Theo bác sĩ Chu Thị Dung, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM – cơ sở 3, nước hầm xương vẫn là món ăn bổ dưỡng, giúp nước dùng có vị ngọt tự nhiên, dễ ăn và kích thích khẩu vị. Tuy nhiên, nếu cho rằng hầm xương nhiều giờ sẽ tạo ra nguồn canxi dồi dào để bổ xương thì quan niệm này chưa phù hợp với các bằng chứng khoa học hiện nay.
Bác sĩ Dung cho biết canxi nằm trong cấu trúc cứng của xương nên không dễ hòa tan vào nước khi nấu. Thời gian hầm, độ chua của nước, loại xương và tỷ lệ xương – nước đều có thể ảnh hưởng đến lượng canxi được giải phóng, nhưng hầm lâu không đồng nghĩa có thể “lấy hết canxi” từ xương.
Một số nghiên cứu cho thấy nấu lâu hơn hoặc trong môi trường hơi axit có thể làm tăng lượng khoáng chất hòa tan vào nước. Tuy nhiên, lượng canxi thu được vẫn khá thấp so với nhu cầu hằng ngày.
Nghiên cứu năm 2024 phân tích 30 mẫu nước dùng từ bò, heo, gia cầm, cá và rau củ cho thấy mỗi khẩu phần 250 ml nhìn chung chỉ cung cấp dưới 5% nhu cầu canxi, sắt, đồng và magiê mỗi ngày. Hàm lượng khoáng chất có thể thay đổi tùy nguyên liệu và cách chế biến, nhưng nghiên cứu không ủng hộ quan niệm nước hầm thông thường là nguồn canxi dồi dào.
Bên cạnh đó, theo bác sĩ Dung, màu trắng đục của nước dùng chủ yếu do chất béo và protein được phân tán thành các hạt rất nhỏ trong quá trình đun sôi, tạo thành dạng nhũ tương. Còn độ sánh của nước dùng thường đến từ gelatin tiết ra từ da, gân, sụn và mô liên kết. Những yếu tố này tạo nên màu sắc, kết cấu và hương vị của nước dùng, nhưng không phản ánh hàm lượng canxi. Vì vậy, nước hầm càng trắng hay càng sánh không có nghĩa là chứa nhiều canxi.
Bác sĩ Dung cho hay, một số nhóm người sau cần chú ý hơn khi sử dụng nước hầm xương, đặc biệt nếu có mục đích chính là “bồi bổ” hoặc “bổ sung canxi”:
Trẻ nhỏ: Nước hầm xương có thể được dùng để tạo vị cho cháo, bột hoặc món canh. Tuy nhiên, trẻ vẫn cần được ăn cả phần thịt, cá, trứng, đậu, rau và chất béo phù hợp với độ tuổi, vì nước canh không thể thay thế phần thức ăn đặc.
Người lớn tuổi, phụ nữ sau mãn kinh hoặc người có nguy cơ loãng xương: Sức khỏe xương phụ thuộc vào nhiều yếu tố, gồm lượng canxi và vitamin D trong khẩu phần, protein, vận động, sức mạnh cơ, tình trạng nội tiết, thuốc đang sử dụng và nguy cơ té ngã. Do đó, không nên chỉ dựa vào nước hầm xương để bổ sung canxi.
Người bệnh gút: Nên thận trọng với nước dùng đậm đặc, đặc biệt khi được nấu với nhiều thịt, nội tạng hoặc các nguyên liệu giàu purin (có trong thịt và nhiều mô động vật). Điều chỉnh chế độ ăn là một phần của quá trình quản lý bệnh gút nhưng không thay thế thuốc hạ axit uric hoặc thuốc điều trị cơn gút khi đã có chỉ định.
Người mắc bệnh thận: Không có một quy tắc chung rằng tất cả người mắc bệnh thận đều phải kiêng nước hầm xương. Tùy theo giai đoạn bệnh, kết quả xét nghiệm và bệnh lý đi kèm, người bệnh có thể cần điều chỉnh lượng natri, kali, phospho hoặc protein trong khẩu phần.
Theo bác sĩ Dung, nước hầm xương có thể được dùng như một món canh thông thường trong chế độ ăn đa dạng. Không cần hầm liên tục trong thời gian quá dài với suy nghĩ càng lâu thì càng lấy được nhiều canxi.
