Trong vài tuần sau khi xung đột nổ ra hôm 28/2, đồng rial của Iran duy trì ở mức ổn định, một phần do hoạt động thương mại và nhập khẩu giảm đáng kể giữa chiến sự. Tuy nhiên, đồng rial bắt đầu trượt giá hồi đầu tuần và xuống thấp kỷ lục vào ngày 29/4, ở mức 1,8 triệu rial đổi 1 USD.
Các chuyên gia cảnh báo rằng sự sụt giảm này có thể sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng lạm phát ở Iran, quốc gia phải nhập khẩu nhiều mặt hàng, từ thực phẩm, thuốc men đến hàng điện tử và nguyên liệu thô, những thứ đều chịu ảnh hưởng từ tỷ giá USD.
Trước đó, vào thời điểm cuộc biểu tình xảy ra ở Iran hồi đầu năm, tỷ giá đồng rial từ 1,4 triệu rial đổi 1 USD đã giảm xuống còn 1,6 triệu rial đổi 1 USD trong chưa đầy một tuần.
Trước khi đồng rial của Iran chạm mức thấp kỷ lục, nhiều mặt hàng thiết yếu đã tăng giá. Theo AP, trong hai tuần qua, người dân Iran phải trả mức giá cao hơn đối với nhiều nhu yếu phẩm như sữa, dầu ăn, bánh mì.
Đồng tiền Iran mất giá trong lúc cuộc xung đột giữa nước này với Mỹ – Israel chưa có dấu hiệu chấm dứt. Mỹ và Iran từng đàm phán tìm giải pháp cho xung đột tại Islamabad, Pakistan, hôm 11/4, nhưng không đạt được đồng thuận về các vấn đề then chốt, trong đó có quyền kiểm soát eo biển Hormuz và Iran có được tiếp tục làm giàu uranium hay không.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ra lệnh phong tỏa các cảng biển Iran từ ngày 13/4 để gây áp lực buộc nước này chấp nhận các điều khoản của thỏa thuận. Lệnh phong tỏa của Mỹ khiến Iran không thể xuất khẩu dầu mỏ để thu ngoại tệ, cũng như gặp nhiều khó khăn trong nhập khẩu các mặt hàng bằng đường biển.
Dù vậy, Iran tuyên bố sẽ không nhượng bộ trước sức ép từ Mỹ và đáp trả bằng cách siết kiểm soát eo biển Hormuz. Ông Trump sau đó gia hạn lệnh ngừng bắn với Iran cho tới khi Tehran đưa ra đề xuất cụ thể với Washington.
Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif ngày 29/4 cho biết chính phủ của ông đang tiếp tục nỗ lực trung gian và thúc đẩy đối thoại nhằm giảm bớt căng thẳng giữa Mỹ và Iran.
Tin Gốc: Vnexpress

Kể từ khi Alberta gia nhập liên bang Canada năm 1905, tâm lý bất mãn đối với các nhà lãnh đạo chính trị ở miền đông, cụ thể là ở Ontario và Quebec, đã nhiều lần thúc đẩy các phong trào ly khai bên lề trong suốt thế kỷ qua.
Đến thập niên 1980, sự phẫn nộ đối với chính quyền liên bang tại Ottawa tăng mạnh sau khi thủ tướng lúc đó là ông Pierre Trudeau triển khai kế hoạch mở rộng quyền kiểm soát đối với ngành dầu mỏ và Alberta đặc biệt bị ảnh hưởng. Và năm 2015, con trai ông Pierre Trudeau là ông Justin Trudeau đắc cử thủ tướng với chương trình nghị sự chú trọng ứng phó biến đổi khí hậu, và một lần nữa vấp phải phản đối từ nhiều người dân ở Alberta.
Trước việc nhóm ly khai tiến gần hơn bao giờ hết đến ngưỡng kích hoạt trưng cầu dân ý, cựu Phó thủ hiến Alberta Thomas Lukaszuk, người dẫn đầu phong trào "Alberta mãi là Canada" gọi những gì diễn ra là một dạng "phản quốc".
