Với kỳ thi có tính cạnh tranh căng thẳng như kỳ thi vào lớp 10, yếu tố tâm lý và kỹ năng trong quá trình làm bài được đánh giá là rất quan trọng và đôi khi giúp thí sinh chiến thắng trong cuộc cạnh tranh giữa những học sinh (HS) có năng lực học tập tương đồng.
Thầy Nguyễn Cao Cường, Hiệu trưởng Trường THCS Thái Thịnh (Hà Nội), nhắc nhở: “Khi nhận đề, các em không vội làm bài ngay mà cần bình tĩnh đọc kỹ một hai lượt tổng thể cả đề, tư duy và ghi nhanh ra giấy nháp những tự lưu ý của bản thân về từng câu hỏi”. Theo thầy Cường, thường thì đề thi cũng đã sắp xếp thứ tự các nội dung từ dễ đến khó. Sau khi làm những câu hỏi dễ thì thực hiện làm các câu hỏi khó mang tính phân loại. HS cần có chiến lược cho các câu này về thời gian, quá 8 – 10 phút không có ý tưởng cần chuyển câu hỏi khác. Trong trường hợp không làm được cả câu, cần bóc tách các ý của câu hỏi để được điểm.
Khi còn 15 phút nữa là hết giờ làm bài, nếu HS không thể làm được tiếp các câu hỏi khó thì dành thời gian đó để kiểm tra lại toàn bộ bài làm. HS cần kiểm tra kết quả các câu hỏi độc lập ra ngoài nháp. Câu nào thấy sai, gạch trước bằng bút chì, kiểm tra kỹ thì mới gạch bỏ bằng bút mực và sửa, tránh trường hợp gạch phần đúng mà không có cơ hội sửa lại. Trước khi nộp bài, cần kiểm tra kỹ thông tin của mình trên tờ giấy thi như họ và tên, ngày sinh, số báo danh, số tờ giấy thi.
Cụ thể hơn, với môn toán trong buổi thi sáng 31.5, cô Lê Thị Hương, giáo viên Trường THCS Giảng Võ (Hà Nội), căn dặn dành thời gian để kiểm tra lại một lần nữa đáp án để tránh sai sót đáng tiếc rất quan trọng. Theo kinh nghiệm của cô Hương, HS thường bị mất điểm ở các phần như: sai điều kiện của ẩn, thiếu đơn vị, viết sai tên điểm, suy luận thiếu căn cứ, chưa đọc kỹ đề dẫn đến vẽ hình sai…
Cô Nguyễn Thu Thủy, giáo viên Trường THCS Lê Ngọc Hân (Hà Nội), chia sẻ: Nhiều HS chỉ làm bài thi một môn chưa tốt đã mất tinh thần cho những môn sau. Những lúc đó, bố mẹ hãy là người ở bên cạnh để động viên con tiếp tục. Một bài thi không được phép lấy hết tinh thần của cả một hành trình. Môn đã thi xong thì hãy khép nó lại, phía trước vẫn cần một tâm thế vững vàng và bố mẹ hãy trao cho con điều đó.
Cha mẹ cũng cần giúp con hiểu rằng: “Điểm số rất quan trọng, nhưng con còn quan trọng hơn điểm số”. Câu nói này, theo cô Thủy, không phải để con xem nhẹ kết quả mà để biết rằng giá trị của con không nằm ở một bài thi. Kỳ thi quan trọng, nhưng sức khỏe, tinh thần, sự cố gắng và hành trình trưởng thành của con cũng quan trọng không kém. Một đứa trẻ biết mình được yêu thương cả khi chưa hoàn hảo sẽ không vì thế mà lười đi, ngược lại, con có thêm sức mạnh để cố gắng, từ đó tốt hơn. Đừng đặt thêm gánh nặng lên vai con, hãy đặt vào đó một niềm tin vừa đủ và nếu có thể hãy nói với con một câu thật đời, thật gần gũi, thật tình cảm: “Thi xong dù thế nào, bố mẹ cũng ở đây và mình sẽ về nhà nghỉ ngơi, con nhé!”.