Khi chế biến, nên chọn xương và thịt có nguồn gốc rõ ràng. Người cần kiểm soát cân nặng hoặc mỡ máu có thể hạn chế phần da, thịt mỡ và tủy, đồng thời loại bỏ bớt lớp mỡ trên bề mặt sau khi nấu.
Canh nên được nấu cùng rau củ và sử dụng cả phần thực phẩm phù hợp, thay vì chỉ chắt lấy nước. Cần nêm nhạt, hạn chế gia vị chứa nhiều natri và không cô đặc nước dùng để uống như một sản phẩm bổ sung dinh dưỡng.
Muốn bảo vệ sức khỏe xương, điều cần ưu tiên vẫn là duy trì chế độ ăn đa dạng, cung cấp đủ canxi, vitamin D và protein, kết hợp với vận động phù hợp.
Theo thông tin từ Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Sơn La, trên địa bàn bản Nà Hiên (xã Phiêng Pằn, Sơn La) vừa xảy ra vụ nghi ngộ độc thực phẩm do ăn nấm rừng, khiến 1 người tử vong, 5 người khác đang được điều trị tích cực.
Trước đó khoảng 11h30 ngày 2-5, tại nhà của gia đình bà Lò Thị Phương ở bản Nà Hiên, có 24 người cùng ăn bữa trưa với các món gồm thịt chó hấp, ngan luộc, canh măng khô, rượu cần và rượu trắng.
Sau bữa ăn, có 6 người ra khu vực sàn ngoài nhà tiếp tục ăn thêm canh nấm hái từ tự nhiên.
Đến khoảng 20h cùng ngày, những người ăn canh nấm bắt đầu xuất hiện triệu chứng đau bụng, buồn nôn, nôn nhiều lần, đi ngoài...
Sau khi xuất hiện các triệu chứng ngộ độc kéo dài, đến khoảng 10h ngày 4-5, nạn nhân V.T.D. (16 tuổi) đã tử vong tại nhà.
5 người còn lại có biểu hiện ngộ độc đã được đưa đi cấp cứu và điều trị.
Trong đó, 4 trường hợp được chuyển từ Bệnh viện Đa khoa khu vực Mai Sơn lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La, sau đó chuyển tuyến xuống Bệnh viện Bạch Mai để tiếp tục điều trị chuyên sâu.
Qua điều tra ban đầu, cơ quan chức năng xác định trong số 24 người cùng ăn bữa trưa, chỉ có 6 người ăn canh nấm bị ngộ độc, 18 người còn lại không ăn canh nấm thì cơ bản sức khỏe ổn định.
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Sơn La nhận định, thức ăn nghi là nguyên nhân gây ngộ độc là món canh nấm và tác nhân nghi ngờ do độc tố tự nhiên trong nấm rừng...
Theo National Kidney Foundation (Tổ chức Thận quốc gia Mỹ), thận vẫn duy trì hoạt động trong suốt giấc ngủ nhằm đảm bảo cân bằng dịch và điện giải cho cơ thể. Vì vậy, những thói quen trước khi đi ngủ có thể tác động trực tiếp đến chức năng của cơ quan này.
Không ít người có thói quen nhịn tiểu để tránh thức giấc giữa đêm. Tuy nhiên, theo bác sĩ Saurabh Sethi (Mỹ), việc giữ nước tiểu quá lâu có thể tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển trong đường tiết niệu.
Bác sĩ Saurabh Sethi cảnh báo: Nếu nhịn tiểu ban đêm thường xuyên, vi khuẩn có thể lan ngược lên thận, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và ảnh hưởng đến chức năng lọc.
Một số người có thói quen uống nhiều nước vào buổi tối để “thải độc”. Tuy nhiên, việc nạp quá nhiều nước trước khi ngủ có thể khiến thận phải hoạt động nhiều hơn vào ban đêm, đồng thời làm gián đoạn giấc ngủ.
Ngược lại, việc uống quá ít nước cũng không tốt. Theo bác sĩ Holly Kramer (chuyên gia thận học, Đại học Northwestern, Mỹ), tình trạng mất nước khiến nước tiểu cô đặc, làm tăng nguy cơ sỏi thận và ảnh hưởng đến khả năng đào thải của cơ thể, theo Mayo Clinic (Mỹ).
Các chuyên gia khuyến nghị, thay vì uống dồn nhiều nước trước giờ ngủ, nên phân bổ lượng nước đều trong ngày để thận hoạt động ổn định hơn.
