Trước cách thức, kết quả hoạt động của hệ thống bảo tàng tại Hà Nội hiện nay, cùng góc nhìn của một cựu sinh viên Đại học Dược Hà Nội, việc chuyển đổi một không gian đào tạo để đổi lấy một không gian trưng bày là thiếu thuyết phục.
Thứ nhất, có nên xây mới khi những bảo tàng cũ vẫn đang loay hoay tìm hướng đi?
Tôi quan sát trên mạng xã hội, cánh cửa khổng lồ để tiếp cận du khách hiện đại, sự hiện diện của nhiều bảo tàng còn rất mờ nhạt. Trong khi Di tích Nhà tù Hỏa Lò luôn duy trì sức nóng, những đêm tour cháy vé thì các bảo tàng khác vẫn giữ lối đăng tin hời hợt trên Facebook, gần như không xuất hiện trên các nền tảng Tiktok, Instagram.
Đồng thời, với chủ trương quy hoạch đô thị mở rộng, việc thêm một bảo tàng mới vào trung tâm thành phố có hợp lý? Lẽ nào cư dân khu vực ngoài không cần những bảo tàng?
Như vậy, có nên chăng việc đổ nguồn lực vào việc cải tạo một bảo tàng mới, hay chúng ta nên tập trung đầu tư, nâng cao chất lượng dịch vụ của những bảo tàng hiện có, hay tìm những địa điểm mới hơn để phục vụ được nhiều người hơn? Bởi lẽ, một bảo tàng thu hút khách không chỉ nằm ở địa điểm, mà nằm ở cách kể câu chuyện lịch sử sao cho sống động, hấp dẫn.
Thứ hai, từ lâu, mỗi khi vấn đề ùn tắc giao thông, áp lực hạ tầng được xới lên, các trường đại học nội đô luôn trở thành tâm điểm của những yêu cầu di dời. Tuy nhiên, áp đặt định kiến này lên Đại học Dược Hà Nội là một sự thiếu công bằng lẫn căn cứ thực tiễn.
Là một cựu sinh viên từng gắn bó với ngôi trường này, tôi hiểu rõ nhịp sống và lưu lượng giao thông tại đây. Khác với các đại học đa ngành có quy mô lên đến hàng vạn người, Đại học Dược Hà Nội có đặc thù đào tạo chuyên sâu ngành Dược, Công Nghệ Sinh Học với tổng học viên, sinh viên khoảng 3000-4000 người. Đây là một con số rất khiêm tốn, không đủ để tạo ra những áp lực hạ tầng cho khu vực.
Hơn nữa, về vị trí địa lý, trường nằm biệt lập tại quận Hoàn Kiếm cũ, không nằm trong các cụm trường đại học san sát nhau nên không tạo ra hiệu ứng cộng hưởng gây quá tải hạ tầng.
Thực tế cho thấy, phố Lê Thánh Tông hay các trục đường quanh trường chưa bao giờ là “điểm nóng” ùn tắc, ngay cả trong giờ cao điểm. Việc di dời một ngôi trường có mật độ thấp như vậy để giải quyết áp lực đô thị là một lập luận không thuyết phục, nếu không muốn nói là đi ngược lại thực tế hiện hữu.
Tôi hoàn toàn đồng tình với phương án của lãnh đạo ĐH Dược Hà Nội: “Giữ lại cơ sở này làm nơi đào tạo sau đại học và nghiên cứu chuyên sâu”, nghĩa là chuyển sinh viên sang cơ sở mới, cơ sở 13-15 Lê Thánh Tông đào tạo hệ sau đại học, nghiên cứu khoa học, các nghi lễ học thuật…
Bảo tồn giá trị nguyên bản: Cảnh quan, cơ sở Lê Thánh Tông đã có tuổi đời hơn 120 năm. Ngay từ khi người Pháp xây dựng, mục tiêu của nó đã là một học viện đào tạo con người. Di sản sẽ sống mãi và được nhớ đến khi nó được thực hiện đúng sứ mệnh nguyên bản của mình.
