Đa số hố đen tạo ra những luồng gió hoặc luồng tia vật chất trong lúc ngấu nghiến mọi vật chất xung quanh. Cho đến nay, không ai có thể tìm được luồng gió sản sinh từ Sagittarius A**, siêu hố đen kiểm soát sự tăng trưởng và tiến hóa của Dải Ngân hà.
Trong khi đó, Sagittarius A* lần đầu tiên được phát hiện năm 1974.
Tuy nhiên, mới đây một hình ảnh chi tiết nhất từ trước tới nay của hố đen đã cung cấp cái nhìn rõ ràng hơn về luồng gió mà các nhà thiên văn học ước tính khoảng 20.000 năm tuổi, giúp họ hiểu thêm về vai trò của các siêu hố đen trong vũ trụ.
“Trừ phi hố đen tồn tại trong môi trường chân không tuyệt đối, nó chắc chắn phải tạo ra gió theo một cách nào đó”, tờ The Independent (Anh) hôm nay 5.6 dẫn lời đồng tác giả báo cáo là nhà vật lý thiên văn Mark Gorski thuộc Đại học Northwestern (Mỹ). Giả thuyết này không thể xảy ra do vũ trụ không hề tồn tại trạng thái chân không tuyệt đối.
“Với các quan sát mới, đây là lần đầu tiên chúng tôi có được hình ảnh đủ rõ để nhìn thấy dấu vết của luồng gió này”, chuyên gia Gorski đề cập đến cái mà giới khoa học đã tìm kiếm suốt hơn 50 năm qua.
Để làm được điều đó, các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập được từ 5 năm quan sát của mạng lưới viễn vọng vô tuyến ALMA ở Chile. Họ đã nhìn xuyên qua những màn khí và bụi trước khi che phủ tầm nhìn của nhân loại về Sagittarius A*.
Sau khi chụp được hình ảnh của khí gần hố đen, kế đến các nhà nghiên cứu xử lý dữ liệu nhằm giảm thiểu tác động đến từ tín hiệu vô tuyến của hố đen.
Kết quả là họ thu được một hình ảnh có độ sâu gấp 100 lần và độ sắc nét cao hơn 80 lần so với những bản đồ trước đó về khu vực trung tâm của Dải Ngân hà.
Nhờ vậy, họ tìm được một khoảng trống khổng lồ hình nón không có khí, vốn chỉ có thể tạo ra bởi luồng gió nóng của siêu hố đen.
Tin Gốc: Thanh Niên

"Chúng tôi đã chi tất cả số tiền đó cho họ. Và rồi khi chúng tôi muốn được giúp đỡ một vài việc nhỏ, họ lại từ chối và nói rằng không muốn giúp", Tổng thống Donald Trump phát biểu trong một cuộc họp báo tại Nhà Trắng, đề cập tới NATO.
"Thật là một câu trả lời ngốc nghếch, bởi chúng ta cũng có thể nói điều đó với họ nếu chúng ta muốn và chúng ta rất có thể sẽ làm như vậy", ông cho biết thêm.
Bất chấp mối quan hệ căng thẳng với liên minh, Tổng thống Trump dự kiến vẫn tham dự hội nghị thượng đỉnh NATO tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng tới.
Trước đó, Tổng thống Trump từng nhiều lần chỉ trích NATO không giúp đỡ khi Mỹ cần. Ông gọi NATO là "hổ giấy" sau khi liên minh không tham gia nỗ lực mở cửa eo biển Hormuz và một số quốc gia thành viên không cho phép Mỹ sử dụng căn cứ trên lãnh thổ của họ cho chiến dịch Trung Đông.
Cùng ngày, Tổng thống Mỹ tiếp tục gửi một thông điệp cảnh báo tới Iran. "Nếu Iran không thực hiện đúng thỏa thuận, hoặc nếu họ cư xử không đúng mực, tôi sẽ làm những gì mình phải làm", ông Trump nói với các phóng viên tại cuộc họp báo ở Nhà Trắng.
