Mới đây, Công ty cổ phần Vinhomes (VHM) công bố việc chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản. Doanh nghiệp cho biết chính sách này góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng, gia tăng thanh khoản cho thị trường bất động sản.
Đối với doanh nghiệp bất động sản, trong bối cảnh thị trường phục hồi, lượng tồn kho lớn có thể xem là nguồn cung dự trữ cho các đợt mở bán tiếp theo. Khi dự án hoàn thiện pháp lý và đủ điều kiện ghi nhận doanh thu, phần tồn kho này sẽ dần được chuyển hóa thành doanh thu và dòng tiền.
Nếu thử quy đổi theo giá vàng, quy mô nguồn cung dự trữ này của các doanh nghiệp lớn có cho thấy điểm thú vị.
Thống kê tại 7 đơn vị lớn gồm Vinhomes, Novaland, Nam Long, Khang Điền, Phát Đạt, Sunshine, Văn Phú cho thấy tổng giá trị hàng tồn kho cuối quý 1-2026 ở mức 366.537 tỉ đồng, tăng 3,7% so với cuối năm 2025. Với mức giá 173 triệu đồng/lượng, quy mô tổng lượng tài sản này vào khoảng 2.118.710 lượng vàng, tương đương 79,4 tấn vàng (1 lượng vàng bằng 0,0375 kg vàng).
Cụ thể hơn, hàng tồn kho của Vinhomes tăng từ 131.415 tỉ đồng thời điểm cuối năm 2025 lên 138.885 tỉ đồng tại ngày 31-3-2026, tương đương tăng 5,7%. Phần lớn trong số này là bất động sản để bán đang xây dựng, ghi nhận từ tiền sử dụng đất, chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí xây dựng và phát triển các dự án lớn như Vinhomes Global Gate Hạ Long, Vinhomes Green Paradies,…
Nếu quy đổi theo giá vàng tại thời điểm cuối quý 1 như trên, hàng tồn kho của Vinhomes được ước lượng khoảng 802.803 lượng vàng. Trong khi đó, với giá vàng khoảng 150 triệu đồng/lượng cuối năm 2025, giá trị hàng tồn kho tương đương khoảng 876.100 lượng vàng. Nếu theo cách tính này, khoản mục này lại giảm khoảng 8,4%.
Công ty cổ phần tập đoàn đầu tư địa ốc No Va (Novaland – NVL) có hàng tồn kho tại thời điểm cuối quý 1-2026 ở mức 154.609 tỉ đồng, tăng nhẹ 0,8% so với cuối năm 2025. Phần lớn giá trị nằm ở hạng mục bất động sản để bán đang xây dựng. Tuy nhiên, Novaland không ghi chi tiết về các hạng mục dự án như Vinhomes.
Ước tính theo giá vàng tại cuối năm 2025 và cuối quý 1-2026, hàng tồn kho của Novaland tại lần lượt là 1.022.160 và 893.694 lượng vàng, giảm 12,6%.
Đơn vị có hàng tồn kho tăng mạnh nhất trong nhóm này là Công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh Nhà Khang Điền (KDH). Tại thời điểm cuối quý 1-2026, công ty này có 29.126 tỉ đồng hàng tồn kho, tăng 25,2% so với đầu kỳ. Hàng tồn kho tăng chủ yếu từ tăng chi phí triển khai dự án An Lập – Bình Trưng Đông.
Giá trị hàng tồn kho của Nhà Khang Điền nếu quy ra vàng ước tính khoảng 168.358 lượng vàng tại ngày 31-3-2026 và 155.067 lượng vàng tại thời điểm cuối năm 2025. Quy mô tăng lên khoảng 8,6%.
Một đơn vị khác cũng gia tăng hàng tồn kho trong quý 1 là Công ty cổ phần phát triển bất động sản Văn Phú (VPI). Hạng mục này ghi nhận 5.954 tỉ đồng tại cuối quý 1-2026, tăng 13,5% so với cuối năm 2025, chủ yếu do ghi nhận tăng tại dự án Vlasta Thuỷ Nguyên.
Tương tự các đơn vị khác, lượng tài sản này của Văn Phú tương đương cỡ 34.616 lượng vàng tại ngày 31-3-2026 và 34.967 lượng vàng tại 31-12-2025, giảm 1,6%.
Ở chiều ngược lại, Công ty cổ phần phát triển bất động sản Phát Đạt (PDR) có 15.062 tỉ đồng hàng tồn kho tại ngày 31-3, giảm 9,9%. Nguyên nhân do doanh nghiệp giảm ghi nhận tại dự án Thuận An 1 và Thuận An 2.