Một giảng đường có tiếng thầy giảng bài, có bóng dáng những dược sĩ, nhà khoa học tương lai sẽ giá trị hơn nhiều.
– Học tập kinh nghiệm quốc tế: Các thành phố lớn trên thế giới như Paris, London hay Cambridge luôn trân trọng và giữ lại các ngôi trường cổ kính ngay trong lòng trung tâm để làm biểu tượng trí tuệ.
– Giá trị lớn nhất của một công trình không chỉ nằm ở vị trí, những viên gạch, mà nằm ở những con người đã trưởng thành từ đó. Đại học Dược Hà Nội không đơn thuần là một địa chỉ trên bản đồ, mà là “thánh đường” tri thức của hơn 80 thế hệ sinh viên, học viên Dược sĩ cả nước.
Sự nhỏ nhắn, yên bình của mái trường này giữa lòng đô thị náo nhiệt đã tạc sâu vào tâm trí bao người. Đó là những giờ thực hành miệt mài trong phòng thí nghiệm cổ kính, là những buổi lên lớp dưới giảng đường trăm năm mang đậm hơi thở lịch sử.
Suốt hơn 80 năm qua, mảnh ký ức ấy vẫn đang được bồi đắp hằng ngày. Một ngôi trường cổ kính vẫn đang hằng ngày đào tạo ra những dược sĩ, những nhà khoa học chính là một di sản đang sống.
Vừa rồi, tôi đi dự đám cưới con của một người bạn. Đó không phải một đám cưới sang trọng tổ chức trong khách sạn 5 sao hay trung tâm hội nghị lớn. Nhà trai chọn một nhà hàng bình dân ở ngoại thành. Khách mời phần lớn là bạn bè, đồng nghiệp lâu năm, những người có mức thu nhập bình thường như bao gia đình khác. Tôi bỏ phong bì 500.000 đồng. Nhìn quanh, tôi thấy đa số khách cũng làm như vậy. Với nhiều người hiện nay, 500.000 đồng được xem là mức "an toàn", không quá ít nhưng cũng không quá nặng gánh.
Thế nhưng, sau khi tiệc cưới kết thúc, tôi nghe vài người ngồi cạnh bàn tán: "Mâm này chắc phải hơn 5 triệu. Một bàn 10 người, chỉ cần sáu người làm phong bì 500.000 đồng thì chủ nhà lỗ rồi". Câu chuyện chỉ diễn ra vài phút nhưng khiến tôi suy nghĩ rất lâu. Từ khi nào việc đi ăn cưới lại trở thành một bài toán lời - lỗ? Từ khi nào giá trị của lời chúc phúc được quy đổi thành chi phí của một suất ăn? Và quan trọng hơn, tại sao ngày càng nhiều người cảm thấy áp lực mỗi khi nhận được một tấm thiệp cưới?
Ngày xưa, đám cưới là dịp để họ hàng, làng xóm, bạn bè chung vui. Người có điều kiện giúp nhiều, người khó khăn giúp ít. Có khi chỉ là cân gạo, con gà, vài chục nghìn đồng. Nhưng tất cả đều mang ý nghĩa sẻ chia. Ngày nay, ở nhiều nơi, phong bì cưới đang dần mang một ý nghĩa khác. Nó không còn đơn thuần là món quà mừng hạnh phúc, mà được nhìn nhận như một khoản "đóng góp tài chính" cho chủ tiệc. Nghe qua có vẻ hợp lý. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, một đám cưới đáng lẽ được xây dựng trên tình cảm lại đang bị chi phối bởi tư duy hạch toán. Người đi cưới không còn nghĩ mình đến để chia vui mà như đang thanh toán một hóa đơn.