Hôm 21/6, trả lời phỏng vấn Fox News, ông Trump đã dọa khiến phái đoàn Iran đang đàm phán với Mỹ tại Thụy Sĩ không còn đất nước để quay về nếu hai bên không đạt thỏa thuận.
Phái đoàn Iran ngay lập tức đưa ra tuyên bố phản đối. Trưởng đoàn đàm phán Iran Mohammad Bagher Ghalibaf cảnh báo Mỹ không nên đe dọa Iran, đồng thời tuyên bố "các lực lượng vũ trang của chúng tôi sẵn sàng đáp trả".
"Chẳng lẽ Mỹ không nghĩ nếu đe dọa có tác dụng thì họ đã không rơi vào tình trạng bế tắc như hôm nay? Chúng tôi không bận tâm tới những lời đe dọa từ Mỹ", ông Ghalibaf nói. "Tốt hơn hết Mỹ nên thận trọng hơn trong phát ngôn. Dù họ nói gì đi nữa, chúng tôi mới là bên hành động".
Phái đoàn Iran từ chối quay trở lại phòng đàm phán, dù các thông điệp vẫn tiếp tục được trao đổi thông qua trung gian Pakistan và Qatar.
Tehran và Washington tuần trước ký một bản ghi nhớ nhằm đặt nền móng cho các cuộc đàm phán hòa bình sau hơn 3 tháng xung đột. Như một phần của thỏa thuận, Mỹ cam kết giải phóng và cho phép Iran sử dụng đầy đủ các khoản tiền và tài sản đang bị phong tỏa ngay khi bản ghi nhớ được thực thi.
Tổng thống Trump cho biết Iran có nghĩa vụ phải sử dụng số tiền được phá băng để mua thực phẩm độc quyền từ Mỹ. "Tất cả số tiền đó sẽ quay trở lại thông qua việc mua thực phẩm mà họ đang rất cần. Họ có 91 triệu dân và không thể tự nuôi sống nổi. Vì vậy, số tiền được phá băng đó sẽ chảy vào túi những người nông dân của chúng ta", ông = khẳng định.
Tuy nhiên, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Iran Abdolnaser Hemmati nói rằng Tehran không có nghĩa vụ phải mua các mặt hàng nông nghiệp đầu vào từ Washington. Ông cho hay số tiền được giải phóng không nhất thiết chỉ được dùng để mua các mặt hàng thiết yếu, mà có thể được sử dụng để mua các loại hàng hóa khác không nằm trong danh mục trừng phạt.
Tin Gốc: Vnexpress

Hội nghị thượng đỉnh NATO, dự kiến được tổ chức tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ vào các ngày 7-8/7, diễn ra trong bối cảnh môi trường an ninh châu Âu tiếp tục biến động sâu sắc, xung đột Nga - Ukraine chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt và những bất đồng xuyên Đại Tây Dương nổi lên như “phép thử” đối với sự đoàn kết của liên minh quân sự lớn nhất thế giới.
Sức ép từ Mỹ về chia sẻ gánh nặng quốc phòng, khả năng Washington điều chỉnh hiện diện quân sự tại châu Âu, cùng các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đang đặt NATO trước yêu cầu vừa củng cố năng lực phòng thủ tập thể, vừa duy trì sự thống nhất chính trị - nền tảng tạo nên sức mạnh của liên minh trong hơn 7 thập niên qua.
Phép thử đối với quan hệ xuyên Đại Tây Dương
Nếu các hội nghị NATO trong nhiều năm qua chủ yếu tập trung vào việc tăng cường răn đe Nga, thì trước thềm hội nghị Ankara, ưu tiên hàng đầu của liên minh lại là xử lý những khác biệt ngày càng lớn với chính đồng minh quan trọng nhất - Mỹ.
Theo VZ, chuyến công du Mỹ của Tổng Thư ký NATO Mark Rutte ngay trước hội nghị được đánh giá là nỗ lực nhằm thu hẹp bất đồng giữa hai bờ Đại Tây Dương, tránh để các tranh cãi nội bộ phủ bóng lên chương trình nghị sự của hội nghị.