Ông Lukaszuk cho rằng phong trào ly khai gần đây được tiếp sức bởi Thủ hiến theo đường lối cánh hữu Danielle Smith, người muốn xích gần quan hệ với đảng Cộng hòa của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Theo ông, sự ủng hộ ngầm từ Washington, bao gồm một số cuộc gặp giữa phe ly khai với Bộ Ngoại giao Mỹ, cũng góp phần đẩy mạnh phong trào này trong vài tháng qua.
Hồi tháng 1, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent cũng có phát ngôn "gây bão" khi nói rằng Alberta và Mỹ sẽ là "những đối tác tự nhiên".
Về khả năng Alberta ly khai khỏi Canada có thể được đưa ra bỏ phiếu trên toàn tỉnh bang sớm nhất là vào tháng 10 năm nay, nhưng cần tiến hành các bước xác thực về chữ ký kiến nghị.
Tin Gốc: Thanh Niên

Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) rời khỏi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) từ hôm nay, theo thông báo được đưa ra một cách bất ngờ ngày 28/4. Giới chức UAE cho biết quyết định này "phản ánh tầm nhìn chiến lược và kinh tế dài hạn, cùng sự thay đổi trong định hướng phát triển năng lượng của đất nước".
"Giờ là lúc chúng tôi tập trung nguồn lực vào những ưu tiên liên quan lợi ích quốc gia", hãng thông tấn WAM đưa tin.
Động thái cho thấy việc UAE rời OPEC không đơn thuần là vì kinh tế, mà nước này dường như đang chủ động tách khỏi những ràng buộc cũ để xây dựng vị thế riêng ở Trung Đông, theo Kristin Diwan, chuyên gia tại Viện Các nước Arab vùng Vịnh, trụ sở tại Mỹ.
"Đó là tuyên bố độc lập của UAE", Diwan nhận định. "Abu Dhabi không còn cảm thấy cần gắn bó với những thể chế không phù hợp với lợi ích của họ".
OPEC được thành lập năm 1960 bởi 5 quốc gia gồm Iran, Iraq, Kuwait, Arab Saudi và Venezuela với mục tiêu bảo vệ lợi ích của các thành viên thông qua phối hợp điều tiết sản lượng dầu mỏ. OPEC hiện có 12 thành viên, trong đó UAE gia nhập tổ chức năm 1967.
UAE đã ám chỉ khả năng rời OPEC suốt nhiều năm, từ khi xuất hiện bất đồng với Arab Saudi về cách điều hành chính sách dầu mỏ trước thềm hội nghị thượng đỉnh OPEC+ hồi tháng 11/2020. Rạn nứt bộc lộ rõ ràng hơn trong cuộc họp tiếp theo vào tháng 7/2021.
UAE muốn nâng sản lượng dầu, vốn đã bị OPEC cắt giảm mạnh trong giai đoạn đại dịch Covid-19, trong khi Arab Saudi chủ trương duy trì chính sách này để giữ giá dầu cao. Khác biệt này xuất phát từ việc Arab Saudi cần giá dầu cao để đảm bảo nguồn thu, tài trợ cho các dự án hạ tầng tốn kém. UAE lại có nền kinh tế đa dạng hơn, ít phụ thuộc trực tiếp vào dầu mỏ.
Arne Lohmann Rasmussen, trưởng bộ phận nghiên cứu tại tổ chức tư vấn rủi ro GRM, trụ sở Đan Mạch, cho biết lập luận của UAE khá rõ ràng. Lượng dầu nằm dưới lòng đất có thể không còn nguyên giá trị trong 5-10 năm tới, khi thế giới đẩy nhanh chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch. Vì thế, khai thác dầu sớm, bán nhiều và giành thị phần khi thị trường còn hấp thụ được là lựa chọn hợp lý hơn.