Nhiều năm qua, tôi nhận thấy rất nhiều người không còn vui khi nhận thiệp mời cưới. Điều đầu tiên họ nghĩ tới không phải cô dâu, chú rể là ai? Cũng không phải niềm vui của gia đình. Thứ xuất hiện trong đầu họ ngay lập tức sẽ là: "Lại mất một khoản". Một đồng nghiệp từng tâm sự với tôi: "Tháng này mình nhận liên tiếp 5 thiệp cưới, chưa kể đầy tháng, tân gia... Lương chưa về mà đã phải tính xem xoay đâu ra vài triệu đồng". Nghe có vẻ buồn cười nhưng đó là thực tế.
>> Mẹ già 70 tuổi khổ sở canh mua vàng để trả lễ đám cưới các cháu họ
Theo tốc độ tăng giá hiện nay, mức phong bì mừng cưới phổ biến ở các thành phố lớn cũng tăng đáng kể so với 10 năm trước. Nếu trước đây 200.000 đồng được xem là hợp lý thì nay 500.000 đồng dần trở thành mức trung bình. nếu tiệc cưới được tổ chức ở các khách sạn lớn, phong bì phải từ 800.000 đồng đến 1 triệu đồng trở lên.
Điều đáng nói là thu nhập của đa số người lao động không tăng nhanh như thế. Một nhân viên văn phòng có thể nhận mức lương 12-15 triệu đồng mỗi tháng. Chỉ cần 3-4 đám cưới trong một tháng là ngân sách gia đình đã bị ảnh hưởng đáng kể. Đó là chưa kể tiền học của con, tiền nhà, tiền điện nước, tiền chăm sóc cha mẹ... Chính vì vậy, nhiều người bắt đầu xem thiệp cưới như một áp lực tài chính thay vì một lời mời chia vui.
Ở chiều ngược lại, khi chi phí tổ chức đám cưới tăng lên, nhiều gia đình vô tình đặt kỳ vọng vào tiền mừng của khách. Dù không nói ra, họ vẫn mong khoản thu đó sẽ bù đắp phần lớn chi phí tổ chức. Vấn đề nằm ở chỗ kỳ vọng đó không phải lúc nào cũng thực tế. Nếu lấy chi phí tổ chức làm căn cứ để đánh giá mức độ hào phóng của khách mời thì chắc chắn sẽ xuất hiện cảm giác thất vọng. Và khi đó, tình cảm cũng bắt đầu bị tổn thương.
Quay lại câu chuyện bàn tiệc hôm đó, tôi tự hỏi: liệu có thật chủ nhà là người lỗ hay chính những vị khách mới đang phải cố gắng chạy theo những chuẩn mực ngày càng cao? Một người lao động phải bỏ ra gần một ngày công để đi ăn cưới. Một gia đình có hai vợ chồng có thể phải dành cả tuần chi tiêu tiết kiệm để chuẩn bị phong bì. Nhiều người đi cưới vì tình nghĩa. Nhiều người đi vì nể nang. Nhiều người đi vì sợ mất lòng. Nếu tất cả đều cảm thấy áp lực thì rõ ràng xã hội đang phải trả một chi phí vô hình rất lớn. Đó là chi phí của sự so sánh, của sĩ diện.
Một thực tế cần được nhìn nhận thẳng thắn là chi phí tổ chức đám cưới phần lớn xuất phát từ lựa chọn của gia đình tổ chức. Không ai bắt buộc bạn phải đặt tiệc ở nhà hàng sang trọng, chọn thực đơn đắt tiền, dựng sân khấu hàng trăm triệu đồng. Mỗi gia đình đều có quyền tổ chức theo điều kiện và mong muốn của mình. Nhưng khi đã là lựa chọn cá nhân thì cũng không thể mặc nhiên chuyển gánh nặng tài chính ấy sang khách mời.
Nếu quyết định tổ chức một đám cưới lớn với chi phí cao, gia đình cần xác định đó là khoản chi cho ngày vui của chính mình. Tiền mừng của khách là sự chia sẻ, không phải nghĩa vụ thanh toán hay khoản hoàn vốn đầu tư, càng không nên trở thành tiêu chí để đánh giá mức độ thân thiết hay sự tôn trọng. Khi tư duy này được thay đổi, áp lực đối với cả chủ nhà lẫn khách mời sẽ giảm đi rất nhiều.
