Chiều 31-3, Bệnh viện Y học cổ truyền tổ chức hội thảo khoa học “Phát triển gói liệu pháp quản lý đau bằng y học cổ truyền hướng tới du lịch y tế”.
Phát biểu tại hội thảo, ông Đỗ Tân Khoa, Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM, cho biết hiện nay Bệnh viện Y học cổ truyền đang xây dựng một mô hình du lịch y học cổ truyền gắn kết chặt chẽ với văn hóa Nam Bộ, nơi du khách không chỉ trải nghiệm các liệu pháp chăm sóc sức khỏe truyền thống mà còn được thưởng thức đời sống văn hóa và ẩm thực đặc sắc của vùng đất phương Nam.
PGS.TS Võ Thị Ngọc Thúy – Trường Tài Năng, Đại học Kinh tế TP.HCM – cho rằng du lịch y tế tại TP.HCM có lợi thế cạnh tranh lớn nhờ chi phí hợp lý và khả năng kết hợp giữa điều trị y khoa hiện đại với y học cổ truyền. Điều này cho phép bệnh nhân và du khách có thể điều trị dài ngày với mức chi phí phù hợp, đồng thời trải nghiệm nghỉ dưỡng.
Tuy nhiên một trong những khó khăn hiện nay là cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển mô hình này, đặc biệt là thiếu các khu nghỉ dưỡng kết hợp điều trị. Trong bối cảnh TP.HCM đang mở rộng địa bàn, việc đề xuất phát triển các khu đất riêng để xây dựng mô hình “resort y tế” là hướng đi hợp lý trong thời gian tới.
“So với các quốc gia trong khu vực như Singapore, Malaysia hay Thái Lan, du lịch y tế của Việt Nam đang ở mức cạnh tranh trung bình. Dù vậy, Việt Nam đã bắt đầu thu hút sự chú ý của du khách quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực y học cổ truyền, khi được xếp vào một trong những nhóm dịch vụ được quan tâm. Để phát triển mạnh mẽ hơn, cần tập trung vào chiến lược marketing bài bản”, PGS Ngọc Thúy nhấn mạnh.
Theo PGS Võ Trọng Tuân – Trưởng khoa y học cổ truyền, Trường đại học Y Dược TP.HCM, trước hết cần xác định rõ vị trí của y học cổ truyền Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Qua các mô hình thành công như Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản hay Đài Loan, có thể thấy họ không chỉ phát triển y học như một lĩnh vực chuyên môn mà còn nâng tầm thành một sản phẩm văn hóa – kinh tế.
Ví dụ tại Trung Quốc, du khách thường được trải nghiệm các nhà thuốc nổi tiếng, thưởng thức trà dược liệu hoặc ẩm thực dưỡng sinh trước khi tiếp cận sâu hơn với các dịch vụ khám chữa bệnh. Đây chính là cách “dẫn dắt trải nghiệm” rất hiệu quả.
Singapore lại là một ví dụ điển hình trong việc chuyển hóa tiềm năng y tế thành một ngành công nghiệp dịch vụ có giá trị kinh tế cao, đặc biệt trong lĩnh vực điều trị chuyên sâu và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao.
Quay trở lại thực tiễn của TP.HCM, sau khi sáp nhập các địa phương, TP.HCM hiện nay có nhiều lợi thế nổi bật như có biển, có rừng, có hệ thống y tế phát triển và có sự quan tâm từ các cơ quan quản lý. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch y tế, đặc biệt trong lĩnh vực y học cổ truyền.
Ông Trần Ngọc Triệu, Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho biết trước đây Sở Y tế TP.HCM đã phối hợp với Sở Du lịch TP.HCM có những buổi làm việc nhằm định hướng phát triển du lịch y tế. Qua quá trình đi thực tế thấy các lĩnh vực tiềm năng phát triển y tế du lịch bao gồm y học cổ truyền, thẩm mỹ, nha khoa, khám sức khỏe tổng quát và sản – nhi.
Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy một số khó khăn. Đối với TP.HCM, dù có nhiều bệnh viện có tiềm năng lớn như Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM – nhưng cơ sở vật chất vẫn còn hạn chế, không mở rộng được nên chưa đáp ứng đầy đủ cho việc phát triển mạnh du lịch y tế.
Đối với các khu vực như Bình Dương hay Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, mặc dù có lợi thế về du lịch biển, nhưng lại gặp khó khăn về vị trí địa lý và sự kết nối với các khu du lịch.
