Báo cáo tại phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 6 và Hội nghị Chính phủ với các địa phương ngày 4/7, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, kinh tế – xã hội quý II và 6 tháng đạt nhiều kết quả quan trọng, tiếp tục là điểm sáng của khu vực và thế giới.
“Các tổ chức quốc tế cũng dự báo tích cực về tăng trưởng, lạm phát nước ta”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nói và cho biết, nền kinh tế đã tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trên hầu hết các lĩnh vực; tập trung thúc đẩy các động lực tăng trưởng truyền thống đồng thời phát triển các động lực tăng trưởng mới.
Rất nhiều chỉ số đã được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn viện dẫn. Trong đó, tăng trưởng GDP là một trong những chỉ số quan trọng nhất.
Cụ thể, GDP quý II ước tăng 8,39% so với cùng kỳ; 6 tháng ước đạt 8,18%. Đây là mức tăng trưởng cao nhất từ năm 2011 đến nay. Trong đó, khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ đóng góp trên 88% vào tăng trưởng. Trong khu vực này, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng 2 con số.
Có 9 địa phương ghi nhận mức tăng trưởng hai con số; Hà Nội và TPHCM cải thiện tích cực hơn so với thời điểm tháng 5. Số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt 169.800, tăng 11% so với cùng kỳ và cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Một điểm sáng được Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhắc đến, đó là vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt trên 34,6 tỷ USD, tăng 61%; vốn đầu tư nước ngoài thực hiện đạt gần 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%.
Cùng với đó, xuất nhập khẩu ước đạt 549,6 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ; trong đó xuất khẩu đạt 266,5 tỷ USD, tăng 21%, tăng cao nhất từ năm 2022 đến nay, nhập khẩu đạt 283,1 tỷ USD, tăng 33,4%. Nhập khẩu tăng, theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, chủ yếu là do nhập nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và do giá dầu và giá linh kiện điện tử thế giới tăng.
Trong tình hình tích cực chung như vậy, điều quan trọng, theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, là kinh tế vĩ mô vẫn cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, an ninh năng lượng được đảm bảo. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước; bình quân 6 tháng tăng 4,38%, vẫn trong mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm.
Nguồn cung xăng dầu được bảo đảm. Thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt gần 1,57 triệu tỷ đồng, bằng 62% dự toán và tăng 17% so với cùng kỳ, trong khi đã miễn, giảm thuế, phí ước khoảng 89.000 tỷ đồng.
Giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục được cải thiện. Riêng tháng 6 đạt gần 137.600 tỷ đồng; lũy kế 6 tháng đạt gần 357.000 tỷ đồng, tương đương 35,5% kế hoạch.
Nhiều thách thức cho tăng trưởng 2 con số
Mặc dù rất nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô cho thấy nền kinh tế Việt Nam là “điểm sáng”, nhưng Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn vẫn cho rằng, vẫn còn nhiều thách thức để tăng trưởng 2 con số.
Theo Bộ trưởng, tăng trưởng GDP 6 tháng mặc dù cao nhất từ trước tới nay, nhưng vẫn thấp hơn 1,52% so với mục tiêu, tạo áp lực lớn lên những tháng cuối năm. Lạm phát 6 tháng cũng đã tiệm cận mục tiêu cả năm.
Bộ Tài chính cho rằng mục tiêu tăng trưởng trong những tháng còn lại của năm rất cao nhưng vẫn có nhiều yếu tố thuận lợi, như giá dầu thế giới giảm, Trung ương và Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 18 cùng 10 nghị quyết đột phá; nhiều điểm nghẽn về thể chế, thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh đã cơ bản được tháo gỡ.
Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 168 và 169 với các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng hai con số trong năm 2026. Bộ Tài chính đề nghị các bộ, ngành, địa phương chủ động, quyết liệt hơn trong tổ chức thực hiện, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu, nâng cao hiệu quả thực thi công vụ.
Về chính sách tài khóa, Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tham mưu điều hành theo hướng mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; phát triển sâu rộng thị trường chứng khoán.
Các bộ, địa phương tập trung giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công, bảo đảm hiệu quả thực chất; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, dành nguồn cho đầu tư và an sinh xã hội.
Bộ Xây dựng được yêu cầu phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng cơ chế điều phối liên vùng trong quản lý nguồn cung vật liệu xây dựng, bảo đảm phục vụ các dự án đầu tư công, nhất là công trình trọng điểm quốc gia.