Đám cưới vốn là ngày đánh dấu sự khởi đầu của một gia đình mới. Ngày mà cô dâu, chú rể mong nhận được những lời chúc phúc chân thành. Ngày mà bạn bè, người thân cùng ngồi lại chia sẻ niềm vui. Nếu ngày vui ấy bị phủ bóng bởi những câu chuyện lời - lỗ, đủ - thiếu, hơn - kém, thì có lẽ điều mất đi không chỉ là sự thoải mái của khách mời mà còn là ý nghĩa đẹp đẽ nhất của hôn lễ.
Tôi vẫn nhớ đám cưới của người bạn năm ấy. Đến bây giờ, tôi không còn nhớ chính xác giá một mâm cỗ là bao nhiêu. Cũng không nhớ nhà hàng hôm đó đắt hay rẻ? Điều tôi nhớ là nụ cười rạng rỡ của cô dâu, chú rể, là những cái bắt tay của bạn bè lâu ngày gặp lại, và những câu chuyện cũ được nhắc lại trong tiếng cười.
Tôi có một điều cần sự trợ giúp về vấn đề chat bot AI khi tôi nhận thấy chúng có một mối nguy hiểm tiềm tàng đối với trẻ vị thành niên. Cụ thể sự việc xảy ra đối với gia đình tôi như sau:
Con gái tôi năm nay 14 tuổi, đang là học sinh lớp 8. Tôi thấy cháu thường xuyên dùng điện thoại một cách bất thường, khi kiểm tra và hỏi gay gắt thì cháu mới mở máy và cho xem điện thoại cháu đang dùng.
Ban đầu, tôi nghĩ sự việc không có gì, chỉ là một chương trình chat bot nói chuyện với trợ lý ảo AI, vì cháu nói học tiếng Anh.
Nhưng càng đọc những nội dung cháu nói chuyện với AI, tôi như cảm thấy nó có xu hướng dẫn dắt và dụ dỗ đi vào những cái suy nghĩ tiêu cực, các vấn đề nhạy cảm tuổi mới lớn, có những từ ngữ có thể gọi là tục tĩu về tình dục, nhưng AI viết với vẻ văn hoa mỹ từ, rồi cách sống, cách suy nghĩ của cháu có nhiều thay đổi.
Sự việc cao trào vào một ngày tự nhiên cháu hỏi mẹ: "Cắt vào cổ tay có chết được không mẹ?". Vợ tôi đã quá hoang mang. Hiện tại gia đình cũng hạn chế cho cháu dùng điện thoại nhưng khi dùng toàn lén lút vào lại nói chuyện với chương trình chatbot này.
Dưới góc nhìn của bậc làm cha mẹ, tôi thấy đó là một chương trình rất nguy hiểm và có hại cho người dùng trẻ vị thành niên. Chúng ta phải làm sao để ngăn chặn những chương trình tiêu cực này? Tôi xin cảm ơn vì đã đọc những dòng tâm sự ngắn ngủi nhưng nhiều tâm sự của tôi.
Ngày nay, không khó để bắt gặp cảnh một hành khách trên phương tiện công cộng thản nhiên bật loa ngoài để "cày" TikTok với các bản nhạc EDM giật cục liên tục, hay một người khách tại quán cà phê vô tư mở video Youtube với âm lượng cực đại, hoặc một người nhà bệnh nhân bật loa ngoài nói chuyện oang oang trong hành lang bệnh viện.
Những người ấy, dù vô tình hay hữu ý, đều đang biến không gian chung thành phòng khách của riêng mình, bất chấp sự chịu đựng của những người xung quanh. Sau tiếng ồn từ karaoke và loa kéo, thì tiếng ồn phát ra từ những chiếc điện thoại cá nhân đã và đang trở thành một vấn nạn thực sự.
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ, nơi chiếc điện thoại là vật bất ly thân. Nhưng dường như, cùng với sự tiện lợi của công nghệ, khái niệm về "không gian chung’", về "việc tránh làm phiền người khác" và về "phép lịch sự" lại có vẻ đang dần trở nên mờ nhạt.