Trong nhiệm kỳ mới, Tổng thống Donald Trump tiếp tục theo đuổi quan điểm rằng các đồng minh châu Âu đã hưởng lợi quá lâu từ “chiếc ô an ninh” của Mỹ, nhưng chưa chia sẻ tương xứng trách nhiệm tài chính và quân sự. Theo lập luận của Mỹ, trong khi Washington duy trì hàng chục nghìn binh sĩ cùng mạng lưới căn cứ rộng khắp châu Âu, nhiều quốc gia NATO vẫn chưa đầu tư đủ cho quốc phòng, khiến phần lớn gánh nặng bảo vệ châu Âu tiếp tục đặt lên vai người nộp thuế Mỹ.
Quan điểm này càng được nhấn mạnh sau các diễn biến tại Trung Đông. Chính quyền Mỹ cho rằng một số đồng minh chưa hỗ trợ đầy đủ các hoạt động quân sự của Washington liên quan đến Iran, từ việc sử dụng căn cứ, không phận đến hỗ trợ hậu cần. Những tuyên bố gần đây của Nhà Trắng về khả năng xem xét lại mức độ cam kết quân sự đối với các đồng minh đã làm dấy lên lo ngại về tương lai của nguyên tắc phòng thủ tập thể - nền tảng cốt lõi của NATO.
Song song với sức ép chính trị là các tín hiệu điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ. Lầu Năm Góc đang rà soát toàn diện việc bố trí lực lượng tại châu Âu. Dù chưa có quyết định cuối cùng, khả năng Mỹ giảm hiện diện quân sự lâu dài tại lục địa này đã trở thành chủ đề được các nhà hoạch định chính sách NATO đặc biệt quan tâm.
Nhiều chuyên gia cho rằng đây không chỉ là biện pháp cắt giảm chi phí mà còn phản ánh sự dịch chuyển ưu tiên chiến lược của Mỹ sang khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong bối cảnh cạnh tranh với Trung Quốc ngày càng gay gắt. Điều này đồng nghĩa với việc châu Âu có thể phải chuẩn bị cho một giai đoạn “ít vai trò của Mỹ hơn nhưng nhiều trách nhiệm hơn”. Mỹ khó có khả năng rút khỏi NATO, nhưng sẽ buộc các đồng minh chuyển từ tư duy phụ thuộc sang chia sẻ trách nhiệm nếu muốn duy trì sức mạnh răn đe của liên minh trong dài hạn.
Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Tổng thư ký Mark Rutte là thuyết phục Mỹ rằng các đồng minh châu Âu đang thực sự thay đổi. Trong năm qua, các nước châu Âu và Canada đã tăng mạnh chi tiêu quốc phòng; phần lớn thành viên NATO hiện đạt hoặc vượt mức 2% GDP dành cho quốc phòng và đang xây dựng lộ trình hướng tới mục tiêu 5% GDP vào năm 2035.
Tuy nhiên, với nhiều chuyên gia Mỹ, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô ngân sách mà còn ở tốc độ hiện đại hóa quân đội, năng lực công nghiệp quốc phòng và khả năng triển khai sức mạnh quân sự khi xảy ra khủng hoảng. Châu Âu vẫn phụ thuộc đáng kể vào Mỹ trong các lĩnh vực then chốt như vận tải chiến lược, tiếp nhiên liệu trên không, tình báo vệ tinh và phòng thủ tên lửa.
Trong bối cảnh đó, NATO đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc nhất kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Thách thức lớn nhất của hội nghị Ankara có thể không phải là việc thông qua thêm bao nhiêu sáng kiến quân sự mới, mà là khôi phục niềm tin chiến lược giữa Mỹ và châu Âu.