Abu Dhabi những năm gần đây đã đầu tư để tăng công suất khai thác, với mục tiêu nâng sản lượng từ khoảng 3,4 triệu thùng một ngày lên 5 triệu thùng một ngày vào năm 2027, thậm chí có thể cao hơn về sau. Do đó, một khi rời OPEC, UAE sẽ không còn bị ràng buộc bởi hạn ngạch, có nhiều dư địa hơn để tăng sản lượng nếu muốn, khi chiến sự Iran kết thúc và eo biển Hormuz mở cửa trở lại.
Theo bà Diwan, trong nhiều năm, UAE ở lại OPEC phần nhiều là "vì nể nang vai trò dẫn dắt của Arab Saudi". Nhưng thông báo hôm 28/4 cho thấy "họ sẽ không còn mặc nhiên đi theo sự dẫn dắt của Riyadh nữa".
UAE và Arab Saudi từng là cặp đồng minh quyền lực nhất thế giới Arab, phối hợp chặt chẽ trong nhiều vấn đề, từ cuộc xung đột ở Yemen cho đến kiềm chế ảnh hưởng của Iran. Tuy nhiên, khác biệt chiến lược giữa hai bên ngày càng lộ rõ. Arab Saudi muốn trở thành trung tâm chính trị và kinh tế của khu vực Arab, một cực quyền lực lớn với ảnh hưởng trải rộng từ năng lượng, tài chính tới ngoại giao.
Trong khi đó, UAE lại theo đuổi một mô hình linh hoạt, thực dụng và mang tính toàn cầu hóa hơn. Ở nhiều điểm, tầm nhìn của Abu Dhabi không còn trùng khớp với Riyadh. UAE dần có những tính toán riêng ở Yemen, nội chiến tại Sudan, cũng như cách định hình cấu trúc an ninh vùng Vịnh.
"Những gì chúng ta đang chứng kiến là một UAE hoàn toàn mới", Abdulkhaleq Abdulla, nhà khoa học chính trị có tiếng tại UAE, nói. "Trong tương lai, Abu Dhabi sẽ thể hiện vai trò của mình mạnh mẽ hơn, cả ở khu vực lẫn trên thế giới".
Cuộc xung đột hiện tại giữa Mỹ, Israel với Iran càng thúc đẩy sự tách rời đó. Các đợt tập kích tên lửa và UAV đáp trả từ Iran nhằm vào hạ tầng vùng Vịnh cho thấy sự đoàn kết của khối Arab không mạnh như kỳ vọng.
Khi các nước vùng Vịnh còn cân nhắc cách đối phó Iran, Abu Dhabi đã cắt đứt nhiều mối liên hệ văn hóa và kinh tế lâu năm với Tehran. Arab Saudi lên án Iran nhưng vẫn ủng hộ nỗ lực ngoại giao do Pakistan dẫn dắt. UAE chọn giữ khoảng cách với sáng kiến này, cho thấy Abu Dhabi không hoàn toàn đồng tình với hướng tiếp cận mềm mỏng mà một số đồng minh trong khu vực đang theo đuổi.
"Tất cả các nước vùng Vịnh đều có chính sách riêng nhằm kiềm chế Iran, nhưng mọi nỗ lực đó đều thất bại", Anwar Gargash, một quan chức cấp cao của UAE, phát biểu tại một hội nghị ở Dubai hôm 27/4. "Chúng ta đã thất bại hoàn toàn trong các chính sách của mình".
Ông cho rằng sự đoàn kết của các nước vùng Vịnh "không tương xứng với mức độ nghiêm trọng của thách thức" mà cuộc chiến đặt ra. Trong khi đó, chiếc ô an ninh của Mỹ vẫn tồn tại, nhưng không còn mang cảm giác chắc chắn tuyệt đối như trước.
"Các quốc gia trong khu vực đều phải thích nghi với một thực tế mới là Mỹ không còn là chỗ dựa như trước", bà Diwan nhận định. "Điều đó buộc mỗi nước phải tự tìm con đường riêng".