Nếu quy đổi ra vàng, giá trị hàng tồn kho của Phát Đạt tương đương lần lượt 87.064 lượng vàng tại cuối quý 1 và 111.433 lượng vàng thời điểm cuối năm ngoái.
Đại diện Ban quản lý dự án di tích Cố đô Huế (Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế) cho biết dự án tu bổ, phục hồi thích nghi điện Thoại Thánh thuộc quần thể lăng vua Gia Long đã được Hội đồng nhân dân thành phố Huế phê duyệt chủ trương đầu tư từ năm 2024.
Ngày 6/4, UBND thành phố Huế đã phê duyệt dự án với tổng mức đầu tư hơn 73 tỷ đồng, thời gian thực hiện 4 năm. Hội đồng nhân dân thành phố Huế đang xem xét thông qua kế hoạch giao đầu tư công vốn ngân sách nhà nước đợt 2 năm 2026.
Theo đại diện Ban quản lý dự án di tích Cố đô Huế, sau khi được bố trí vốn, chủ đầu tư sẽ lựa chọn nhà thầu để lập hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công, trình Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thẩm định, phê duyệt. Dự kiến, dự án sẽ được khởi công vào cuối tháng 7.
Theo tư liệu lịch sử, di tích điện Thoại Thánh được xây dựng từ năm 1811, là nơi thờ tự bà Nguyễn Thị Hoàn (1736-1811), tức Hiếu Khang Hoàng hậu, mẹ vua Gia Long - vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn.
Công trình nằm trong quần thể lăng vua Gia Long, trên dãy núi Thiên Thọ, làng Định Môn (nay thuộc địa giới hành chính phường Kim Long). Điện Thoại Thánh nằm trong một vòng thành dài 108m, rộng 63m. Chính điện gần giống điện Minh Thành (nơi thờ vua Gia Long và các Hoàng hậu), kiểu nhà kép, trước sau còn có các dãy nhà phụ nằm đối xứng ở hai bên trái, phải.
Các nhà nghiên cứu đánh giá, điện Thoại Thánh là công trình kiến trúc lăng tẩm tương đối quy cách, có giá trị cao về nghệ thuật kiến trúc và trang trí. Tuy nhiên, trải qua thời gian tồn tại kéo dài và các biến thiên lịch sử, di tích đã xuống cấp, hư hỏng nặng, các công trình chính đã đổ nát, thành “phế tích”.
Chính điện, nơi đặt án thờ Hiếu Khang Hoàng hậu và các công trình phụ đã bị sập nhiều năm, chỉ còn lại nền móng, cỏ dại mọc um tùm. Hệ thống tường thành của di tích trước đây cũng bị sập nhưng đã được tu bổ, phục hồi.
Theo lãnh đạo Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế, thời gian qua đơn vị đã tổ chức khảo sát, khai quật khảo cổ, sưu tầm tư liệu, hình ảnh và đề xuất giải pháp, báo cáo hội đồng tham vấn nghiên cứu khoa học cũng như lấy ý kiến các cơ quan chuyên môn, cộng đồng nhằm tu bổ, phục hồi điện Thoại Thánh.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ký ban hành nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết 730/2004 về phê chuẩn bảng lương chức vụ, bảng phụ cấp chức vụ với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước, bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ ngành tòa án, ngành kiểm sát.
Theo đó, nghị quyết sửa đổi, bổ sung bảng phụ cấp chức vụ đối với cán bộ lãnh đạo của Nhà nước và đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách.
Cụ thể, đối với ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hệ số là 1,1.
Nghị quyết cũng bổ sung phụ cấp đối với ủy viên của Ban của HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách. Theo đó, chức danh này HĐND TP.HCM, Hà Nội có mức phụ cấp với hệ số là 0,6, còn các tỉnh, thành khác có mức hệ số là 0,5.
Nghị quyết cũng bổ sung mức phụ cấp với các chức danh của HĐND xã, phường, đặc khu trực thuộc tỉnh, thành phố (gọi chung là cấp xã).
Trong đó, với chủ tịch HĐND cấp xã ở Hà Nội, TP.HCM có hệ số 0,7, còn ở các tỉnh, thành khác hệ số là 0,6.
Với phó chủ tịch HĐND cấp xã ở Hà Nội, TP.HCM có hệ số 0,6, còn ở các tỉnh, thành khác hệ số là 0,5.
Với trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp xã ở Hà Nội, TP.HCM có hệ số 0,35; còn ở các tỉnh, thành khác hệ số là 0,25.
Với các phó trưởng ban chuyên trách của HĐND cấp xã ở Hà Nội, TP.HCM là 0,2; còn ở các tỉnh khác hệ số là 0,1.
Hệ số với các chức danh lãnh đạo HĐND cấp xã được áp dụng từ 1-1-2026.