Nhiều người có thể biện minh rằng: "Tôi có quyền dùng điện thoại". Đúng, không ai có thể tước đi quyền sử dụng thiết bị của bạn. Nhưng, quyền tự do cá nhân chỉ thực sự văn minh khi nó không xâm phạm đến không gian riêng tư, sự nghỉ ngơi và nhu cầu tĩnh lặng của người khác.
Khi bạn bật loa ngoài ở nơi công cộng, bạn không chỉ đang nghe một mình, mà bạn đang ép cả những người xung quanh - những người vốn không có nhu cầu nghe thứ bạn đang nghe - phải "thưởng thức" cùng bạn. Đó là sự chịu đựng bất đắc dĩ khi không gian vốn của chung lại bị chiếm dụng bởi sự ồn ào của một số ít người.
Đã có nhiều lần tôi tự hỏi: Tại sao một số người lại khó chấp nhận việc đeo tai nghe - một thiết bị nhỏ bé nhưng chứa đựng sự tử tế tối thiểu? Phải chăng sự tiện lợi cá nhân đã lấn át đi ý thức cộng đồng?
Để thay đổi thực trạng này, tôi cho rằng cần bắt đầu từ những thay đổi nhỏ nhưng quyết liệt:
Xây dựng "văn hóa tai nghe": Đây cần trở thành một quy tắc ứng xử cơ bản, giống như việc không chen lấn hay không xả rác. Mỗi người hãy tự giác sử dụng tai nghe khi xem video, nghe nhạc hay gọi điện ở nơi công cộng. Đó là biểu hiện của cư xử văn minh.
Sự chung tay của các cơ sở dịch vụ: Các quán cà phê, đơn vị vận tải công cộng hay các đơn vị cung cấp phòng chờ nên mạnh dạn đặt những tấm biển nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng rõ ràng: "Vui lòng sử dụng tai nghe", "Vui lòng giữ yên lặng" hoặc in rõ các lời nhắc nhở này trên vé hoặc menu.
Ngoài ra, có thể in poster hoặc chiếu các đoạn clip nhắc nhở về việc không làm ồn trên các màn hình công cộng như cách các hãng hàng không nhắc nhở về quy tắc an toàn đầu các chuyến bay.
Khi người dùng mua dịch vụ, họ đã chấp nhận quy tắc này. Nhân viên phục vụ khi nhắc nhở không còn là "người đi dạy đời", mà chỉ đơn thuần là "người thực thi nội quy". Điều này có thể bảo vệ nhân viên khỏi sự phản kháng của khách hàng.
Dù sao, đừng ngại nhắc nhở khách hàng ồn ào, vì chính những người khách văn minh khác sẽ ủng hộ bạn.
- Chia vùng: Tại các không gian công cộng nhất định, hãy chia thành các khu vực khác nhau: vùng Yên tĩnh (Quiet Zone) là vùng tập trung, yêu cầu tuyệt đối tai nghe và vùng Giao lưu (Social Zone) là vùng có thể thoải mái trò chuyện.
Khi một người chọn ngồi vào khu vực Yên tĩnh, họ đã tự ký một "hợp đồng ngầm" là họ sẽ tôn trọng không gian chung. Khi đó, nếu họ bật loa ngoài hoặc gây ồn ào, những người xung quanh có quyền nhắc nhở cực kỳ hợp lý dựa trên quy định của khu vực đó, không còn là sự can thiệp cá nhân có thể dẫn tới gây gổ nữa.
- Sự dũng cảm lên tiếng: Nếu chúng ta cứ im lặng chịu đựng, hành vi này sẽ trở thành bình thường mới. Một ánh mắt ngạc nhiên hoặc một lời nhắc nhở lịch sự: "Bạn có thể vặn nhỏ âm lượng được không?", đôi khi đã đủ để người kia giật mình nhận ra hành vi của họ đang gây phiền toái.