Điều đó lý giải vì sao UAE ưu tiên các quan hệ song phương có giá trị thực tế, từ Mỹ đến Israel, đồng thời lạnh nhạt với những khuôn khổ khu vực mà họ cho là kém hiệu quả.
UAE tháng 9/2020 ký Hiệp định Abraham, do Tổng thống Mỹ Donald Trump làm trung gian, trở thành quốc gia Arab đầu tiên tại Trung Đông bình thường hóa quan hệ với Israel trong hơn 25 năm. Abu Dhabi coi quan hệ với Tel Aviv là đòn bẩy để tăng ảnh hưởng tại khu vực và là kênh đặc biệt để tiếp cận Washington.
"Không loại trừ khả năng việc UAE rời OPEC là một thỏa thuận ngầm nào đó giữa nước này với Mỹ và Israel, trong đó Abu Dhabi giáng đòn vào OPEC để được Washington và Tel Aviv bảo vệ", Ellen Wald, chuyên gia tại Hội đồng Đại Tây Dương, nói với Middle East Eye. "Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu có một thỏa thuận quốc phòng nào đó giữa các bên được công bố trong tương lai gần".
Giới chức cùng các nhà bình luận thân chính phủ UAE gần đây liên tục đề cập những bước đi tiếp theo mà Abu Dhabi có thể thực hiện nếu theo đuổi hướng đi độc lập hơn. Một số ý kiến cho rằng UAE cũng đang cân nhắc rút khỏi Liên đoàn Arab, Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh hoặc Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, những khuôn khổ đa phương tại khu vực.
Ông Abdulla không loại trừ khả năng UAE sớm có động thái với Liên đoàn Arab, có thể là đóng băng tư cách thành viên, ngừng tài trợ cho tổ chức này, hoặc thậm chí rút lui hoàn toàn.
"UAE cuối cùng đã hành động và nhiều khả năng là vì chiến sự Iran. Đây là thời điểm mở ra cơ hội cho những quyết định mang tính bước ngoặt", Bernard Haykel, giáo sư về vùng Cận Đông tại Đại học Princeton, Mỹ, nhận định.
Tareq al-Otaiba, nhà nghiên cứu người UAE tại Trung tâm Belfer, Đại học Harvard, đã dự đoán được việc nước này rút khỏi OPEC trong một bài luận công bố tuần trước.
"Cuộc xung đột đã cho thấy ai mới là người bạn thực sự", ông al-Otaiba viết. "Điều quan trọng hơn là thế giới Arab sẽ thay đổi ra sao khi UAE quyết định tách khỏi lối đi chung và theo đuổi con đường riêng của mình".
Tin Gốc: Vnexpress

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang có chuyến thăm cấp Nhà nước đến Ấn Độ và Sri Lanka kéo dài từ ngày 5-8.5.
Chuyến công du này nối tiếp các chuyến thăm và làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đến Lào, Campuchia, Mỹ, Trung Quốc… từ đầu năm đến nay. Ở chiều ngược lại, trong cùng thời gian, Chủ tịch Hội đồng châu Âu Antonio Costa, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith, Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae… đến thăm Việt Nam.
Nhìn lại loạt hoạt động đối ngoại trên, có thể thấy chỉ trong khoảng 4 tháng, Việt Nam đã có những cuộc viếng thăm cấp cao, làm việc với 5 đối tác chiến lược toàn diện là: Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Kèm theo đó là các cuộc thăm viếng chính thức với 2 đối tác đặc biệt gồm Lào và Campuchia. Danh sách đối tác vừa nêu cũng bao gồm 5 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam: Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản và EU.
Tính đến nay, Việt Nam đã có 15 đối tác chiến lược toàn diện gồm: Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Anh, Liên minh châu Âu (EU). Như vậy, Việt Nam đã có quan hệ cấp đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 thành viên Hội đồng Bảo an LHQ.