Về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, tỷ giá, bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế; kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, ưu tiên vốn cho sản xuất – kinh doanh, đồng thời đẩy mạnh xử lý nợ xấu và tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng.
Về quản lý giá cả, thị trường và bảo đảm an ninh năng lượng, các bộ, cơ quan liên quan tăng cường quản lý giá cả, thị trường; chủ động các giải pháp điều hành giá điện, xăng dầu, y tế, giáo dục… để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu; xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, thao túng, trục lợi và tăng giá bất hợp lý trong khi giá xăng, dầu trong nước đã giảm.
Trong sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương phối hợp với các hiệp hội, doanh nghiệp lớn, các địa phương kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, dự án, nhất là các dự án đầu tư, vận hành, mở rộng…
Bộ Công Thương vừa có Quyết định 963, thay đổi khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia.
Theo đó, khung cao điểm áp dụng vào các ngày trong tuần (trừ Chủ nhật), từ 17h30 đến 22h30, tương ứng 5 giờ mỗi ngày. Giờ bình thường gồm hai khung từ 6h đến 17h30 và từ 22h30 đến 24h, tổng cộng là 13 giờ mỗi ngày. Giờ thấp điểm kéo dài từ 0h đến 6h hàng ngày.
Riêng Chủ nhật không có giờ cao điểm, giờ bình thường liên tục từ 6h đến 24h.
Như vậy, các khung giờ này có sự thay đổi so với hiện hành. Hiện, giờ cao điểm chia 2 khung, kéo dài cả ban ngày và tối (9h30-11h30 và 17h-20h). Trong khi đó, giờ thấp điểm từ 22h đến 4h sáng hôm sau, còn lại là khung bình thường.
Theo quyết định, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tổ chức triển khai áp dụng các khung giờ trên toàn hệ thống. Trước 15/12 hàng năm, hoặc khi có biến động lớn về nhu cầu sử dụng điện, EVN phải báo cáo Bộ Công Thương để đề xuất điều chỉnh phù hợp.
Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) phối hợp cung cấp dữ liệu về công suất, sản lượng và vận hành hệ thống để làm cơ sở tính toán, xác định các khung giờ. Đơn vị này cũng có trách nhiệm báo cáo, đề xuất điều chỉnh khi cần thiết.
Các khung giờ sử dụng điện là căn cứ quan trọng để tính giá điện theo thời gian. Thông thường, giờ cao điểm có giá cao nhất, thấp điểm có giá thấp nhất, nhằm khuyến khích khách hàng dịch chuyển nhu cầu tiêu thụ điện.
Quy định này áp dụng chủ yếu với nhóm khách hàng sản xuất, kinh doanh theo biểu giá điện theo thời gian sử dụng. Hiện có khoảng 1,25 triệu công tơ điện trên toàn hệ thống đang áp dụng cơ chế này, liên quan trực tiếp đến đo đếm, lập hóa đơn và thanh toán điện năng.
Trước đó, Bộ Công Thương cho biết việc điều chỉnh lại khung giờ cần thiết để phản ánh đúng diễn biến cung - cầu điện trong bối cảnh mới, đặc biệt khi tỷ trọng năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió ngày càng lớn.
Thực tế, khung giờ cao điểm, thấp điểm, giờ bình thường hiện hành đã áp dụng 12 năm. Từ 2019, cấu trúc cung - cầu điện đã thay đổi đáng kể cùng với sự gia tăng nhanh của điện mặt trời, năng lượng tái tạo. Trong đó, tỷ trọng nhu cầu sử dụng điện cho công nghiệp tăng từ khoảng 30% lên hơn 50%, trong khi dân dụng - sinh hoạt giảm từ khoảng 50% xuống gần 33%. Những thay đổi này làm biến động rõ rệt nhu cầu sử dụng điện theo từng thời điểm trong ngày, khiến khung giờ hiện hành dần không còn phù hợp.
Cơ quan này cũng cho rằng, xác định hợp lý các khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường sẽ giúp nâng hiệu quả sử dụng hệ thống điện. Thông qua cơ chế giá điện theo thời gian, khách hàng có động lực điều chỉnh hành vi tiêu thụ, giảm dùng điện vào giờ cao điểm và chuyển sang các khung thấp điểm hoặc bình thường, qua đó tối ưu chi phí và giảm áp lực lên hệ thống.
