Đây là nội dung đáng chú ý được nêu trong bài viết của Thành ủy Hà Nội thuộc phần tài liệu kỷ yếu, hội thảo khoa học chủ đề “Xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức ngày 21.5 vừa qua.
Bên cạnh một số nội dung đã được Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Vũ Đại Thắng nêu tại hội thảo, bài viết của Thành ủy Hà Nội cũng đưa ra thông tin nguồn lực và lộ trình thực hiện đề án thí điểm xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa tại thủ đô.
Cụ thể, đối với nguồn lực, phương thức huy động và sử dụng nguồn lực được phân định rõ nguồn lực từ ngân sách nhà nước, nguồn lực xã hội hóa, cơ chế thu hút nhà đầu tư, cơ chế phối hợp giữa các cấp, các ngành.
Hà Nội nghiên cứu mô hình tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phù hợp để bảo đảm tập trung, thống nhất, sát việc, sát cơ sở trong suốt quá trình triển khai đề án.
Nguồn lực thực hiện trên địa bàn đề án đề xuất lựa chọn triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” theo kế hoạch đầu tư công trung hạn (2026 – 2030) là 9.763,755 tỉ đồng và vốn ngoài ngân sách nhà nước là 181.517 tỉ đồng.
Thành ủy Hà Nội nêu rõ, về mục tiêu của đề án được xây dựng theo hướng xác định toàn bộ các xã, phường của thành phố áp dụng các tiêu chí phù hợp với địa phương mình để triển khai.
Thành phố lựa chọn địa bàn thí điểm để làm cơ sở thực tiễn tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá hoàn thiện tiêu chí để thực hiện trong toàn thành phố.
Việc nghiên cứu, xây dựng tiêu chí lựa chọn triển khai thí điểm mô hình “xã, phường xã hội chủ nghĩa” theo nguyên tắc bảo đảm cân đối giữa tính đại diện và tính khả thi; không lựa chọn địa bàn quá đặc thù hoặc quá khó khăn để triển khai.
Ưu tiên địa bàn có điều kiện triển khai đồng bộ các nội dung của đề án, đặc biệt là khả năng tổ chức lại không gian phát triển; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương, có cam kết chính trị cao trong tổ chức thực hiện.
Lựa chọn thí điểm địa bàn theo tiêu chí lựa chọn xã, phường thí điểm được xây dựng: có điều kiện tổ chức không gian phát triển, còn nhiều dư địa phát triển; có vị trí tương đối độc lập, thuận lợi kết nối với các trục giao thông chính, hành lang xanh, hệ thống sông hồ và các không gian chức năng liên quan để bảo đảm tính khả thi và khả năng nhân rộng mô hình.
Việc lựa chọn địa bàn thí điểm không chỉ dựa trên các điều kiện hiện có mà còn chú trọng yếu tố động, đặc biệt là năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện và mức độ sẵn sàng đổi mới của hệ thống chính trị cơ sở, qua đó bảo đảm địa bàn được lựa chọn không chỉ “có điều kiện” mà thực sự “khả thi”, tạo ra kết quả thực chất và có khả năng lan tỏa, nhân rộng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Ngày 17.7, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cà Mau tổ chức Hội nghị công bố các quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác cán bộ.
Tại hội nghị, ông Phan Thanh Duy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Cà Mau, công bố quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc chỉ định nhân sự tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ 2025-2030 gồm 9 người: bà Võ Thị Ngọc Hân, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau; ông Dương Văn Thạnh, Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh; ông Lâm Hồ Sỹ, Giám đốc Báo và Phát thanh - Truyền hình tỉnh; ông Phạm Tuấn Tài, Phó chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, Bí thư Tỉnh đoàn; ông Lê Văn Ngời, Chánh văn phòng UBND tỉnh; ông Nguyễn Thanh Liêm, Viện trưởng Viện KSND tỉnh; ông Võ Kế Nghiệp, Chánh án TAND tỉnh; ông Trần Văn Trung, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Hòa Thành; ông Đoàn Việt Khoa, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Nguyễn Phích.
Phát biểu giao nhiệm vụ, ông Nguyễn Hồ Hải, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau, đề nghị các tân ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhanh chóng bắt nhịp công việc, phát huy năng lực, cùng tập thể lãnh đạo thực hiện các mục tiêu phát triển của tỉnh.
Ông Nguyễn Hồ Hải yêu cầu tập trung xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; thúc đẩy phát triển kinh tế, trọng tâm là chuyển đổi số và hoàn thành các chỉ tiêu chiến lược Trung ương giao.
Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau nhấn mạnh yêu cầu giữ vững tinh thần đoàn kết, nêu gương và cùng Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2025 - 2030, cũng như Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Thay mặt các cán bộ vừa được chỉ định, ông Đoàn Việt Khoa cam kết cùng Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2025 - 2030. Trước mắt là hoàn thành các chỉ tiêu năm 2026, trong đó tập trung thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số và tiếp tục nâng cao năng lực công tác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Đưa mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan tiến lên những nấc thang mới

Trả lời phỏng vấn báo chí về những điểm nhấn trọng tâm trong chuyến thăm chính thức Thái Lan sắp tới của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, Đại sứ Thái Lan tại Việt Nam Urawadee Sriphiromya khẳng định đây là chuyến thăm hết sức quan trọng.
"Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của nhà lãnh đạo cấp cao nhất Việt Nam tới Thái Lan sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV và sau khi bộ máy lãnh đạo mới của Việt Nam được kiện toàn. Thái Lan vinh dự là quốc gia ASEAN đầu tiên mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tới thăm trước khi tiếp tục chuyến công du đến các nước khác trong khu vực", Đại sứ Urawadee Sriphiromya khẳng định.
Bà Urawadee Sriphiromya cho biết, đã khá lâu hai nước mới có chuyến thăm ở cấp cao nhất, do đó, sự kiện này nhận được nhiều kỳ vọng không chỉ từ phía Chính phủ mà còn từ nhân dân hai nước, đặc biệt là cộng đồng người Thái gốc Việt. Diễn ra đúng vào năm hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1976 - 2026), chuyến thăm phản ánh sâu sắc sự tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và tình cảm thân thiết giữa hai quốc gia.
Về mặt chiến lược, thành tựu cốt lõi của chuyến thăm sẽ là việc thảo luận chi tiết để thông qua Kế hoạch Hành động (POA) giai đoạn 2026 - 2031, nhằm hiện thực hóa khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện. Đây là một kế hoạch toàn diện, bao trùm trên mọi phương diện hợp tác để hai nước cùng nhau hỗ trợ, đạt được an ninh, hòa bình và thịnh vượng chung.
Trong bối cảnh môi trường quốc tế đầy thách thức, việc các nhà lãnh đạo trực tiếp trao đổi, tham vấn góp phần tạo sự tin cậy cho cả hai bên, nhằm giải quyết các bài toán như an ninh năng lượng, an ninh lương thực và tội phạm xuyên quốc gia. Đại sứ Thái Lan tin tưởng chuyến thăm sẽ gặt hái những kết quả hết sức tốt đẹp.
"Chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chắc chắn sẽ làm sâu sắc thêm tình hữu nghị bền chặt lâu đời và đưa mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan tiến lên những nấc thang mới, đóng góp thiết thực vào một ASEAN tự cường và thịnh vượng", Đại sứ Urawadee Sriphiromya khẳng định.
Điểm lại những thành tựu nổi bật trong quan hệ hai nước thời gian gần đây, Đại sứ Thái Lan khẳng định, quan hệ hợp tác song phương đang ở giai đoạn phát triển tốt đẹp nhất từ trước đến nay và tiếp tục được nâng lên tầm cao mới qua từng năm.
Năm ngoái, hai bên đã nhất trí nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện, cấp độ hợp tác cao nhất mà Việt Nam thiết lập với các quốc gia khác.
Về kinh tế, bất chấp các cú sốc toàn cầu, thương mại song phương vẫn tăng trưởng mạnh mẽ, hiện đã vượt mốc 23 tỉ USD và đang tiến sát mục tiêu 25 tỉ USD.
Về đầu tư, Thái Lan đã tăng từ vị trí thứ 9 lên thứ 8 trong số các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Điều này phản ánh niềm tin vững chắc của khu vực tư nhân Thái Lan vào các chính sách tạo môi trường thuận lợi của Chính phủ Việt Nam.
"Tôi đã nghe nhiều doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam từ 40 năm trước chia sẻ rằng họ rất hài lòng và cho rằng, quan hệ giữa hai nước đang ở giai đoạn gần gũi, gắn bó nhất từ trước tới nay", bà Urawadee Sriphiromya nói.