Cuộc chạy đua tăng chi tiêu quốc phòng
Sức ép từ Washington đồng thời buộc NATO phải đối mặt với một yêu cầu mang tính sống còn: xây dựng năng lực quốc phòng đủ mạnh để thích ứng với môi trường an ninh đang thay đổi nhanh chóng.
Một trong những nội dung trọng tâm của hội nghị Ankara là kế hoạch nâng chi tiêu quốc phòng của các thành viên lên tương đương 5% GDP vào năm 2035 - mục tiêu tham vọng nhất kể từ khi NATO được thành lập năm 1949. Nếu mức tối thiểu 2% GDP từng được xem là “tiêu chuẩn vàng” của NATO trong hơn một thập niên qua, thì những biến động hiện nay khiến tiêu chuẩn đó dần trở nên không còn phù hợp.
Xung đột quân sự Nga - Ukraine kéo dài làm cạn kiệt kho dự trữ vũ khí của nhiều nước châu Âu; bộc lộ những hạn chế trong năng lực sản xuất quốc phòng của liên minh. Đồng thời, các nguy cơ mới như tấn công mạng, cạnh tranh tại Bắc Cực, tác chiến không gian, AI trong quân sự hay bảo vệ hạ tầng năng lượng đều đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn hơn nhiều so với trước đây.
Theo định hướng mới, khoảng 3,5% GDP sẽ được dành cho đầu tư trực tiếp vào quân đội, trang bị và huấn luyện, trong khi 1,5% GDP còn lại sẽ được sử dụng cho các lĩnh vực hỗ trợ như hạ tầng chiến lược, an ninh mạng, công nghệ lưỡng dụng, chuỗi cung ứng, vận tải quân sự và năng lực ứng phó khẩn cấp. Cách tiếp cận này phản ánh nhận thức rằng sức mạnh quân sự trong thế kỷ XXI không chỉ được đo bằng số lượng xe tăng hay chiến đấu cơ, mà còn phụ thuộc vào khả năng duy trì một hệ sinh thái quốc phòng hiện đại và có sức chống chịu cao.
Đằng sau mục tiêu 5% GDP là nỗ lực tái cấu trúc toàn diện năng lực quân sự của NATO. Liên minh không chỉ cần chi nhiều tiền hơn mà còn phải chi hiệu quả hơn thông qua phối hợp mua sắm, chuẩn hóa trang bị, chia sẻ công nghệ và phát triển các chuỗi cung ứng quốc phòng chung.
Một trọng tâm khác là mở rộng năng lực sản xuất công nghiệp quốc phòng. Xung đột tại Ukraine cho thấy ngay cả những nền công nghiệp phát triển nhất châu Âu cũng gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu lớn về đạn dược, tên lửa và khí tài hiện đại trong thời gian ngắn. Vì vậy, Ankara được kỳ vọng sẽ thông qua các kế hoạch thúc đẩy đầu tư vào công nghiệp quốc phòng, tăng cường hợp tác xuyên biên giới và xây dựng các dây chuyền sản xuất có thể nhanh chóng mở rộng khi khủng hoảng xảy ra.
Bên cạnh các năng lực truyền thống, NATO cũng đang ưu tiên đầu tư vào trí tuệ nhân tạo, điện toán lượng tử, hệ thống không người lái, công nghệ không gian, tác chiến điện tử và phòng thủ mạng - những lĩnh vực được xem sẽ quyết định ưu thế quân sự trong tương lai.
Tuy nhiên, hiện thực hóa các mục tiêu này không dễ dàng. Khoảng cách về tiềm lực kinh tế, năng lực công nghiệp và ưu tiên chiến lược giữa các thành viên vẫn rất lớn. Trong khi Ba Lan, các nước Baltic và Bắc Âu liên tục tăng chi tiêu quốc phòng do lo ngại nguy cơ an ninh trực tiếp từ Nga, nhiều nền kinh tế Tây Âu vẫn phải cân đối giữa yêu cầu đầu tư quân sự với sức ép nợ công, lạm phát, chuyển đổi năng lượng và các chương trình an sinh xã hội.
