Hiện giá vàng thế giới đang ở mức 4.797 USD/ounce.
Quy đổi theo tỉ giá niêm yết tại ngân hàng, giá vàng thế giới tương đương 152,43 triệu đồng/lượng.
Do giá vàng thế giới bật tăng khi các công ty vàng đã nghỉ nên giá vàng trong nước chưa điều chỉnh kịp.
Cuối ngày hôm nay, Công ty SJC niêm yết giá bán vàng miếng SJC ở mức 171,5 triệu đồng/lượng, mua vào 168,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn 9999 ở mức 171 triệu đồng/lượng, mua vào 168 triệu đồng/lượng.
Chênh lệch giá mua – bán vàng rút ngắn còn mức 3 triệu đồng/lượng.
Như vậy hiện giá vàng nhẫn 9999 thấp hơn giá vàng miếng 500.000 đồng/lượng.
So với giá vàng thế giới quy đổi, giá vàng trong nước đang cao hơn 19,07 triệu đồng/lượng. Trước đó mức chênh lên đến hơn 30 triệu đồng/lượng.
Trước đó giá vàng thế giới đã bật tăng lên mức 4.840 USD/ounce sau khi Mỹ hoãn tấn công Iran trong 2 tuần.
Tuy nhiên ngay sau đó giá vàng quay đầu giảm mạnh sau tin Iran tuyên bố đóng eo biển Hormuz vì Israel vi phạm lệnh ngừng bắn. Các quan chức Iran cũng cảnh báo Tehran sẵn sàng rút khỏi lệnh ngừng bắn và đáp trả các cuộc tấn công của Israel nhằm vào Lebanon.
Tuy nhiên đến tối nay giá vàng thế giới tăng mạnh trở lại.
Các chuyên gia dự báo tuy tình hình chiến sự chưa ổn nhưng khả năng mở lại eo biển Hormuz trong 2 tuần vẫn khả quan, qua đó hỗ trợ giá vàng tăng trở lại ngưỡng 4.880 USD/ounce.
Giá bạc cũng tăng theo giá vàng. Tối nay giá bạc chạm ngưỡng 76 USD/ounce.
Quy đổi theo tỉ giá niêm yết tại ngân hàng, giá bạc tương đương 2,42 triệu đồng/lượng.
Công ty Ancarat niêm yết giá bạc bán ra ở mức 2,853 triệu đồng/lượng và mua vào ở mức 2,767 triệu đồng/lượng, giảm 95.000 đồng/lượng.
Công ty SBJ niêm yết giá bạc bán ra ở mức 2,859 triệu đồng/lượng, mua vào ở mức 2,775 triệu đồng/lượng, giảm 96.000 đồng/lượng.
Công ty Phú Quý niêm yết giá bán bạc ở mức 2,855 triệu đồng/lượng và 2,769 triệu đồng/lượng (mua vào), giảm 99.000 đồng/lượng so với hôm qua.
Mời bạn đọc theo dõi diễn biến giá vàng và giá bạc TẠI ĐÂY
Nguồn: https://tuoitre.vn/gia-vang-the-gioi-bat-ngo-bat-tang-202604092328532.htm

Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) mới đây đã điều chỉnh giảm mạnh lãi suất tiền gửi trực tuyến ở nhiều kỳ hạn 1-12 tháng trên ứng dụng ACB One.
Theo biểu lãi suất mới, kỳ hạn 1-3 tháng chỉ còn 4,5-4,7%/năm, thay vì mức tối đa 4,75%/năm trước đó. Lãi suất kỳ hạn 6-12 tháng giảm xuống còn 4,9-5,7%/năm. Biểu lãi suất này áp dụng cho tiền gửi online dưới 200 triệu đồng, trong khi khách gửi số tiền lớn được cộng thêm lãi suất theo bậc thang.
Với khoản tiền gửi từ 5 tỷ đồng trở lên, lãi suất online cao nhất ACB niêm yết là 5,9%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Trong khi đó, lãi suất tại quầy phổ biến ở mức 4-5,4%/năm, còn mức 7%/năm chỉ áp dụng cho khách hàng gửi từ 200 tỷ đồng kỳ hạn 13 tháng.
