Tình yêu với nghề điều dưỡng trong chị Giang Thanh lớn dần qua những buổi thực tập tại bệnh viện, qua những lần trực tiếp chăm sóc bệnh nhân. Chị nhận ra mình không chỉ hợp với việc chăm sóc y tế mà còn có một sợi dây liên kết tinh thần đặc biệt với trẻ con.
“Làm nghề này nhiều khi không nhớ nổi mình đã thức bao nhiêu đêm, nhưng lại nhớ rất rõ nụ cười của những em bé ngày xuất viện. Thấy bé cười là động lực giúp tôi theo nghề hơn 30 năm”, chị Thanh chia sẻ.
Trước khi đến với vai trò điều dưỡng trưởng tại Bệnh viện Phương Nam, chị Thanh đã có 15 năm làm việc tại một bệnh viện công ở khoa bệnh nặng. Đó là quãng thời gian chị chứng kiến những em bé đứng giữa ranh giới sống chết, thấu hiểu nỗi đau và cả gánh nặng tài chính đè nặng lên vai những bậc làm cha, mẹ.
Kinh nghiệm dày dặn giúp chị có một “siêu năng lực”chẩn đoán tình trạng bệnh nhi qua nét mặt người mẹ. Với chị, điều dưỡng nhi không chỉ là chăm sóc đứa trẻ, mà còn là chăm sóc tinh thần cho cả gia đình.
“Vô thăm bệnh, chỉ cần nhìn nét mặt người mẹ thôi là chị đoán được sức khỏe đứa bé. Gương mặt tươi tắn là chắc chắn đứa bé khỏe. Còn nếu mẹ đang căng thẳng, nghĩa là em bé chưa bớt bệnh đâu”, chị kể.
Theo điều dưỡng Nguyễn Thế Giang Thanh, nhiều người vẫn nghĩ công việc của điều dưỡng nhi chỉ xoay quanh chuyện tiêm thuốc, truyền dịch. Nhưng thực tế, phía sau cánh cửa phòng bệnh là một guồng công việc dày đặc và áp lực kéo dài suốt ca trực. Mỗi ngày làm việc của điều dưỡng bắt đầu từ rất sớm bằng việc kiểm tra toàn bộ máy móc, thuốc men, vật tư y tế để bảo đảm mọi thứ luôn trong trạng thái sẵn sàng cấp cứu. Từ máy thở, monitor theo dõi, xe tiêm điện cho đến các số thuốc trong tủ trực đều phải được kiểm đếm cẩn thận.
“Chỉ cần có một ca cấp cứu xảy ra là chúng tôi phải trong tư thế sẵn sàng. Không ai được phép chủ quan”, chị Thanh nói.
Chị nhớ lại có những ca sinh non chỉ 30 tuần tuổi, nặng vỏn vẹn 1,2 kg. Đó là một hành trình “giành giật sự sống” kiên trì suốt 2 tháng trời để đưa bé chạm mốc 3 kg – một kỳ tích của cả đội ngũ y bác sĩ và gia đình.
Sau phần bàn giao giữa các ca trực là hàng loạt công việc nối tiếp nhau: tiếp nhận bệnh nhi mới, chăm sóc bệnh nhi đang điều trị, chuẩn bị trước và sau mổ, thực hiện y lệnh, hỗ trợ ăn uống, vệ sinh, theo dõi dấu hiệu sinh tồn…
Nhưng điều khiến điều dưỡng nhi áp lực nhất đôi khi không nằm ở chuyên môn, mà là sự hoảng loạn của người nhà khi con bệnh. Có những em bé chưa biết hợp tác, hay những người mẹ lần đầu có con nên hoảng loạn khi thấy con sốt cao. Những lúc ấy, người điều dưỡng phải là điểm tựa bình tĩnh nhất, vừa thực hiện đúng phác đồ, vừa là người trấn an tâm lý cho phụ huynh.
Hiện tại, với vai trò quản lý hơn 170 nhân sự (bao gồm điều dưỡng, hộ sinh, thư ký khoa và hộ lý), chị Thanh là người “giữ lửa” và định hướng lộ trình phát triển cho đội ngũ đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhân lên hàng đầu.
Chị Thanh và các đồng nghiệp đang nỗ lực triển khai “văn hóa tử tế” trong chăm sóc bệnh nhân. Đây là triết lý phụng sự từ tâm, lấy người bệnh làm trung tâm, chăm sóc với sự thấu cảm, tận tâm, trách nhiệm, tôn trọng, thân thiện và tích cực, là giá trị đặc trưng, đồng bộ trên toàn hệ thống y tế Phương Châu nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, kết hợp giữa kỹ thuật y tế chuyên sâu và chăm sóc người bệnh toàn diện.
