Nhờ đất đai màu mỡ, địa thế bằng phẳng và nằm bên sông lớn, Đồng Nai trở thành lựa chọn ưu tiên của những nhóm người Việt đầu tiên vào phương Nam khai hoang, lập nghiệp. Các khu vực Biên Hòa, Long Thành, Bà Rịa… thuộc lưu vực sông Đồng Nai là những nơi sớm đón bước chân những người mở cõi.
Theo Gia Định Thành Thống Chí, năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu “vào kinh lược đất Đồng Nai”, lập phủ Gia Định gồm hai huyện: Phước Long dựng dinh Trấn Biên, Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, xác lập chủ quyền và bộ máy quản lý nhà nước, đặt nền móng cho sự hình thành vùng Biên Hòa – Đồng Nai ngày nay.
Những năm đầu khai mở, nhờ vị trí thuận lợi bên sông Đồng Nai thông ra biển Cần Giờ, vùng đất Biên Hòa sớm phát triển sầm uất thành đô thị nhộn nhịp. Trên cù lao Phố (nay thuộc phường Trấn Biên), Nông Nại đại phố từng được xem là một trong những thương cảng lớn nhất Nam Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII.
Theo ông Trần Quang Toại, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Đồng Nai, truyền thống thương mại cùng giao lưu kinh tế, văn hóa hình thành rất sớm đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình đô thị hóa của địa phương ở các giai đoạn sau.
Đến năm 1808, dưới triều vua Gia Long, dinh Trấn Biên được đổi thành trấn Biên Hòa, trở thành một trong năm trấn thuộc Gia Định thành, với địa giới rộng lớn bao trùm phần lớn vùng đất thuộc Đồng Nai và TP HCM ngày nay. Trải qua nhiều biến động lịch sử và điều chỉnh địa giới, nơi đây vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc định hình không gian kinh tế – xã hội Nam Bộ.
Từ những tiền đề đó, các tuyến giao thông huyết mạch như đường thủy, quốc lộ, đường sắt dần được xây dựng qua Đồng Nai, kết nối Sài Gòn với duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
“Cù lao Phố vẫn còn nhiều dấu tích văn hóa, cho thấy Đồng Nai là cái nôi phát triển kinh tế – xã hội của Nam Bộ hơn 325 năm”, ông Trần Quang Toại nói.
Theo ông, sau khi chiếm Nam Bộ, người Pháp bắt đầu khai thác tài nguyên với hàng loạt nông trường cao su, tập trung chủ yếu ở Đồng Nai. Từ nền kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp manh mún, người dân dần làm quen với máy móc qua các nhà máy chế biến mủ cao su, gỗ, từ đó hình thành lực lượng công nhân đông đảo, thu hút lao động từ nhiều nơi.
Ông Toại cho rằng vị trí giáp Sài Gòn, giao thông thuận lợi và nguồn lao động dồi dào là những yếu tố thúc đẩy sự ra đời của nhiều nhà máy trong thế kỷ XX, tiêu biểu khu kỹ nghệ Biên Hòa, được xem là khu công nghiệp đầu tiên của Việt Nam.
Từ khi xây dựng năm 1962 đến 1975, khu kỹ nghệ Biên Hòa có 94 nhà máy, xí nghiệp, với phần lớn máy móc nhập từ Nhật, Đức, Pháp, Đài Loan… Đến năm 1990, Đồng Nai thành lập Công ty Phát triển khu công nghiệp Biên Hòa (Sonadezi Biên Hòa) để đầu tư, nâng cấp hạ tầng và thu hút vốn nước ngoài.
Từ khu công nghiệp Biên Hòa, địa phương tiếp tục mở rộng hàng loạt khu công nghiệp lớn như Biên Hòa 2, Amata, Long Bình, Long Thành, Nhơn Trạch, Chơn Thành…
Với quy mô kinh tế lớn và cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ hiện đại, Đồng Nai từng bước khẳng định vị thế là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Nam và cả nước.
Hiện tỉnh nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về phát triển khu công nghiệp với 89 khu công nghiệp được quy hoạch, tập trung tại Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành, Chơn Thành… Các khu này thu hút doanh nghiệp từ 45 quốc gia, với 2.269 dự án và tổng vốn đăng ký 44,38 tỷ USD.
Giai đoạn 2021-2025, kinh tế – xã hội Đồng Nai tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng cải thiện, tiếp tục khẳng định vai trò là trung tâm công nghiệp lớn của khu vực phía Nam.
Ông Nguyễn Văn Út, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, cho biết địa phương đang đứng trước thời cơ lịch sử để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm công nghiệp, logistics và đô thị hiện đại hàng đầu cả nước.