Chính vì thế, các sự kiện trên là minh chứng rõ ràng cho việc Việt Nam tăng cường củng cố quan hệ với các đối tác quan trọng, để tiếp tục phát huy các thành tựu đối ngoại ấn tượng đạt được thời gian qua.
Điều đó đã hiện thực hóa chiến lược của Đảng và Nhà nước trong việc tăng cường tự chủ chiến lược. Liên quan vấn đề này, ngày 18.2 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài viết "Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới" nêu rõ sách lược đối ngoại của Việt Nam.
Trong bài viết, dẫn lại lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định mạnh mẽ vai trò và trách nhiệm của đối ngoại đối với quốc gia, dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh: "Đứng trước những thời khắc lịch sử, đất nước cần có những quyết sách lịch sử. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai "đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới": Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm. Ở tầm cao mới, đối ngoại sẽ được triển khai một cách tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường hơn; đóng góp hiệu quả hơn vào những mục tiêu chiến lược của đất nước; thể hiện trách nhiệm lớn hơn đối với hòa bình và phát triển của thế giới". Theo đó, Việt Nam xây dựng nền đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới về mục tiêu, về lĩnh vực và về chủ thể.
Sách lược trên được kỳ vọng sẽ nâng tầm đối ngoại Việt Nam - vốn đã được cộng đồng thế giới đánh giá cao về những thành tựu đạt được trong thời gian qua. Điều này đã được nhiều nhà quan sát quốc tế nhấn mạnh trong các cuộc trả lời phỏng vấn Thanh Niên.
Điển hình, nhìn lại năm 2025, ông Gregory Poling (Giám đốc Chương trình Đông Nam Á, Giám đốc Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á - Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), Mỹ) đã nhận định: "Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công đáng ngạc nhiên nhất năm 2025. Từng được dự đoán sẽ nằm trong số những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi cuộc chiến thương mại do Tổng thống Mỹ Donald Trump phát động, thế nhưng Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng GDP 8% trong năm 2025, vượt xa mọi kỳ vọng". Kết quả này được đánh giá là đến từ sự phối hợp hiệu quả giữa chính sách đối ngoại và chính sách kinh tế.
Việt Nam cũng được đánh giá đang thành công trong việc thực hiện chính sách đối ngoại linh hoạt, hiệu quả giữa những thách thức không nhỏ của thế giới và khu vực, đặc biệt là thách thức từ sự cạnh tranh giữa các nước lớn. Nhận xét về điều này, TS Jonathan Berkshire Miller (Đồng sáng lập kiêm điều hành mảng tư vấn địa chính trị, Tập đoàn Pendulum, Canada) cho rằng: "Việt Nam nổi bật như một cường quốc tầm trung thực tế và linh hoạt, cân bằng giữa cạnh tranh với các cường quốc lớn trong khi tăng cường hội nhập kinh tế và tự chủ chiến lược". "Nhìn chung, nền quản trị ổn định, khả năng phục hồi kinh tế và chính sách đối ngoại tinh tế đã giúp Việt Nam có vị thế tốt để vượt qua những biến động toàn cầu liên tục", TS Miller nhận xét thêm.
Tương tự, GS Kei Koga (Chương trình các vấn đề toàn cầu và chính sách công, Trường Khoa học xã hội, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore) nhận định: "Việt Nam theo đuổi chính sách ngoại giao thực tế, tránh liên kết chiến lược công khai trong khi làm sâu sắc thêm quan hệ kinh tế với nhiều đối tác khác nhau". Qua đó, ông Koga cũng cho rằng: "Việt Nam có thể tiếp tục theo đuổi chiến lược đa dạng hóa, tăng cường liên kết kinh tế và ngoại giao với các quốc gia trong khu vực, các đối tác ngoài khu vực để nâng cao khả năng và không gian hành động chiến lược".
Chính vì thế, khi đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới, Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra nhiều đột phá phát triển mới trong vị thế của một cường quốc tầm trung như lời nhận xét của GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế - Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật).
Tin Gốc: Thanh Niên