Chị trăn trở khi xã hội vẫn chưa nhìn nhận đúng về vai trò của điều dưỡng. Với chị, điều dưỡng là những người chủ động theo dõi sát nhất tình trạng của bệnh nhân, là người đầu tiên nhận biết dấu hiệu cảnh báo sớm để chủ động đề xuất những hành động can thiệp. Họ cũng là cầu nối quan trọng giữa bác sĩ với người bệnh. Việc điều dưỡng được trao quyền sử dụng liều thuốc cấp cứu đầu tiên trong thời gian chờ bác sĩ chính là cách để tận dụng “thời gian vàng”, mang lại cơ hội sống cao nhất cho bệnh nhân.
“Điều dưỡng của chúng ta. Tương lai của chúng ta. Trao quyền cho điều dưỡng để cứu sống người bệnh. Tôi rất ấn tượng với thông điệp của Hội đồng Điều dưỡng Quốc tế năm nay”, chị Thanh chia sẻ.
Sau hơn 30 năm làm nghề, trải qua biết bao đêm trực trắng đêm, những áp lực quay cuồng, chị Giang Thanh vẫn chọn ở lại với Khoa Nhi. Bởi lẽ, với chị Thanh, điều dưỡng không chỉ là một công việc kiếm sống, mà là một hành trình của sự thấu cảm, nơi mỗi nụ cười của trẻ thơ, sự an tâm của người bệnh và gia đình chính là phần thưởng lớn lao nhất mà không danh hiệu nào có thể thay thế được.
Nếu thuộc nhóm nguy cơ cao hoặc có triệu chứng nghi ngờ, nên trao đổi với bác sĩ để được đánh giá và cân nhắc tầm soát sớm hơn, thay vì chỉ “chờ đến tuổi”, theo Verywell Health (Mỹ).
Theo bác sĩ Richard Goldberg, giáo sư danh dự tại Viện Ung thư Đại học West Virginia (Mỹ), xét nghiệm di truyền là một trong những cách giúp xác định một người có mang các đột biến gien làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng hay không.
Ông cho biết nhóm có nguy cơ cao nhất là những người mắc các hội chứng ung thư di truyền, điển hình như hội chứng Lynch. Một số hội chứng khác cũng làm tăng nguy cơ hình thành nhiều polyp đại trực tràng, chẳng hạn đa polyp tuyến gia đình (FAP).
Tiền sử gia đình cũng là một yếu tố rất quan trọng. Những người có cha mẹ, anh chị em ruột từng mắc ung thư đại trực tràng có nguy cơ cao hơn mức trung bình, đặc biệt nếu người thân được chẩn đoán khi còn trẻ. Trong trường hợp này, bác sĩ Goldberg khuyến nghị nên bắt đầu tầm soát sớm hơn khoảng 10 năm so với tuổi mà người thân trẻ nhất trong gia đình được chẩn đoán mắc bệnh.
Bên cạnh đó, tình trạng viêm mạn tính ở đại tràng và trực tràng cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Những người mắc bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng, đặc biệt khi bệnh kéo dài nhiều năm hoặc kiểm soát điều trị chưa tốt, cũng thuộc nhóm cần theo dõi chặt chẽ.
Một trong những dấu hiệu đáng chú ý là sụt cân không chủ ý. Theo bác sĩ Liudmila Schafer, làm việc tại Đại học Arkansas (Mỹ), ung thư có thể kích hoạt hệ miễn dịch giải phóng các chất gây viêm vào máu, làm tăng tốc quá trình mất mỡ và khối cơ, dẫn đến sụt cân.
Ngoài ra, đi ngoài ra máu ở bất kỳ độ tuổi nào cũng là dấu hiệu cần được kiểm tra, vì khối u trong ruột có thể làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa.
Một biểu hiện khác là phân nhỏ, dẹt như bút chì, có thể xảy ra khi khối u làm hẹp lòng đại tràng, khiến phân không thể đi qua với hình dạng bình thường.
Các triệu chứng khác gồm đau bụng, buồn nôn, nôn. Theo bác sĩ Schafer, khối u có thể gây tắc nghẽn đường tiêu hóa, khiến thức ăn không thể di chuyển bình thường và bị ứ lại.
Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân ung thư đại trực tràng không có triệu chứng cho đến khi bệnh đã tiến triển. Điều này đặc biệt đúng với các khối u nằm ở đại tràng phải, nơi phân còn ở dạng lỏng nên khối u thường không gây tắc nghẽn cho đến khi phát triển lớn. Do đó, không nên hoàn toàn dựa vào “dấu hiệu bệnh” mới quan tâm tới sức khỏe đại trực tràng.
Ngày 1/5, ThS.BS.CK1 Trần Quốc Phong, Trưởng Đơn vị Tiết niệu, Bệnh viện An Bình, cho biết bệnh nhân vào viện sốt cao, đau dữ dội vùng bìu phải. Kết quả siêu âm và chụp cắt lớp vi tính ghi nhận khối u lớn chiếm hơn 70% thể tích tinh hoàn phải, buộc phải phẫu thuật cắt bỏ.