Từ đầu tháng đến nay, thị trường ghi nhận một số ngân hàng điều chỉnh lãi suất gửi tiền như Sacombank, Saigonbank, OCB và ACB. Trong đó, Saigonbank giảm lãi suất ở hầu hết các kỳ hạn nhưng tăng lãi suất kỳ hạn 13 tháng lên 7,9%/năm; Sacombank sau khi tăng lãi suất đã điều chỉnh giảm trở lại; còn OCB tăng lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 1-36 tháng.
Theo biểu lãi suất các ngân hàng niêm yết ngày 21/5, ở nhóm kỳ hạn ngắn 1 tháng, mặt bằng lãi suất huy động trực tuyến tại các ngân hàng hiện dao động khá mạnh, từ 1,6%/năm đến 4,75%/năm.
Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank cùng niêm yết mức 4,75%/năm. Đây cũng là mức lãi suất cao phổ biến ở nhiều ngân hàng tư nhân như OCB, Sacombank hay MSB. Trong khi đó, SCB tiếp tục duy trì mức thấp nhất thị trường với chỉ 1,6%/năm.
Ở kỳ hạn 3 tháng, xu hướng tương tự tiếp tục được duy trì khi nhiều ngân hàng niêm yết quanh vùng 4,65-4,75%/năm. Các ngân hàng như LPBank, PGBank, NCB hay OCB đều áp dụng mức 4,75%/năm. Riêng ACB sau đợt điều chỉnh gần đây chỉ còn niêm yết 4,7%/năm cho kỳ hạn này. SCB tiếp tục nằm ở nhóm thấp nhất với 1,9%/năm.
Bước sang kỳ hạn 6 tháng, chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng bắt đầu nới rộng. Dẫn đầu thị trường là MBV với mức 7,2%/năm, theo sau là LPBank và PGBank cùng niêm yết 6,9%/năm, trong khi nhóm Big 4 dao động quanh 5,8-6,6%/năm.
Tại kỳ hạn 9 tháng, cuộc đua lãi suất tiếp tục tập trung ở nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ. MBV vẫn dẫn đầu với mức 7,2%/năm, tiếp đến là LPBank và PGBank cùng ở mức 6,9%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, VietinBank và Vietcombank đồng loạt niêm yết 6,6%/năm. Một số ngân hàng như HDBank hay KienlongBank giữ lãi suất quanh vùng 4,8-5,2%/năm.
Ở kỳ hạn 12 tháng, mức lãi suất từ 6,5-7%/năm đang trở nên phổ biến hơn tại nhiều ngân hàng tư nhân. MBV tiếp tục dẫn đầu với 7,2%/năm, trong khi LPBank, PGBank và VIB cùng niêm yết 7%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh giữ mặt bằng quanh 5,9-6,8%/năm.
Với kỳ hạn dài 18 tháng, mặt bằng lãi suất tiếp tục nghiêng về nhóm ngân hàng tư nhân quy mô nhỏ và vừa. MBV giữ vị trí cao nhất với 7,2%/năm, trong khi LPBank niêm yết 7,1%/năm. Nhóm Big 4 duy trì quanh 5,9-6,8%/năm. Một số ngân hàng như Techcombank, TPBank hay VPBank áp dụng lãi suất từ 5,85-6,25%/năm cho kỳ hạn này. Trong khi đó, SCB vẫn duy trì mức thấp nhất thị trường với 3,9%/năm.
Tin Gốc: Dân Trí
Kinh Doanh
Việt Nam vươn thành nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á, vượt Thái Lan về GDP theo sức mua

Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund, IMF) vừa công bố dự báo về quy mô kinh tế của 6 nước lớn ở Đông Nam Á giai đoạn 2026 - 2031, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Đáng chú ý, tính theo GDP sức mua tương đương (PPP), Việt Nam đang là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất so với các quốc gia trên.
Cụ thể, riêng năm 2026, GDP PPP của Việt Nam đạt 2.025 tỉ USD, vượt Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore, chỉ đứng sau Indonesia với 5.230 tỉ USD. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất ngoài Indonesia vượt mốc 2.000 tỉ USD.
Khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan tiếp tục nới rộng. Đến năm 2031, dự báo GDP PPP Việt Nam đã cao hơn Thái Lan hơn 500 tỉ USD, bỏ xa Malaysia và Philippines, qua đó củng cố vị thế nền kinh tế lớn thứ hai ASEAN.
Dù vẫn còn khoảng cách với Indonesia, Việt Nam lại là nước thu hẹp nhanh nhất với nền kinh tế lớn nhất khu vực. Từ mức tương đương khoảng 39% quy mô của Indonesia năm 2026, đến năm 2031, Việt Nam được dự báo đạt gần 46%.
Đáng chú ý, Việt Nam ngày càng vượt xa Singapore về quy mô kinh tế, nhưng "đảo quốc sư tử" vẫn dẫn đầu tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người. Đến năm 2031, GDP PPP của nước ta được dự báo gấp hơn 2,2 lần Singapore, phản ánh lợi thế về quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng.
TS Nguyễn Anh Vũ - Trưởng khoa tài chính Trường đại học Ngân hàng - cho biết cần phân biệt giữa GDP danh nghĩa và GDP theo sức mua tương đương (PPP), bởi hai chỉ số phản ánh những khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.
GDP danh nghĩa thể hiện tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ một quốc gia tạo ra, quy đổi theo tỉ giá hiện hành sang USD. Trong khi đó, GDP PPP phản ánh sức mua thực tế, tức cùng một số tiền có thể mua được bao nhiêu hàng hóa và dịch vụ ở mỗi quốc gia sau khi đã điều chỉnh theo mặt bằng giá.
Ví dụ, theo dữ liệu của World Bank, GDP danh nghĩa của Việt Nam năm 2024 đạt hơn 476 tỉ USD, còn GDP PPP đạt 1.650 tỉ USD, gấp khoảng 4 lần. Trong khi đó, hai chỉ số này trong năm 2024 của Mỹ lần lượt là 28.750 tỉ USD và hơn 29.180 tỉ USD, gần như tương đương.
Theo dự báo của IMF, năm 2026, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vượt mốc 500 tỉ USD theo GDP danh nghĩa và đạt hơn 2.000 tỉ USD theo GDP PPP.
Thước đo GDP PPP xuất phát từ Chương trình so sánh quốc tế (International Comparison Program) của World Bank. Mức giá toàn cầu là cơ sở để so sánh chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia khác nhau. Chỉ số này được đo bằng sức mua tương đương (PPP), qua đó cho thấy cần bao nhiêu tiền để mua cùng một mặt hàng ở những nơi khác nhau.
TS Nguyễn Anh Vũ lấy ví dụ, nếu một chiếc hamburger ở Mỹ có giá khoảng 6 USD, trong khi một chiếc tương tự ở Việt Nam chỉ khoảng 40.000 đồng, tương đương khoảng 1,5 USD. Vì vậy, với cùng 1 USD, người dân ở Việt Nam có thể mua được lượng hàng hóa, dịch vụ tương đương khoảng 3 - 4 USD ở Mỹ.
Đây là lý do quy mô kinh tế của Việt Nam khi tính theo sức mua cao hơn nhiều so với GDP danh nghĩa quy đổi theo tỉ giá.
Năm 2006, GDP danh nghĩa của Thái Lan là hơn 220 tỉ USD, trong khi Việt Nam chỉ ở mức hơn 66 tỉ USD. Đến năm 2024, hai chỉ số trên của Thái Lan lần lượt gần 530 tỉ USD và 1.770 tỉ USD, còn của Việt Nam gần 480 tỉ USD và 1.650 tỉ USD.
Với dự báo mới công bố của IMF vào tháng 4-2026, TS Nguyễn Anh Vũ cho rằng: "Việc Việt Nam vượt Thái Lan theo chỉ tiêu GDP PPP, sau đó có thể cả GDP danh nghĩa là hợp lý. Bởi Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn Thái Lan trong thời gian dài, nếu tiếp tục giữ đà thì khoảng cách sẽ còn nới rộng".
Tuy vậy, ông nhấn mạnh điều này không có nghĩa Việt Nam đã vượt Thái Lan về kinh tế. Khi so sánh mức sống người dân, GDP bình quân đầu người danh nghĩa hay GDP bình quân đầu người theo PPP là chỉ tiêu chính xác hơn. Theo cách tính này, Việt Nam hiện vẫn thấp hơn Thái Lan đáng kể.