Thách thức lớn nhất vì vậy không phải là việc các nước có đồng ý tăng chi tiêu hay không, mà là khả năng duy trì các cam kết đó trong suốt một thập niên tới. Xét về dài hạn, mục tiêu 5% GDP không đơn thuần là một chỉ tiêu tài chính mà phản ánh sự thay đổi trong tư duy chiến lược của NATO: từ thời kỳ tận dụng “cổ tức hòa bình” sau Chiến tranh Lạnh sang giai đoạn trở lại với tư duy răn đe tập thể và chuẩn bị cho cạnh tranh chiến lược kéo dài.
Những rạn nứt trong lòng liên minh
Trong hơn 75 năm tồn tại, sức mạnh lớn nhất của NATO không chỉ nằm ở ưu thế quân sự mà còn ở khả năng duy trì đồng thuận chính trị giữa các thành viên. Tuy nhiên, chính sự đồng thuận đó đang chịu sức ép ngày càng lớn.
Xung đột Nga - Ukraine tạo ra sự thống nhất tương đối về nhu cầu tăng cường phòng thủ tập thể nhưng đồng thời cũng làm nổi rõ sự khác biệt trong nhận thức về các ưu tiên an ninh. Đối với Ba Lan, các nước Baltic và Bắc Âu, Nga vẫn là mối lo ngại rực tiếp và lâu dài. Trong khi đó, nhiều quốc gia Nam Âu quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề tại Địa Trung Hải, Bắc Phi và Trung Đông như khủng bố, di cư bất hợp pháp và an ninh năng lượng.
Các nền kinh tế lớn ở Tây Âu lại phải tính toán đến tác động của việc gia tăng chi tiêu quân sự đối với tăng trưởng kinh tế và ổn định tài chính trong nước. Sự khác biệt về địa lý, lợi ích kinh tế và môi trường an ninh khiến việc xây dựng một chương trình nghị sự chung ngày càng khó khăn hơn.
Một điểm nóng khác là những bất đồng kéo dài giữa Thổ Nhĩ Kỳ với Hy Lạp và Pháp liên quan đến tranh chấp trên biển, khai thác năng lượng và chính sách đối với Libya hay Syria. Dù các bên đều nỗ lực kiềm chế để tránh ảnh hưởng đến lợi ích chung của NATO, các mâu thuẫn này vẫn âm ỉ tồn tại và có nguy cơ bùng phát khi xuất hiện các biến động mới trong khu vực.
Việc Thổ Nhĩ Kỳ đăng cai hội nghị Ankara vì vậy mang nhiều ý nghĩa. Một mặt, đây là sự ghi nhận vai trò ngày càng quan trọng của Ankara trong cấu trúc an ninh châu Âu và Trung Đông. Mặt khác, nước chủ nhà cũng có cơ hội thể hiện vai trò cầu nối giữa các nhóm lợi ích khác nhau trong liên minh.
NATO cũng đang xuất hiện những khác biệt trong cách tiếp cận các cuộc khủng hoảng quốc tế. Những diễn biến liên quan đến Iran là ví dụ điển hình. Trong khi Mỹ mong muốn nhận được sự ủng hộ rõ ràng hơn từ các đồng minh, nhiều nước châu Âu lại ưu tiên các biện pháp ngoại giao nhằm tránh nguy cơ xung đột lan rộng. Sự khác biệt này phản ánh cuộc tranh luận ngày càng lớn về phạm vi trách nhiệm và vai trò của NATO trong bối cảnh môi trường an ninh toàn cầu ngày càng đan xen.
Liên minh không thiếu sức mạnh quân sự nhưng lại thiếu một nhận thức chiến lược thống nhất về các mối đe dọa ưu tiên, khiến NATO nhiều khi phải dành thời gian đáng kể để tìm kiếm tiếng nói chung trước khi đưa ra các quyết sách quan trọng.
Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng quyết liệt, cơ chế ra quyết định dựa trên nguyên tắc đồng thuận tuyệt đối cũng đứng trước sức ép phải thích ứng để bảo đảm tính linh hoạt và hiệu quả. Hội nghị Ankara vì thế sẽ được đánh giá không chỉ bằng số lượng tuyên bố được thông qua, mà còn bằng khả năng thu hẹp khác biệt giữa các thành viên và củng cố niềm tin chiến lược trong nội bộ liên minh.
Hội nghị Ankara và tương lai của NATO
Trong bối cảnh hàng loạt thách thức xuất hiện đồng thời, hội nghị thượng đỉnh NATO tại Ankara đang được xem là một dấu mốc quan trọng đối với tương lai của liên minh quân sự lớn nhất thế giới.
Điểm khác biệt của hội nghị lần này là NATO không chỉ phải đối mặt các thách thức từ bên ngoài mà còn phải xử lý những câu hỏi tồn tại ngay trong nội bộ. Trong nhiều thập niên, sự hiện diện quân sự của Mỹ tại châu Âu được xem là trụ cột bảo đảm an ninh cho lục địa này, còn các nước châu Âu chủ yếu đóng vai trò bổ trợ. Tuy nhiên, các tín hiệu từ Mỹ cho thấy mô hình đó đang bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Mỹ vẫn khẳng định vai trò trong NATO nhưng đồng thời yêu cầu các đồng minh châu Âu phải gánh vác nhiều hơn trách nhiệm bảo vệ chính khu vực của mình. Điều này buộc NATO phải đứng trước một lựa chọn mang tính lịch sử: hoặc tiếp tục dựa chủ yếu vào sức mạnh Mỹ, hoặc từng bước xây dựng một cấu trúc trong đó châu Âu có thể đảm nhiệm nhiều hơn các nhiệm vụ an ninh thông thường.
Tương lai của NATO nhiều khả năng sẽ phụ thuộc vào khả năng tìm được sự cân bằng giữa hai yêu cầu tưởng như đối lập: duy trì vai trò lãnh đạo của Mỹ và thúc đẩy năng lực tự chủ của châu Âu. Một NATO bền vững không thể phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ, nhưng cũng khó có thể hoạt động hiệu quả nếu thiếu Mỹ. Sức mạnh của liên minh trong nhiều thập niên qua chính là sự kết hợp giữa nguồn lực quân sự của Mỹ với vị trí địa chiến lược, kinh tế và ngoại giao của châu Âu.
Một trong những kết quả được kỳ vọng nhất tại Ankara là việc các thành viên thống nhất được lộ trình cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu chi tiêu quốc phòng 5% GDP vào năm 2035. Tuy nhiên, con số này chỉ có ý nghĩa khi đi kèm với sự thay đổi về chất trong cách NATO sử dụng nguồn lực. Một liên minh có ngân sách lớn nhưng thiếu phối hợp, thiếu chuỗi cung ứng ổn định và thiếu chiến lược chung vẫn có thể gặp khó khăn trước các cuộc khủng hoảng phức tạp.
Bài toán công nghiệp quốc phòng vì vậy sẽ trở thành một trong những phép thử quan trọng nhất. Nếu NATO không thể khắc phục tình trạng phân tán trong sản xuất quốc phòng, việc tăng ngân sách có nguy cơ chỉ tạo ra những khoản đầu tư rời rạc thay vì chuyển hóa thành sức mạnh chiến lược thực sự.
Liên minh cũng phải trả lời câu hỏi về phạm vi vai trò của mình trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa. Các vấn đề như an ninh năng lượng, cạnh tranh công nghệ, bảo vệ chuỗi cung ứng, an ninh mạng hay những biến động tại Trung Đông đều tác động trực tiếp đến lợi ích của các thành viên NATO. Điều đó đòi hỏi liên minh phải điều chỉnh cách tiếp cận chiến lược nhưng đồng thời tránh nguy cơ mở rộng quá mức khiến tổ chức mất đi trọng tâm ban đầu.