Giải phẫu bệnh xác định đây là u tế bào mầm - dạng u tinh hoàn phổ biến ở nam giới trẻ. Loại u này tiến triển nhanh, tiên lượng khá tốt nếu điều trị kịp thời.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân tiếp tục được theo dõi để đánh giá giai đoạn bệnh và xây dựng phác đồ điều trị bổ sung. Theo bác sĩ, nếu phát hiện sớm, người bệnh vẫn có thể sinh hoạt bình thường. Tinh hoàn còn lại vẫn đảm nhiệm chức năng sản xuất testosterone và tinh trùng, giúp duy trì sinh lý và khả năng sinh sản ở mức độ nhất định.
Tinh hoàn là cơ quan dễ quan sát và có thể tự kiểm tra giúp phát hiện sớm các bất thường như khối u, cục cứng, thay đổi kích thước hoặc cảm giác nặng một bên bìu. Những dấu hiệu này, dù không gây đau, vẫn cần được bác sĩ chuyên khoa đánh giá.
U tinh hoàn thường gặp ở nam giới trong độ tuổi 20-40, nhóm có xu hướng ít khám sức khỏe định kỳ và dễ bỏ qua triệu chứng ban đầu. Khi bệnh tiến triển, người bệnh có thể đau, sưng hoặc các dấu hiệu toàn thân như sốt, mệt mỏi.
Phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn bệnh lý là phương pháp điều trị tiêu chuẩn đối với trường hợp nghi ngờ ác tính nhằm loại bỏ khối u và ngăn nguy cơ lan rộng.
Bác sĩ lưu ý nam giới nên chủ động theo dõi sức khỏe, tự khám bìu định kỳ, đặc biệt sau khi tắm - lúc này bìu giãn dễ quan sát và sờ nắn. Nếu phát hiện khối u, cục cứng hoặc bất kỳ thay đổi bất thường nào, cần đến cơ sở y tế kiểm tra sớm để tránh hậu quả đáng tiếc.
Bệnh nhân L.V.A (61 tuổi, ở Lâm Đồng) cho biết, ban đầu ông nhận thấy chỉ xuất hiện một khối u nhỏ ở mí mắt phải. Theo thời gian, khối u ngày càng lớn hơn và mắt bên trái cũng bắt đầu xuất hiện tổn thương tương tự. Trong suốt khoảng 4 năm kể từ khi phát hiện bệnh, ông đi nhiều nơi để điều trị bằng các phương pháp dân gian như tiêm thuốc nam và cắt bỏ khối u.
Khi đến Bệnh viện đa khoa Xuyên Á (TP.HCM) thăm khám, thạc sĩ - bác sĩ nội trú Nguyễn Hữu Huy, Trưởng Đơn vị Hóa trị ghi nhận 2 hốc mắt của bệnh nhân sưng lớn, gần như bị khối u chiếm toàn bộ vùng mắt khiến ông không thể mở mắt. Tổn thương vùng mắt có dấu hiệu viêm, chảy dịch, rỉ máu. Ngoài ra, bệnh nhân còn xuất hiện các hạch ở 2 đầu mí mắt với kích thước khoảng 1 - 2 cm, thị lực suy giảm đáng kể (thị lực 2/10).
Sau khi nhập viện, người bệnh được tiến hành sinh thiết để xác định bản chất tổn thương. Kết quả cho thấy đây là trường hợp lympho hốc mắt, một vị trí hiếm gặp của bệnh lý lymphoma.
Bệnh nhân chỉ định điều trị hóa chất kết hợp thuốc sinh học nhắm trúng đích theo phác đồ gồm 8 chu kỳ. Dù nhập viện ở giai đoạn muộn, người bệnh vẫn ghi nhận những tín hiệu khả quan sau quá trình điều trị. Hiện tại, sau 3 đợt hóa trị kết hợp thuốc nhắm trúng đích, khối u vùng mắt đã giảm khoảng 60%. Các hạch trên đầu không còn sờ thấy, siêu âm ổ bụng ghi nhận kích thước các hạch giảm đáng kể. Đặc biệt, thị lực của bệnh nhân cải thiện rõ rệt, từ mức chỉ còn 2/10 trước điều trị nay đã lên khoảng 6/10.
Theo kế hoạch, sau chu kỳ hóa trị thứ 4, bệnh nhân sẽ được thực hiện các xét nghiệm đánh giá đáp ứng điều trị toàn diện để tiếp tục xây dựng chiến lược điều trị phù hợp.
Bác sĩ Huy cho biết, lymphoma là bệnh lý ác tính xuất phát từ hệ bạch huyết, triệu chứng thường gặp là nổi hạch ở nhiều vị trí trên cơ thể. Tuy nhiên, ở bệnh nhân này, bệnh xuất hiện ở vùng hốc mắt là một trường hợp hiếm gặp khiến dễ bị chẩn đoán nhầm với các bệnh lý về mắt thông thường.
“Lymphoma vốn là nhóm bệnh đáp ứng khá tốt với điều trị. Đặc biệt, ở những trường hợp có thụ thể CD20 dương tính, việc kết hợp hóa trị với thuốc sinh học nhắm trúng đích có thể mang lại tỷ lệ đáp ứng cao. Nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả điều trị của phác đồ này có thể đạt trên 70%", bác sĩ Huy chia sẻ thêm.