Chế độ ăn buổi tối cũng tác động đáng kể đến thận. Tiêu thụ nhiều muối có thể làm tăng huyết áp - một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh thận mạn tính, theo trang Harvard Health Publishing (Mỹ).
Việc ăn mặn vào buổi tối khiến cơ thể giữ nước và làm tăng áp lực lên thận trong quá trình lọc máu.
Các chuyên gia nhấn mạnh, bảo vệ thận không cần những thay đổi quá lớn mà bắt đầu từ các thói quen nhỏ hằng ngày.
Không nhịn tiểu, uống nước vừa phải vào buổi tối và hạn chế ăn mặn là những cách đơn giản giúp giảm gánh nặng cho thận. Duy trì đều đặn các thói quen này có thể góp phần bảo vệ chức năng thận về lâu dài.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), "heat stress" (stress do nhiệt) hiện là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu liên quan đến thời tiết trên thế giới. Nhiệt độ cao có thể làm nặng thêm nhiều bệnh lý mạn tính, trong đó bệnh tim mạch là nhóm bị ảnh hưởng rõ rệt nhất. Một trong những điểm đáng chú ý nhất là số ca tử vong liên quan nắng nóng gia tăng nhanh chóng trong 2 thập niên qua. WHO dẫn các dữ liệu cho thấy giai đoạn 2000 - 2019 có khoảng 489.000 ca tử vong do nóng mỗi năm trên toàn cầu; riêng người trên 65 tuổi có tỷ lệ tử vong liên quan nhiệt độ tăng khoảng 85% trong những năm gần đây. Châu Á là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
Một nghiên cứu lớn đăng trên chuyên san The Lancet cho thấy nhiệt độ cao và các đợt nắng nóng liên quan rõ rệt với tăng tỷ lệ nhập viện và tử vong do bệnh tim mạch. Các đợt nắng nóng làm tăng khoảng 11,7 - 20% nguy cơ tử vong liên quan bệnh tim mạch, đặc biệt ở người trên 65 tuổi, phụ nữ và những người sống tại các nước khí hậu nhiệt đới. Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy với mỗi độ C tăng, nguy cơ tử vong tim mạch có thể tăng khoảng 2,1%, còn nguy cơ biến cố tim mạch cấp như rối loạn nhịp, đột quỵ và suy tim tăng tới 6 - 7%, phản ánh tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe tim mạch toàn cầu.
Tại VN, tuy chưa có những thống kê toàn diện, nhưng các bệnh viện, trung tâm tim mạch lớn đều ghi nhận số ca nhập viện do đột quỵ, suy tim và tăng huyết áp thường gia tăng trong các đợt nắng nóng kéo dài. Tại Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8, trong những ngày nắng nóng vừa qua, số bệnh nhân nhập viện tăng khoảng 20 - 30% so với những tuần trước đó.
Khi thời tiết quá nóng, cơ thể phải tăng cường cơ chế tản nhiệt bằng cách giãn mạch máu dưới da và tăng tiết mồ hôi. Điều này khiến tim phải làm việc nhiều hơn để duy trì huyết áp và đưa máu đi khắp cơ thể. Nếu kéo dài, tim sẽ rơi vào trạng thái "quá tải", đặc biệt ở những người có bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, suy tim hoặc rối loạn nhịp tim.
Không chỉ nhiệt độ cao, độ ẩm lớn cũng khiến cơ thể khó thoát nhiệt hơn, làm tăng nguy cơ mất nước, tụt huyết áp, cô đặc máu và hình thành huyết khối. Đây là lý do các bác sĩ tim mạch thường cảnh báo nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim cấp gia tăng trong các đợt nắng nóng kéo dài.
Đáng chú ý, nhiều loại thuốc tim mạch có thể làm cơ thể nhạy cảm hơn với nhiệt độ cao. Thuốc lợi tiểu có thể gây mất nước; một số thuốc hạ huyết áp làm tụt huyết áp mạnh hơn trong thời tiết nóng; thuốc chẹn beta có thể ảnh hưởng khả năng thích nghi của cơ thể với nhiệt độ. Vì vậy, người bệnh tuyệt đối không tự ý ngừng hoặc đổi thuốc mà cần trao đổi với bác sĩ điều trị nếu thấy mệt nhiều, chóng mặt hoặc tụt huyết áp trong mùa nóng.