Bên cạnh kinh tế, giao lưu nhân dân là nền tảng vô cùng vững chắc. Lượng khách du lịch giữa hai nước tăng trưởng đáng kể. Hợp tác an ninh - quốc phòng cũng ghi nhận dấu ấn khi tàu Hải quân Hoàng gia Thái Lan thực hiện chuyến thăm cảng TP.HCM sau 11 năm gián đoạn, nhằm chào mừng 50 năm quan hệ ngoại giao, minh chứng cho sự tin cậy chiến lược ngày càng cao.
Hợp tác kinh tế giữa hai nước mang tính bổ trợ lẫn nhau và hiện được định hình bởi chiến lược "ba kết nối": kết nối chuỗi cung ứng, kết nối kinh tế địa phương và kết nối phát triển bền vững.
Về chuỗi cung ứng, hai nước đang hướng tới sự chuyển dịch từ các sản phẩm cơ khí truyền thống sang công nghệ cao. Quá trình này được hỗ trợ bởi hệ thống hạ tầng đang hoàn thiện rất nhanh của Việt Nam, từ cảng biển nước sâu, đường sắt Bắc - Nam đến các sân bay quốc tế.
Về phát triển bền vững, doanh nghiệp Thái Lan đang đầu tư xây dựng các khu công nghiệp xanh đạt chuẩn quốc tế tại Việt Nam, đồng bộ từ nguồn điện, nước đến xử lý chất thải nhằm thu hút các dòng vốn đầu tư xanh nước ngoài.
Trong lĩnh vực bán lẻ, các tập đoàn Thái Lan đang đóng vai trò bệ phóng đưa nông sản, hàng hóa Việt Nam tiêu thụ nội địa, tiếp cận thị trường Thái Lan và xuất khẩu sang các chuỗi siêu thị tại châu Âu.
Thái Lan cũng mong muốn hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực hàng không, cụ thể là dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa và đại tu máy bay (MRO), dựa trên nền tảng các hãng hàng không như VietJet đã hoạt động tại Thái Lan hơn 10 năm.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong thời đại thuật toán, điều đáng lo không chỉ là tin giả, mà còn là khả năng một nhóm nhỏ có tổ chức tạo ra cảm giác về một "đa số", từ đó chiếm dụng danh nghĩa nhân dân để áp đặt nhận thức và gây sức ép lên đời sống xã hội.
Trong lịch sử Việt Nam, tư tưởng "lấy dân làm gốc" luôn là một bài học lớn về dựng nước và giữ nước. Nhân dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển mà còn là chủ thể sáng tạo lịch sử, là nguồn sức mạnh, trí tuệ và sự chính danh của mọi quyết sách liên quan đến vận mệnh quốc gia.
Bởi vậy, tiếng nói của nhân dân luôn mang một sức nặng đặc biệt. Nhiều sáng kiến đúng đắn bắt đầu từ thực tiễn nhân dân; nhiều bất cập chỉ được nhìn thấy đầy đủ khi người dân lên tiếng. Nhưng cũng chính vì có sức mạnh đặc biệt ấy, danh nghĩa "tiếng nói của nhân dân" có thể bị lợi dụng.
Trên không gian mạng, không khó để bắt gặp những cá nhân, hội nhóm hoặc mạng lưới tài khoản tự nhận mình đại diện cho "người dân", "cộng đồng", "công lý" hay "sự thật". Họ có thể khởi đầu bằng những nội dung tích cực để tạo dựng uy tín. Khi đã hình thành được một lượng người theo dõi đủ lớn, họ bắt đầu lồng ghép cách diễn giải có chủ đích, lựa chọn thông tin có lợi cho một kết luận đã định trước, đồng thời loại bỏ những dữ kiện bất lợi.
Đó thường là sự pha trộn tinh vi giữa sự thật và suy diễn, giữa sự kiện với bình luận, giữa dữ liệu có thật với một bối cảnh đã bị cắt bỏ. Chính vì chứa một phần sự thật nên thông tin ấy càng dễ được tin. Sau đó, mạng lưới tài khoản ảo, bình luận lặp lại, chia sẻ có tổ chức và quảng cáo trả phí cùng tham gia khuếch đại nội dung. Người dùng bước vào một trang mạng rất dễ hình thành cảm giác rằng: "Mọi người đều nghĩ như vậy". Nhưng "mọi người" đôi khi chỉ là một hiệu ứng được dàn dựng.