Một yếu tố đặc biệt quan trọng là sự liên kết với các công ty lữ hành. Đây chính là cầu nối để đưa khách du lịch – cả quốc tế và nội địa, đến với các cơ sở y tế. Thực tế cho thấy số lượng khách tự tìm đến trải nghiệm dịch vụ y tế là rất ít; phần lớn đều thông qua các chương trình tour do công ty lữ hành tổ chức.
Ông Triệu cũng giao nhiệm vụ cho Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM đóng vai trò đầu mối để phát triển về du lịch TP.HCM không chỉ trong phạm vi thành phố mà còn lan tỏa ra các địa phương lân cận như Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và Lâm Đồng. Từ đó hình thành hệ sinh thái du lịch kết hợp nghỉ dưỡng, sinh thái và chăm sóc sức khỏe một cách bền vững.
Khoảng 17h40 ngày 25/4, khi chuẩn bị đến bệnh viện làm ca trực, BSCKI Lê Quang Huy (Khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Đà Nẵng) nghe tiếng hô hoán có người bất tỉnh tại sân pickleball đối diện nhà.
Tiếp cận hiện trường, bác sĩ Huy ghi nhận người đàn ông ngoài 50 tuổi đã mất ý thức, toàn thân tím tái, sùi bọt mép, mạch khó bắt và thở nhanh yếu. Nhận định nạn nhân bị ngưng tuần hoàn, bác sĩ lập tức khai thông đường thở và thực hiện hồi sinh tim phổi (CPR) bằng cách ép tim ngoài lồng ngực.
Sau hơn 5 phút ép tim liên tục, bệnh nhân bắt đầu có nhịp tim trở lại, mạch rõ hơn và dần hồi phục ý thức. Ngay sau đó, lực lượng cấp cứu 115 đã có mặt để chuyển người bệnh đến bệnh viện tiếp tục điều trị.
Ngày 26/4, sức khỏe bệnh nhân đã ổn định và được xuất viện.
TS. BS Lê Đức Nhân, Giám đốc Bệnh viện Đà Nẵng, đánh giá đây là trường hợp điển hình cho thấy vai trò sống còn của sơ cứu ban đầu. "Trong cấp cứu ngưng tuần hoàn, từng phút đều có ý nghĩa quyết định. Nếu người bệnh được thực hiện hồi sinh tim phổi đúng kỹ thuật ngay tại hiện trường, cơ hội cứu sống sẽ tăng lên đáng kể", ông Nhân nói.
Lãnh đạo bệnh viện cho biết đơn vị thường xuyên tập huấn kỹ năng này cho nhân viên y tế và nỗ lực lan tỏa các kỹ năng sơ cấp cứu thiết yếu ra cộng đồng để ứng phó với các tình huống khẩn cấp tương tự.
Ngày 5.5 nữ bệnh nhân N.T.T.H (37 tuổi, ở Hà Nội) đã được ra viện sau 3 tuần ghép tế bào gốc tự thân điều trị u lympho không Hodgkin tế bào B hệ thần kinh T.Ư, là bệnh ác tính hiếm gặp, dễ tái phát.
Trước đó, năm 2025, chị H. bị liệt, cấp cứu tại bệnh viện về ngoại khoa, được phát hiện u não ác tính. Khi đó, do tính chất khối u, các bác sĩ đã phẫu thuật nhưng chỉ có thể phẫu thuật được khoảng 70%, không thể lấy hết khối u.
Tháng 5.2025, bệnh nhân vào điều trị tại Trung tâm Huyết học, Bệnh viện 19 - 8 trong tình trạng nặng do đã ở giai đoạn muộn của bệnh, khối u kích thước khá lớn (8 x 10 mm).
Tại đây, sau 3 đợt truyền hóa chất, với phác đồ điều trị hóa chất liều rất cao, khối u đã "tiêu" hết. Quá trình điều trị bệnh nhân cũng đã trải qua các diễn biến rất nặng: suy thận cấp, suy giảm toàn bộ miễn dịch, nấm họng, loét miệng…, được điều trị, chăm sóc toàn diện bởi các chuyên khoa: huyết học truyền máu, chống nhiễm khuẩn, dinh dưỡng…
"Tuy nhiên, đây là bệnh nguy hiểm, khả năng tái phát rất cao, do đó, bệnh nhân được hội chẩn và được chỉ định ghép tế bào gốc tự thân để ngăn ngừa tái phát, sau 7 đợt truyền hóa chất, với sự hỗ trợ của Viện Huyết học - truyền máu T.Ư", bác sĩ Lê Thị Thùy Dương (Trung tâm Huyết học - truyền máu, Bệnh viện 19 - 8) cho biết.