Nghị quyết nêu rõ cán bộ, công chức, viên chức khi chuyển công tác về giữ chức danh ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà hệ số phụ cấp chức vụ cao hơn hệ số phụ cấp chức vụ quy định tại nghị quyết này sẽ tiếp tục thực hiện bảo lưu theo quy định.
Sau khi hết thời gian bảo lưu, thực hiện theo quy định tại nghị quyết này.
Tương tự vậy, với chức danh ủy viên của Ban của HĐND cấp tỉnh là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách, lãnh đạo HĐND cấp xã đang bảo lưu hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo do tác động của việc sắp xếp tổ chức bộ máy hoặc sắp xếp đơn vị hành chính mà hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo được bảo lưu cao hơn so với hệ số phụ cấp chức vụ quy định tại nghị quyết này, được tiếp tục thực hiện bảo lưu theo quy định.
Sau khi hết thời hạn bảo lưu thì thực hiện theo quy định tại nghị quyết.
Riêng với chức danh lãnh đạo HĐND cấp xã trong thời gian từ 1-7-2025 đến trước 1-1-2026 chưa được hưởng hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo hoặc được bảo lưu hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo do tác động của sắp xếp tổ chức bộ máy hoặc sắp xếp đơn vị hành chính nhưng thấp hơn hệ số phụ cấp chức vụ quy định tại nghị quyết này, được truy lĩnh, truy nộp bảo hiểm xã hội theo hệ số phụ cấp tại nghị quyết từ ngày giữ chức vụ lãnh đạo.
Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 11-CT/TU về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng trong xây dựng văn hóa tiết kiệm, phòng chống lãng phí trên địa bàn thành phố.
Nội dung Chỉ thị số 11 cho biết việc xây dựng văn hóa tiết kiệm là xây dựng ý thức, thái độ, hành vi của mỗi tổ chức, mỗi cá nhân trong sử dụng thời gian, tài chính, tài sản và các nguồn lực xã hội; hình thành lối sống tiết kiệm, trách nhiệm; góp phần xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh.
Cạnh đó, việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí phải được thực hiện thường xuyên, tự giác, trở thành nếp văn hóa trong hoạt động của hệ thống chính trị và đời sống xã hội.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tình trạng lãng phí nguồn lực, thời gian, cơ hội phát triển vẫn còn diễn ra ở nhiều lĩnh vực, như quản lý ngân sách, tài sản công, đất đai, đầu tư công, tổ chức hội họp, sử dụng thời gian công vụ, ban hành văn bản…
Ngoài ra, một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa tiết kiệm; còn coi đây là nhiệm vụ hành chính, chưa trở thành ý thức tự giác. Việc phát hiện, xử lý hành vi lãng phí còn nể nang, né tránh; chế tài chưa đủ mạnh; văn hóa tiết kiệm chưa thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội.
Trong Chỉ thị số 11, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội yêu cầu quán triệt quan điểm xây dựng và thực hành văn hóa tiết kiệm là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Việc thực hiện phải bảo đảm đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực theo phương châm "6 rõ" (rõ mục tiêu - rõ đối tượng - rõ nội dung - rõ trách nhiệm - rõ lộ trình - rõ kết quả).
Kiên quyết khắc phục tư duy hình thức, né tránh trách nhiệm, "không làm cũng không sai"; coi chậm trễ, thiếu quyết đoán, bỏ lỡ cơ hội phát triển là một dạng lãng phí cần xử lý nghiêm.
Chỉ thị số 11 cũng yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; rà soát, chuẩn hóa quy trình xử lý công việc theo hướng rút ngắn thời gian, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ việc tổ chức hội họp, sử dụng thời gian công vụ; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, tăng tỷ lệ xử lý công việc trên môi trường số.
Chỉ thị số 11 nhấn mạnh việc cần tạo chuyển biến rõ nét trong các lĩnh vực có nguy cơ lãng phí lớn, như: quản lý, sử dụng đất đai, nhất là các dự án chậm triển khai; đầu tư công kéo dài, điều chỉnh nhiều lần; quản lý, sử dụng trụ sở, tài sản công; tổ chức hội nghị, lễ hội, sự kiện sử dụng ngân sách; kỷ luật hành chính và sử dụng thời gian công vụ.
Việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí được xác định là tiêu chí quan trọng trong đánh giá năng lực lãnh đạo, quản lý, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu; là căn cứ trong quy hoạch, bổ nhiệm, thi đua, khen thưởng và kỷ luật cán bộ.
Đặc biệt, người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp nếu để xảy ra lãng phí nghiêm trọng, kéo dài mà không phát hiện, xử lý kịp thời…