máu T.Ư cho biết tại lễ mít tinh kỷ niệm Ngày Thalassemia thế giới 8.5, với chủ đề "Đem ánh sáng nhân ái - chạm nỗi niềm không tên". Chủ đề hướng tới các vấn đề về tâm lý, xã hội của người bệnh, đặc biệt dành sự chia sẻ với những nỗi niềm riêng của phụ nữ, trẻ em gái mắc bệnh tan máu bẩm sinh; và những người mẹ có con bị bệnh.
Theo Viện Huyết học - Truyền máu T.Ư, bệnh thalassemia là bệnh di truyền lặn phổ biến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đây là bệnh của tế bào hồng cầu, theo đó hồng cầu của người bệnh bị thay đổi về hình thái và chất lượng, hồng cầu dễ bị vỡ hơn (còn gọi là tan máu), thời gian sống của hồng cầu ngắn hơn so với bình thường, gây ra tình trạng thiếu máu.
Người bệnh cần được điều trị định kỳ suốt đời bằng truyền máu (khối hồng cầu) và dùng thuốc thải sắt. Nếu người bệnh không được điều trị truyền máu đều đặn, định kỳ sẽ ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể, làm sức khỏe bị giảm sút trầm trọng và ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống và tuổi thọ.
Người mang gen bệnh không có biểu hiện gì để nhận biết qua vẻ bề ngoài nhưng có thể di truyền gen bệnh cho đời sau. Hầu hết họ không biết mình mang gen cho đến khi đi xét nghiệm hoặc không may sinh ra con bị bệnh.
Đại diện Viện Huyết học - Truyền máu T.Ư cho biết, các năm gần đây, viện vẫn tiếp nhận thêm hàng trăm bệnh nhi mới sinh bị bệnh tan máu bẩm sinh. Trên cả nước, mỗi năm có khoảng 8.000 em bé sinh ra bị bệnh tan máu bẩm sinh ở các mức độ khác nhau.
Tan máu bẩm sinh thalassemia đã được đưa vào danh sách các bệnh bắt buộc cần sàng lọc trước sinh và là bệnh đứng hàng đầu trong các bệnh di truyền cần tư vấn, xét nghiệm tiền hôn nhân. Việc này nhằm đẩy mạnh hoạt động sàng lọc thalassemia trước sinh và trước kết hôn, tiến tới giảm dần số trẻ sinh ra bị bệnh thalassemia.
Cũng tại lễ mít tinh tổ chức chiều nay 8.5, Viện Huyết học - Truyền máu T.Ư trao giải cuộc thi viết thư với chủ đề "Lòng mẹ bao la" và cuộc thi "Người đưa tin giỏi nhất".
Hai cuộc thi thu hút hàng trăm người bệnh, người nhà người bệnh tham gia. Các bài dự thi giúp cộng đồng hiểu hơn về những gánh nặng không tên trên vai người bệnh, lan tỏa thông điệp về tính cấp thiết của việc phòng bệnh thalassemia.