Theo ông, Đồng Nai có nền tảng công nghiệp vững chắc, vị trí chiến lược tại Đông Nam Bộ và hệ thống hạ tầng đang được đầu tư đồng bộ, nhất là các dự án động lực quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, tỉnh không thể đi theo lối mòn cũ mà phải đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, cách làm và phương thức quản trị.
Lãnh đạo tỉnh cho biết Đồng Nai sẽ tập trung xây dựng mô hình phát triển mới, chuyển từ “tỉnh công nghiệp” sang “thành phố công nghiệp – đô thị – dịch vụ hiện đại”, phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.
Phước Tuấn
Bài 3: Sân bay Long Thành sẽ ‘nâng hạng’ Đồng Nai ra sao
Sáng 30-4, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Huế cho biết cầu vượt biển Thuận An đã chính thức thông xe.
Theo đó cây cầu đã cơ bản hoàn thành các hạng mục chính như thảm bê tông nhựa mặt cầu, hệ thống điện chiếu sáng, lan can, biển báo và sơn kẻ phân làn giao thông để đưa vào khai thác bước đầu.
Một số hạng mục phụ trợ như vỉa hè và hệ thống thoát nước đoạn cuối tuyến sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới. Dự kiến toàn tuyến sẽ hoàn thành đồng bộ vào ngày 30-6.
Dự án tuyến đường bộ ven biển qua TP Huế và cầu vượt cửa biển Thuận An được khởi công từ ngày 24-3-2022, theo kế hoạch ban đầu sẽ hoàn thành vào tháng 3-2025.
Tuy nhiên do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, tiến độ dự án đã bị kéo dài đến nay.
Giai đoạn 1 của dự án có tổng mức đầu tư khoảng 2.400 tỉ đồng, trong đó chi phí xây lắp cầu hơn 2.088 tỉ đồng. Đến thời điểm này cầu Thuận An là cây cầu nối cửa biển dài nhất miền Trung với chiều dài 2,36km, rộng 20m, có bốn làn xe, nhịp cầu chính rộng 23,5m.
Cầu Thuận An là cầu được xây dựng vĩnh cửu bằng bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực, sử dụng kết cấu dầm, cáp hỗn hợp cho các nhịp chính với nhịp dài nhất hơn 200m. Để thi công cầu, nhà thầu đã khoan nhiều cọc nhồi rồi thi công trụ cầu giữa cửa biển. Theo thiết kế, cầu có thể thông thuyền có trọng tải hơn 5.000 tấn.
Khi hoàn thành, tuyến đường và cầu vượt được kỳ vọng sẽ góp phần kết nối hạ tầng ven biển, thúc đẩy phát triển kinh tế - du lịch khu vực cửa biển Thuận An và các vùng lân cận.
Chiều 5.5, Công an Hà Nội cho biết, cơ quan này đang điều tra nguyên nhân vụ tai nạn liên hoàn giữa 10 ô tô các loại trên đường Vành đai 3 trên cao, đoạn qua địa phận P.Phú Thượng (Hà Nội).
Vụ tai nạn xảy ra vào khoảng 9 giờ 45 ngày 5.5 tại tuyến đường Vành đai 3 trên cao hướng từ nội thành Hà Nội đi sân bay Nội Bài.
Các phương tiện liên quan gồm xe ô tô mang biển số 30B-912.xx do anh N.V.M (31 tuổi, quê Thanh Hóa) điều khiển; xe ô tô tải thùng kín mang biển số 29K-125.xx do anh N.V.T (31 tuổi, trú Hà Nội) điều khiển; xe ô tô tải thùng kín biển số 88C-078.xx do ông N.V.A (41 tuổi, trú Hà Nội) điều khiển; xe ô tô Honda City biển số 88A-531.xx do anh N.V.S (33 tuổi, trú tại Vĩnh Phúc) điều khiển, trên xe có 2 người đi cùng; cùng các xe ô tô mang biển số 29E-491.xx, 29KT-001.xx, 29D-063.xx, 29H-286.xx, 29H-868.xx và xe đầu kéo biển số 98E-007.xx kéo theo rơ moóc biển số 98R-029.xx.
Vụ tai nạn khiến 3 người trên xe Honda City bị thương, được đưa đến bệnh viện để kiểm tra. Các phương tiện liên quan bị hư hỏng.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Đội CSGT đường bộ số 6 (thuộc Phòng CSGT, Công an Hà Nội) đã có mặt tại hiện trường, phối hợp các đơn vị chức năng tổ chức phân luồng, điều tiết giao thông, giải quyết vụ việc.
Đến thời điểm hiện tại, giao thông trên và dưới tuyến Vành đai 3 trên cao đã trở lại bình thường.