Theo số liệu của Hội Nghiên cứu thị trường liên ngân hàng (VIRA), lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh trong phiên 30/6 sau khoảng hai tuần duy trì ở vùng thấp.
Lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm - kỳ hạn vay mượn chủ yếu trên thị trường liên ngân hàng - lên 13% trong khi các phiên trước dao động 4-6%. Các kỳ hạn một tuần, hai tuần và một tháng cũng lên 8-8,5%.
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất các ngân hàng vay mượn lẫn nhau để đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn, đảm bảo khả năng thanh toán và yêu cầu dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước.
Từ cuối năm ngoái đến nay, lãi suất vay mượn giữa các nhà băng nhiều phiên tăng mạnh. Theo giới chuyên gia, áp lực thanh khoản và cân đối vốn gia tăng khiến một số ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất trên thị trường này lên cao.
Lãi suất liên ngân hàng chủ yếu phản ánh biến động thanh khoản ngắn hạn của hệ thống. Nếu tình trạng này kéo dài, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trên thị trường có thể chịu áp lực tăng.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Phiên 30/6, Ngân hàng Nhà nước phiên 30/6 bơm tiền qua kênh thị trường mở (OMO) nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Ngân hàng Nhà nước cùng ngày chào thầu 38.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố giấy tờ có giá với mức lãi suất 4,5%. Đây là nghiệp vụ Ngân hàng Nhà nước cho các ngân hàng vay ngắn hạn với tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá. Các ngân hàng vay gần 31.600 tỷ đồng qua kênh này trong khi 17.000 tỷ đồng các khoản vay cũ đến hạn được hoàn trả. Qua đó, nhà điều hành bơm ròng gần 14.600 tỷ đồng vào hệ thống. Ngân hàng Nhà nước không phát hành tín phiếu để hút bớt thanh khoản.
Ngày 29/6, Ngân hàng Nhà nước cũng mở nghiệp vụ hoán đổi USD/VND kỳ hạn 7 ngày với các ngân hàng. Giao dịch được thực hiện vào ngày 30/6, theo đó nhà điều hành mua USD giao ngay từ các ngân hàng và tạm thời bơm lượng tiền đồng tương ứng vào hệ thống. Sau 7 ngày, Ngân hàng Nhà nước sẽ bán lại USD và thu hồi tiền đồng.
Thông tin được Chủ tịch UBND TP HCM Nguyễn Văn Được nêu tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương sáng 4/7.
Sáu tháng đầu năm, GRDP TP HCM tăng trưởng 8,55%, đóng góp khoảng 24,5% GDP cả nước. Đây là thành tích cao nhất trong10 năm trở lại đây của địa phương. Tuy nhiên, với mục tiêu cả năm tăng GRDP ở mức hai con số, thành phố cần tăng trưởng lần lượt 11% và 11,8% trong hai quý cuối, theo ông Được.
Để làm được, trong 6 tháng cuối 2026, ông cho biết TP HCM cần huy động thêm khoảng 880.000 tỷ đồng cho đầu tư phát triển, tức gấp 2,8 lần tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt được trong nửa đầu năm là 309.769 tỷ đồng.
Theo đó, thành phố xác định sẽ tập trung giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công, với mục tiêu đến hết quý III đạt tối thiểu 70% và cả năm 2026 đạt 100%. Tính đến ngày 26/6, tổng số vốn đầu tư công đã giải ngân gần 37.300 tỷ đồng, mới đạt 25,3% so với kế hoạch Chính phủ giao.
Đồng thời, địa phương này sẽ khơi thông mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư của khu vực tư nhân, thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài để tạo thêm dư địa tăng trưởng. Nửa đầu năm, thu hút FDI đang là điểm sáng, đạt hơn 6,8 tỷ USD, tăng 114,2%.
Thành phố cũng sẽ tập trung thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới như hạ tầng cảng biển - logistics, Trung tâm tài chính quốc tế, khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo - chuyển đổi số.
Ông Nguyễn Văn Được dự báo 6 tháng cuối năm, nền kinh tế tiếp tục đối mặt nhiều khó khăn, thách thức, thị trường xuất khẩu có nguy cơ bị tác động bởi chính sách bảo hộ, thuế quan. Tuy nhiên, TP HCM kiên định giữ mục tiêu tăng trưởng hai con số và thu ngân sách đạt trên một triệu tỷ đồng.