Theo cô Thủy, mỗi HS đều cần được biết rằng sau cánh cửa phòng thi vẫn có một gia đình, một nơi để trở về và có những người luôn thương yêu, mong chờ mình hơn mọi điểm số. Còn thầy Nguyễn Cao Cường thì khuyên HS sau mỗi buổi thi, cần dành thời gian nghỉ ngơi, chuẩn bị cho buổi thi sau.
Theo thống kê của Sở GD-ĐT Hà Nội, 615 thí sinh vắng mặt trong buổi làm thủ tục thi lớp 10 sáng 29.5, nhiều hơn 120 em so với năm ngoái. Trước đó, trong khoảng 147.000 HS lớp 9 xét tốt nghiệp năm nay, chỉ có gần 125.000 em đăng ký dự thi vào lớp 10 công lập. Sở GD-ĐT nhận định điều đó đồng nghĩa với việc khoảng 17.000 HS đã chủ động lựa chọn hướng đi khác như học nghề, học trường tư thục hoặc giáo dục thường xuyên. Thực tế này cho thấy, nhận thức của một bộ phận phụ huynh, HS đang dần thay đổi, khi trường công lập không còn là con đường duy nhất dẫn tới tương lai.
TP.HCM đã nêu dự kiến xây dựng phương án mở rộng xét tuyển học bạ vào lớp 10 từ năm học 2026 – 2027, hướng tới lộ trình phổ cập bậc THPT và bỏ dần kỳ thi tuyển sinh. Mục tiêu của định hướng này là giảm áp lực học tập và thi cử nặng nề cho HS. Hà Nội, nơi áp lực của kỳ thi này căng thẳng nhất, chưa nêu phương án nào giảm tải mạnh mẽ cho kỳ thi năm tới.
Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm, Phó chủ tịch Hội Khoa học tâm lý – giáo dục VN, cho rằng để nhanh chóng đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của người dân trong bối cảnh quy mô HS tăng nhanh là điều không dễ dàng. Theo ông, Hà Nội không thiếu chỗ học, vấn đề là người dân vẫn tập trung vào mục tiêu con phải học trường công lập. Chính điều đó tạo ra “cơn sốt” vào lớp 10 công lập nhiều năm nay. Đây là câu chuyện không thể giải quyết ngay trong một sớm một chiều, nhưng nếu thành phố có giải pháp đúng và kiên trì thực hiện trong một số năm thì hoàn toàn có thể từng bước tháo gỡ.
Ông Lâm cho rằng cần nhìn nhận áp lực giáo dục một cách toàn diện hơn, không chỉ tập trung vào kỳ thi lớp 10 trường THPT công lập. Chẳng hạn, tại các khu công nghiệp, khu đông lao động, hệ thống trường học đã đáp ứng đủ nhu cầu học tập của con em công nhân hay chưa? Hay với HS khuyết tật, số lượng trường chuyên biệt hiện vẫn rất hạn chế. Đây cũng là những vấn đề cần được quan tâm trong bài toán công bằng giáo dục. “Điều quan trọng là cả người dân và cơ quan quản lý đều cần thay đổi cách tiếp cận. Mục tiêu không chỉ là vào được trường công, mà phải là bảo đảm mọi HS đều có môi trường học tập phù hợp để phát triển năng lực, phẩm chất của mình”, tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm nói.
Tiến sĩ Đặng Tự Ân, Giám đốc Quỹ Hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông VN, nêu quan điểm: Giảm áp lực thi vào lớp 10 không chỉ là giảm một kỳ thi, mà còn là thay đổi tư duy về giáo dục, hướng nghiệp và cơ hội phát triển của mỗi HS. Theo ông, mô hình THPT nghề mở ra triển vọng nghề nghiệp rộng hơn cho nhiều HS. Trong khi đó, nếu cố theo học THPT nhưng không đủ năng lực cạnh tranh vào các trường đại học chất lượng cao, nhiều em có thể phải theo học các trường chất lượng thấp vừa phải, cơ hội việc làm hạn chế, cuối cùng vẫn phải làm những công việc giản đơn hoặc lao động phổ thông.