Thách thức lớn nhất của NATO trong giai đoạn mới có thể không phải là thiếu năng lực quân sự mà là nguy cơ phân tán ưu tiên chiến lược giữa các nhóm thành viên.
Nếu hội nghị thành công, NATO có thể bước vào giai đoạn củng cố mới, trong đó châu Âu tăng cường đóng góp, Mỹ tiếp tục giữ vai trò trung tâm và các thành viên xây dựng được cơ chế phối hợp hiệu quả hơn. Ngược lại, nếu các bất đồng về chi tiêu quốc phòng, vai trò của Mỹ hay cách tiếp cận các cuộc khủng hoảng không được giải quyết, liên minh có thể bước vào thời kỳ bất ổn kéo dài và suy giảm khả năng phản ứng trước các thách thức an ninh mới.
Sau hơn 7 thập niên tồn tại, NATO vẫn là một trong những cấu trúc an ninh có ảnh hưởng nhất thế giới. Tuy nhiên, để tiếp tục giữ vai trò đó, liên minh không thể chỉ dựa vào những thành công trong quá khứ. Hội nghị thượng đỉnh NATO tại Ankara năm 2026 sẽ là “phép thử” đối với khả năng đổi mới, dung hòa khác biệt và chuyển hóa các cam kết chính trị thành sức mạnh thực tế. Trong một môi trường quốc tế ngày càng cạnh tranh và khó đoán định, năng lực thích ứng có thể sẽ trở thành yếu tố quyết định vị thế và tương lai của NATO trong những thập niên tới.
Tin Gốc: Dân Trí

"Buổi họp báo và ký dự luật về nhà ở hôm nay bị hủy bỏ cho đến khi chúng ta thông qua Đạo luật Cứu nước Mỹ (Save America Act) vô cùng cần thiết, mà tôi coi là tình trạng khẩn cấp quốc gia", Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng lên mạng xã hội ngày 24/6.
Theo kế hoạch, lễ ký dự luật The 21st Century Road to Housing (Con đường sở hữu nhà ở thế kỷ 21) sẽ diễn ra tại Đồi Capitol vào sáng 24/6 (tối 24/6 giờ Hà Nội), sau khi nó đã được cả Hạ viện và Thượng viện thông qua.
Tuyên bố hủy kế hoạch được ông Trump đưa ra chỉ một giờ trước lễ ký. Khi chưa có chữ ký của Tổng thống, dự luật sẽ không có hiệu lực.
Dự luật này đề ra các quy định hạn chế khả năng đầu cơ nhà, giảm bớt một số quy định cấp phép liên bang để thúc đẩy xây dựng dự án nhà ở mới, đồng thời cho phép triển khai các chương trình thí điểm nhằm hỗ trợ tài trợ cải tạo nhà và quy hoạch nhà ở giá rẻ.
Dự luật được đưa ra trong lúc đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử giữa kỳ tháng 11 và vấn đề khả năng mua nhà được dự đoán là mối quan tâm lớn của cử tri.
Đạo luật Cứu nước Mỹ mà ông Trump nhắc tới là dự luật do các nghị sĩ Cộng hòa đề xuất, yêu cầu cử tri khi đăng ký phải có bằng chứng để chứng minh quốc tịch Mỹ, đồng thời khi đi bỏ phiếu cấp liên bang phải đem theo giấy tờ tùy thân có ảnh.
Dự luật cũng yêu cầu các bang chuyển giao danh sách cử tri cho chính phủ. Dự luật đã thất bại tại Thượng viện và bị phe Dân chủ chỉ trích là nỗ lực nhằm ngăn chặn việc bỏ phiếu tại các cộng đồng có xu hướng ủng hộ đảng này.
Tổng thống Mỹ có 10 ngày để quyết định ký thông qua hay phủ quyết dự luật The 21st Century Road to Housing. Đây là khoảng thời gian quá ngắn để quốc hội Mỹ có thể thông qua Đạo luật Cứu nước Mỹ như yêu cầu của ông Trump.
Tin Gốc: Vnexpress