Chẳng hạn, GDP bình quân đầu người danh nghĩa của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là gần 7.350 USD và gần 4.720 USD vào năm 2024. Còn GDP bình quân đầu người theo PPP của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là hơn 24.710 USD và 16.385 USD.
Diễn biến trên xuất phát từ việc quy mô nền kinh tế của hai nước đã tương đương, nhưng Việt Nam có hơn 100 triệu dân, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 70 triệu người.
TS Nguyễn Anh Vũ ví dụ: "Hai gia đình đều có tổng thu nhập 10 triệu đồng mỗi tháng. Nhưng nếu một gia đình có 10 người, còn gia đình kia chỉ có 7 người, thì mức sống của gia đình ít người sẽ cao hơn".
Do đó, để đánh giá đời sống người dân, cần nhìn vào GDP bình quân đầu người thay vì tổng quy mô nền kinh tế. Việt Nam vẫn cần thêm một giai đoạn tăng trưởng cao để thu hẹp khoảng cách về mức sống với Thái Lan.
Dù vậy, TS Nguyễn Anh Vũ nhấn mạnh: "Việc quy mô nền kinh tế của Việt Nam tính theo GDP danh nghĩa và GDP PPP đã gần bằng, thậm chí vượt Thái Lan, để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai khu vực là một cột mốc quan trọng. Đây là kết quả của nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực và tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo".
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Giá dầu lao dốc gần 7%: Cơn hạ sốt bất ngờ và kịch bản thực tế phía sau

Theo dữ liệu từ Reuters, tính đến 5h ngày 26/5 (giờ Việt Nam) giá dầu Brent đã giảm mạnh 7,24 USD, tương đương 7,15%, xuống mức 96,14 USD/thùng. Cùng thời điểm, dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) cũng mất 6,30 USD, tương đương 6,52%, chốt phiên ở mức 90,3 USD/thùng.
Nguyên nhân trực tiếp kích hoạt làn sóng bán tháo này đến từ những tín hiệu lạc quan về một thỏa thuận hòa bình tiềm năng giữa Mỹ và Iran. Các nguồn tin quốc tế cho biết, đoàn đàm phán của Iran đã có mặt tại Doha (Qatar) để thảo luận về một bản ghi nhớ nhằm chấm dứt xung đột kéo dài. Thông tin này ngay lập tức thắp lên hy vọng về việc mở cửa trở lại eo biển Hormuz - cửa ngõ huyết mạch vận chuyển dầu mỏ của thế giới.
Ông Phil Flynn, chuyên gia phân tích cấp cao tại Price Futures Group, nhận định rằng dù thỏa thuận chưa hoàn tất, nhưng tâm lý thị trường đang đặt cược vào việc dòng chảy dầu sẽ sớm được lưu thông trở lại. Điều này đã giúp loại bỏ một phần đáng kể "phần bù rủi ro" vốn đã đẩy giá dầu neo cao trong suốt thời gian qua.
Tuy nhiên, khối lượng giao dịch trong phiên này khá thấp do thị trường Mỹ nghỉ lễ Memorial Day. Điều này đồng nghĩa với việc biên độ giảm giá có thể đã bị khuếch đại bởi tính thanh khoản thấp, và thực tế thị trường vẫn đang trong trạng thái "nín thở" chờ đợi những diễn biến cụ thể hơn từ bàn đàm phán.
Vì sao giá dầu chưa chạm mốc 150 USD/thùng như dự báo?
Một câu hỏi lớn đang đặt ra cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp là vì sao sau 3 tháng eo biển Hormuz bị phong tỏa hoàn toàn, giá dầu vẫn chỉ dao động quanh ngưỡng 100 USD thay vì chạm mốc 150 USD/thùng như nhiều kịch bản thảm họa trước đó?
Theo phân tích từ Oilprice, thị trường đang vận hành dựa trên những "bộ giảm xóc" tạm thời. Đầu tiên và quan trọng nhất là lượng tồn kho thương mại toàn cầu và dầu lưu trữ nổi trên biển. Thế giới bước vào cuộc khủng hoảng này với một lượng dự trữ lớn hơn dự kiến, đóng vai trò như một lớp đệm hấp thụ cú sốc nguồn cung ban đầu.