Theo bác sĩ Dương, quá trình ghép tế bào gốc yêu cầu rất ngặt nghèo về kiểm soát nhiễm khuẩn, do người bệnh cần truyền hóa chất liều rất cao, miễn dịch gần như bằng không. Bệnh nhân được theo dõi, chăm sóc y tế đặc biệt, theo dõi sát sao diễn biến sức khỏe. Sau khoảng 3 tuần truyền tế bào gốc, bệnh nhân H. ra viện với tình trạng sức khỏe khả quan.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Phạm Thị Việt Anh, Phó giám đốc phụ trách Trung tâm Huyết học - truyền máu, Bệnh viện 19-8, cho biết, trong lực lượng y tế công an nhân dân, Bệnh viện 19 - 8 là đơn vị đi đầu triển khai kỹ thuật ghép tế bào gốc tự thân trong điều trị các bệnh lý huyết học.
"Trước đây, vào điều trị chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ công an. Với bệnh nhân H., đây là lần đầu tiên chúng tôi thực hiện thành công ca ghép cho một bệnh nhân ngoài lực lượng công an nhân dân. Các kỹ thuật chuyên sâu, công nghệ cao của bệnh viện không chỉ phục vụ lực lượng công an mà đang từng bước được mở rộng để phục vụ người dân", bác sĩ Phạm Thị Việt Anh chia sẻ.
Với thành công trong điều trị ca bệnh ác tính hiếm gặp, PGS-TS Nguyễn Tiến Quang, Giám đốc Bệnh viện 19-8, nhìn nhận, ca ghép khẳng định đội ngũ y bác sĩ của bệnh viện đã làm chủ các kỹ thuật điều trị chuyên sâu, hiện đại, là tiền đề quan trọng để bệnh viện tiếp tục phát triển các kỹ thuật chuyên sâu trong thời gian tới, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, thêm cơ hội điều trị hiệu quả cho người bệnh.
Công an Hà Nội phát hiện đường dây giết mổ và tiêu thụ 3.600 con lợn mắc dịch tả châu Phi, tương đương 300 tấn. Trong chuỗi này, công ty Cường Phát được xác định là đầu mối tiêu thụ và phân phối, cung cấp thịt cho một số trường học ở Hà Nội. Nhiều gia đình lo lắng việc tiêu thụ thịt lợn bệnh khi nấu chín có an toàn hay gây hại sức khỏe.
PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, chuyên gia Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội, nhấn mạnh việc tiêu thụ thịt lợn bệnh, ngay cả khi đã nấu chín kỹ, vẫn không an toàn và tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng sức khỏe.
Dù nhiệt độ cao có thể tiêu diệt hầu hết vi khuẩn và virus, nhưng nó không thể loại bỏ các độc tố do vi khuẩn tiết ra trong quá trình lợn bị bệnh hoặc do thịt bắt đầu phân hủy. Những độc tố này rất bền với nhiệt và có thể gây ngộ độc cấp tính, nôn mửa hoặc tiêu chảy nặng, thậm chí nguy hiểm tính mạng.
Quá trình chế biến thiếu vệ sinh cũng tạo điều kiện cho virus cúm lợn, dịch tả châu Phi, liên cầu lợn lây lan gián tiếp sang người. Khối thịt ốm chứa mầm bệnh Salmonella, E.coli, Listeria gây rối loạn tiêu hóa, sốt cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe trẻ nhỏ, người già và phụ nữ mang thai. Ký sinh trùng gồm giun xoắn, nang sán xâm nhập cơ thể, phá hủy cơ, mắt và thần kinh trung ương nếu đầu bếp đun nấu chưa đủ thời gian.
Thêm vào đó, người chăn nuôi thường tiêm kháng sinh liều cao nhằm "chạy dịch", khiến cơ thể người ăn vô tình hấp thụ dư lượng thuốc. Nhiều tiểu thương lạm dụng hóa chất độc hại nhằm khử mùi hôi thịt thiu, gây nguy cơ mắc bệnh ung thư cho khách hàng.
Bộ Y tế yêu cầu người dân từ bỏ thói quen ăn tiết canh, thịt tái; thực hiện nghiêm quy tắc ăn chín uống sôi và tuyệt đối không giết mổ lợn ốm, chết. Chuyên gia khuyên người nội trợ chọn mua thực phẩm tại cơ sở uy tín, mang dấu kiểm dịch rõ ràng. Người tiêu dùng cần tránh xa miếng thịt có màu xám nhạt, xuất huyết dưới da, nhão rỉ nước, bốc mùi ôi thiu hoặc mùi kháng sinh. Nếu ấn ngón tay để lại vết lõm hoặc phát hiện hạt trắng như hạt gạo xen kẽ trong thớ cơ, người dân tuyệt đối không mua để bảo vệ sức khỏe gia đình.