Theo khoản 1 điều 26 Nghị định 90/2026 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 15.5), quy định phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Đáng chú ý, khoản 2 điều 26 của nghị định nói trên quy định phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình. Trừ trường hợp người chứa chấp là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người vi phạm thì không bị xử lý.
Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đối với hành vi sử dụng.
Vấn đề đặt ra là, như thế nào thì bị xem là "chứa chấp" hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng?
Trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên, luật sư Đặng Thị Thúy Huyền (Công ty luật TNHH HPL và cộng sự) cho biết hiện chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm "chứa chấp" trong trường hợp này.
Tuy nhiên, có thể hiểu đây là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu hoặc quản lý của mình, biết rõ người khác đang sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nhưng vẫn cho phép họ sử dụng tại địa điểm đó.
Trong đó, "địa điểm thuộc quyền chiếm hữu" được hiểu là nơi người đó đang trực tiếp sử dụng, nắm giữ và có quyền quyết định các hoạt động bên trong. Còn "địa điểm thuộc quyền quản lý" là nơi người đó được giao quyền điều hành, giám sát và kiểm soát hành vi diễn ra.
"Điểm cốt lõi để xác định hành vi chứa chấp nằm ở hai yếu tố là người quản lý phải biết hành vi vi phạm và cho phép hoặc để mặc hành vi đó diễn ra trong phạm vi mình có thể kiểm soát", luật sư Thúy Huyền phân tích.
Không chỉ dừng lại ở việc cho thuê hoặc cho mượn địa điểm, trong thực tế, trách nhiệm còn có thể được xem xét trong trường hợp người quản lý bỏ mặc để người sử dụng, hoặc để nhiều người cùng sử dụng thì vẫn có thể bị xem là hành vi chứa chấp.
Tuy nhiên, luật sư Thúy Huyền cho rằng, Nghị định 90/2026 hiện chưa đưa ra tiêu chí cụ thể như số lần vi phạm hay số lượng người vi phạm để mặc nhiên xác định là "chứa chấp". Việc đánh giá sẽ phụ thuộc vào cơ quan có thẩm quyền, dựa trên yếu tố lỗi và khả năng kiểm soát thực tế của chủ thể quản lý.
Theo luật sư Thúy Huyền, không phải mọi trường hợp sử dụng thuốc lá điện tử diễn ra trong phạm vi quản lý đều bị xem là chứa chấp.
Ngoài trường hợp loại trừ trách nhiệm đã được quy định tại khoản 2 điều 26 đối với quan hệ gia đình (ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng), pháp luật còn đặt ra nguyên tắc xử phạt hành chính phải gắn với yếu tố lỗi.
"Những trường hợp người vi phạm sử dụng thuốc lá điện tử một cách lén lút, kín đáo, không có biểu hiện rõ ràng và không bị phát hiện, dù chủ thể quản lý đã có quy định cấm, thì không thể xem là hành vi chứa chấp", luật sư Thúy Huyền nhấn mạnh.
Tương tự, tại các địa điểm như quán ăn, quán cà phê, bệnh viện… nếu người vi phạm cố tình sử dụng thuốc lá điện tử một cách lén lút, né tránh sự kiểm tra, trong khi đơn vị quản lý đã có nội quy cấm rõ ràng, có biển cảnh báo và có biện pháp nhắc nhở khi phát hiện, thì không có cơ sở để xác định hành vi dung túng.
Ngược lại, nếu tình trạng sử dụng thuốc lá điện tử diễn ra một cách phổ biến, kéo dài trong phạm vi quản lý, và người quản lý biết nhưng không có bất kỳ biện pháp kiểm soát, nhắc nhở hay xử lý nào, thì có thể bị xem xét trách nhiệm dưới góc độ buông lỏng quản lý.
Ranh giới pháp lý trong trường hợp này được xác định giữa "không biết trong điều kiện khách quan" và "biết nhưng làm ngơ trước hành vi vi phạm".
Theo luật sư Đặng Thị Thúy Huyền, khi phát hiện hành vi sử dụng hoặc chứa chấp việc sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, người dân có thể phản ánh đến công an hoặc UBND cấp xã, phường. Đây là những lực lượng có thẩm quyền kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính tại cơ sở.
Đối với các hành vi có tính chất phức tạp hơn, như chứa chấp có tổ chức hoặc liên quan đến hoạt động kinh doanh, buôn bán, người dân cũng có thể phản ánh đến lực lượng quản lý thị trường hoặc thanh tra chuyên ngành y tế.
Căn cứ điều 112 Nghị định 90/2026, thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi này thuộc về Chủ tịch UBND các cấp; thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành y tế; người có thẩm quyền của các lực lượng công an, quản lý thị trường, hải quan, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển. Ngoài ra còn có các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao và du lịch, giáo dục, xây dựng, nông nghiệp và môi trường.