Sự im lặng của những người có cách nhìn thận trọng lại khiến quan điểm đang chiếm ưu thế càng có vẻ mạnh hơn thực tế. Một nhóm nhỏ nhưng hoạt động liên tục có thể tạo cảm giác về một đa số áp đảo. Cuối cùng, xã hội nhìn thấy một "dư luận thống nhất", trong khi trên thực tế rất nhiều người chưa từng được hỏi. Điều nguy hiểm vì thế không chỉ là một nhóm người nói quá lớn, mà còn là rất nhiều người khác không còn cảm thấy an toàn để nói.
Khi người dùng chủ yếu gặp những nội dung phù hợp với niềm tin sẵn có, họ dễ tưởng rằng thế giới bên ngoài cũng đồng nhất với "buồng vang thông tin" của mình. Lấy số lượng bài đăng hoặc lượt tương tác để suy ra quan điểm của toàn xã hội chứa đựng nhiều sai lệch. Trên mạng xã hội, sự nổi tiếng của một nội dung không chỉ phụ thuộc vào số người quan tâm tự nhiên, mà còn phụ thuộc vào thiết kế nền tảng, khả năng chi trả quảng cáo, kỹ thuật tối ưu nội dung, mạng lưới phân phối và cách thuật toán đánh giá khả năng tạo tương tác.
Do đó, một chủ đề "thịnh hành" chưa chắc là vấn đề được đông đảo nhân dân quan tâm nhất. Nó có thể chỉ là nội dung tạo ra nhiều phản ứng nhất trong một khoảng thời gian. Một lượt chia sẻ không đồng nghĩa với một lá phiếu. Một bình luận không đồng nghĩa với một quan điểm đã được suy nghĩ chín chắn. Một chủ đề thịnh hành càng không thể tự động trở thành sự ủy quyền của nhân dân.
Các nhà nghiên cứu sử dụng khái niệm "tuyên truyền điện toán" và "astroturfing" (tạo dựng một phong trào quần chúng giả) để mô tả việc sử dụng các tài khoản hoặc bình luận giả danh công dân bình thường nhằm tạo ấn tượng rằng một quan điểm đang nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Trong đời sống mạng, những dấu hiệu ấy không khó nhận ra: hàng loạt tài khoản mới lập cùng đăng một nội dung; các bình luận sử dụng những cụm từ gần như giống nhau; một vấn đề bất ngờ được đẩy lên thành làn sóng; mọi ý kiến yêu cầu cung cấp chứng cứ đều bị công kích.
Điều đáng lo là dư luận được tạo dựng có thể gây ảnh hưởng ngược trở lại đời sống thực. Các nhà hoạch định chính sách có thể bị đặt trước một bức tranh sai lệch về nhu cầu xã hội. Nếu quyết sách công chỉ chạy theo những làn sóng tương tác, chúng ta có nguy cơ lấy tâm trạng tức thời thay cho lợi ích lâu dài, lấy tiếng nói của nhóm hoạt động tích cực nhất thay cho sự đa dạng của nhân dân.
Dân chủ không chỉ cần khả năng phát ngôn. Dân chủ còn cần một không gian chung, nơi các phát ngôn được gặp nhau, kiểm chứng và tranh luận. Đó cũng là ranh giới giữa tiếng nói của nhân dân và tiếng ồn của đám đông. Tiếng nói của nhân dân được hình thành qua trải nghiệm, thông tin, đối thoại và cân nhắc lợi ích chung. Tiếng ồn của đám đông chỉ cần sự đồng thanh, kể cả khi sự đồng thanh ấy được sản xuất bằng kỹ thuật.
Không thể chống lại sự chiếm dụng "tiếng nói của nhân dân" bằng cách thu hẹp quyền phát biểu của người dân. Trái lại, xã hội càng cần những cơ chế để tiếng nói thực sự của nhân dân được thể hiện đầy đủ, đa chiều và có khả năng tác động thực chất đến quá trình hoạch định, thực thi chính sách.
Trước hết, cần phân biệt ba cấp độ thường bị trộn lẫn trên không gian mạng: tín hiệu xã hội, tâm trạng xã hội và ý chí của nhân dân. Một chủ đề được nhiều người thảo luận là tín hiệu cần quan tâm. Nhưng để xác định nguyện vọng thực sự của nhân dân cần những phương thức đáng tin cậy hơn: khảo sát có tính đại diện, tham vấn chính sách, đối thoại trực tiếp, tiếp xúc cử tri, phản ánh từ cơ sở, ý kiến chuyên gia và dữ liệu thực tiễn.