Bên cạnh đó, công suất dự phòng của OPEC, đặc biệt là từ Saudi Arabia, đã tạo ra một tâm lý an tâm nhất định cho thị trường. Dù không thể thay thế hoàn toàn nguồn cung từ Vùng Vịnh trong dài hạn, nhưng sự hiện diện của nguồn lực này đã ngăn chặn các đợt tăng giá mang tính hoảng loạn.
Yếu tố cuối cùng giúp "hạ nhiệt" giá dầu chính là hiện tượng phá hủy nhu cầu. Khi giá năng lượng duy trì ở mức cao, người tiêu dùng và các doanh nghiệp tại các thị trường mới nổi đã chủ động cắt giảm tiêu thụ. Sự sụt giảm nhu cầu này, dù nhỏ, đã góp phần cân bằng lại phần nào sự thiếu hụt nghiêm trọng ở phía cung.
Dù vậy, chuyên gia Robert Rapier trên Oilprice cảnh báo rằng đây có thể chỉ là "sự trì hoãn" chứ không phải là giải pháp triệt để. Những lớp đệm này là hữu hạn và đang bị tiêu hao dần theo từng tuần. Khi tồn kho giảm xuống dưới ngưỡng vận hành an toàn, hệ thống sẽ mất đi tính linh hoạt và trở nên cực kỳ nhạy cảm với bất kỳ biến động nhỏ nào.
Bài toán thực tế: "Nút thắt" không dễ tháo gỡ
Dù các chính trị gia đang nỗ lực đàm phán, giới chuyên gia kinh tế lại nhìn nhận vấn đề dưới góc độ kỹ thuật và vận hành khắt khe hơn. Theo Bloomberg, ngay cả khi một thỏa thuận hòa bình được ký kết ngay lập tức, việc khôi phục dòng chảy dầu qua eo biển Hormuz vẫn sẽ mất nhiều tháng.
Các cơ sở hạ tầng dầu khí bị hư hại trong xung đột cần thời gian để sửa chữa và kiểm định an toàn. Bà June Goh, chuyên gia phân tích tại Sparta Commodities, nhấn mạnh rằng tình trạng thiếu hụt nguồn cung cơ bản khoảng 10-11 triệu thùng/ngày không thể biến mất sau một đêm. Thị trường vẫn sẽ phải tiếp tục rút dầu từ kho dự trữ cho đến khi sản lượng tại Trung Đông trở lại trạng thái bình thường.
Hơn nữa, các nhà phân tích tại UBS lưu ý rằng điều quan trọng nhất cần theo dõi lúc này là "dòng chảy vật lý" của dầu mỏ chứ không chỉ là những tuyên bố chính trị. Hiện tại, hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz vẫn bị hạn chế rất lớn. Dù đã có một vài tàu chở LNG và tàu dầu rời cảng sau nhiều tháng mắc kẹt, nhưng đó mới chỉ là những tín hiệu đơn lẻ, chưa đủ để tạo thành một xu hướng phục hồi bền vững.
Tổng thống Mỹ Donald Trump dù xác nhận các cuộc đàm phán đang diễn ra tốt đẹp nhưng cũng không quên đưa ra những cảnh báo về các kịch bản dự phòng nếu đối thoại thất bại. Điều này cho thấy sự bấp bênh vẫn đang bủa vây thị trường năng lượng.
Hiện tại, thị trường dầu mỏ toàn cầu đứng giữa hai kịch bản. Nếu dòng chảy qua Hormuz dần được khôi phục, giá dầu có thể tiếp tục hạ nhiệt và thị trường bước vào giai đoạn tái tích lũy tồn kho.
Ngược lại, nếu quá trình đàm phán tiếp tục kéo dài hoặc xuất hiện thêm gián đoạn mới, các “tấm đệm” hiện tại có thể nhanh chóng cạn đi. Khi đó, áp lực tăng giá sẽ quay trở lại theo cách quyết liệt hơn nhiều.
Tin Gốc: Dân Trí