Một chính quyền biết lắng nghe không phải là chính quyền chạy theo mọi làn sóng, mà là chính quyền có năng lực tiếp nhận tín hiệu, kiểm tra sự thật, xác định đúng vấn đề và phản hồi minh bạch. Khi người dân thấy rằng ý kiến chính đáng được tiếp nhận qua những kênh rõ ràng, được giải trình bằng lý lẽ, nhu cầu tìm đến những "người đại diện tự phong" cũng sẽ giảm đi. Đối thoại thực chất chính là cách tốt nhất để không ai có thể độc quyền danh nghĩa nhân dân.
Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13.7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ một trong những khoảng trống lớn là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trên môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền tảng và nội dung số. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, thách thức đối với "quyền dẫn dắt giá trị". "Quyền dẫn dắt giá trị" trước hết là khả năng tạo ra môi trường để sự thật, điều tốt đẹp và những tiếng nói có trách nhiệm có đủ sức hấp dẫn, độ tin cậy và khả năng hiện diện.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, nâng cao năng lực tự chủ, khả năng định hướng và "sức đề kháng" của nền văn hóa dân tộc; để không gian số trở thành nơi văn hóa Việt Nam hiện diện, lan tỏa và tham gia định hướng giá trị xã hội. Chủ quyền văn hóa trên không gian số còn là năng lực của xã hội trong việc nhận biết đâu là nhu cầu thực, đâu là nhu cầu được kích thích; đâu là dư luận tự nhiên, đâu là dư luận được tạo dựng.
Một xã hội có sức đề kháng là xã hội không dễ trao quyền đại diện cho người nói lớn nhất; biết đòi hỏi chứng cứ trước những tuyên bố nhân danh số đông; biết bảo vệ quyền lên tiếng của thiểu số; và không để tâm lý sợ bị cô lập biến sự im lặng thành một lá phiếu giả cho đám đông.
Để làm được điều đó, các cơ quan nhà nước cần hiện đại hóa công tác nắm bắt dư luận xã hội, kết hợp theo dõi xu hướng trên nền tảng số với điều tra xã hội học, dữ liệu từ cơ sở, tham vấn đại diện và đối thoại với những nhóm chịu tác động trực tiếp. Báo chí chính thống cũng cần góp phần phục hồi không gian thảo luận chung. Giá trị của báo chí không nằm ở việc lặp lại tiếng nói đang áp đảo, mà ở khả năng làm xuất hiện một bức tranh đầy đủ hơn. Các nền tảng số phải minh bạch hơn về quảng cáo, nội dung được tài trợ và các hành vi phối hợp không xác thực.
Đồng thời, cần bảo vệ quyền tồn tại của những ý kiến không phổ biến. Văn hóa đối thoại đòi hỏi con người không chỉ học cách nói mà còn học cách nghe những điều khác với niềm tin của mình. Trong kỷ nguyên số, truyền thống văn hóa Việt Nam đề cao tinh thần cộng đồng cần được chuyển hóa thành một văn hóa tranh luận mới: không lấy số lượng người theo dõi thay cho lý lẽ; không lấy sự lặp lại thay cho bằng chứng; không lấy khả năng gây áp lực thay cho tính chính danh; và không cho phép bất kỳ nhóm nào tự nhận mình là toàn thể nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng trong phát triển văn hóa. Nhân dân phải được nhìn nhận trong sự đa dạng, chủ động và sáng tạo, chứ không phải như một khối đám đông chỉ biết hưởng ứng những thông điệp được chuẩn bị sẵn.
Tiếng nói của nhân dân là một bản hòa âm gồm nhiều trải nghiệm, lợi ích và góc nhìn khác nhau. Bản hòa âm ấy chỉ có ý nghĩa khi không có ai bí mật điều khiển dàn nhạc, không có tiếng nói nào bị loại bỏ chỉ vì nhỏ hơn và không có một nhóm nào tự nhận tiếng nói của mình là toàn bộ bản nhạc. Sự đồng thuận xã hội chỉ có thể được xây dựng bằng sự thật, công bằng, minh bạch và hiệu quả thực tiễn.
Bảo vệ "tiếng nói của nhân dân" chính là bảo vệ tính chân thực của quá trình hình thành dư luận; không để thuật toán thay thế đối thoại, không để tài khoản ảo thay thế công dân và không để một thiểu số có tổ chức chiếm dụng danh nghĩa của cộng đồng. Sức mạnh của tiếng nói nhân dân nằm ở sự thật của đời sống, ở chiều sâu của lòng dân và ở khả năng hướng xã hội tới những giá trị chung.
Tin Gốc: Thanh Niên