Ông Ân đề xuất Bộ GD-ĐT cần tập trung xây dựng hệ thống trường THPT nghề hiện đại, đồng bộ về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, đủ sức hấp dẫn đối với HS 14 – 15 tuổi. Đồng thời, cần rút ngắn giai đoạn chuyển tiếp để sớm đưa chất lượng giáo dục THPT nghề tiệm cận chuẩn khu vực và quốc tế.
Đại diện lãnh đạo Sở GD-ĐT Hà Nội cũng nêu thực tế, việc giải quyết bài toán quá tải trong tuyển sinh cần sự kết hợp đồng bộ giữa quy hoạch dài hạn, đầu tư cơ sở vật chất và đổi mới công tác tư vấn, phân luồng. Đây là hướng đi cần thiết để bảo đảm sự phát triển bền vững của giáo dục thủ đô trong bối cảnh đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ.
Vị này cũng bày tỏ lo ngại nếu xét tuyển trong bối cảnh nhiều trường top trên vẫn có tỷ lệ chọi căng thẳng như hiện nay thì sẽ khó mang lại kết quả chính xác, công bằng.
Thời gian tới, sở GD-ĐT sẽ tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng quy mô trường lớp, tăng cường xây mới và bổ sung các điều kiện dạy và học, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của HS. Cạnh đó, sẽ triển khai nhiều giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các khu vực. Đồng thời, ngành sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các trường THPT ngoài công lập phát triển, qua đó mở rộng thêm cơ hội học tập cho HS.
Sáng 24.6 (giờ Việt Nam), tổ chức Times Higher Education (THE) tại Anh chính thức công bố bảng xếp hạng ĐH tác động bền vững nhất thế giới năm 2026 (Sustainability Impact Ratings, trước đây gọi là Impact Rankings). Tổng số ĐH Việt Nam góp mặt là 17, tăng 1 so với năm ngoái, trong đó có 4 gương mặt mới xuất hiện và 3 gương mặt cũ rời đi là ĐH Bách khoa Hà Nội, Trường ĐH Thương mại (Hà Nội) và ĐH Huế.
Các trường mới góp mặt đều ra mắt ở vị trí từ trung bình tới thấp, với ĐH Đà Nẵng giữ thứ hạng cao nhất nhóm này là 401-600. Xếp sau đó, Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM giữ vị trí 801-1.000, còn Trường ĐH Phương Đông (Hà Nội) và Trường ĐH Việt - Đức (TP.HCM) đồng hạng 1.001-1.500 trong số 1.646 trường từ 116 quốc gia, vùng lãnh thổ góp mặt. Năm nay cũng đánh dấu sự quay trở lại của Việt - Đức sau khi vắng mặt vào 2025.
Về thứ hạng chung, dẫn đầu Việt Nam là ĐH Kinh tế TP.HCM ở vị trí 101-200, tăng ít nhất 101 hạng và là thứ hạng tốt nhất trường Việt từng đạt được - tương tự thứ hạng của Trường ĐH Tôn Đức Thắng vào năm 2019. Tuy nhiên, cú nhảy vọt thuộc về Trường ĐH Lạc Hồng (Đồng Nai) và ĐH Phenikaa (Hà Nội), lần lượt leo ít nhất 501 và 401 bậc so với năm ngoái để vào nhóm 801-1.000 và 401-600 thế giới.
Riêng ĐH Kinh tế quốc dân (Hà Nội), Trường ĐH Tôn Đức Thắng (TP.HCM), Trường ĐH Mở TP.HCM vẫn giữ nguyên thứ hạng cũ, lần lượt tại vị trí 301-400, 401-600, 1.001-1.500.
Đây là năm thứ 8 THE xếp hạng ĐH thế giới dựa trên 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (SDGs). Việt Nam thời gian qua ngày càng có đông đảo trường góp mặt ở bảng xếp hạng này, từ duy nhất Trường ĐH Tôn Đức Thắng vào năm 2019, số lượng trường đã tăng lên 2 (2020), 4 (2021), 7 (2022), 9 (2023), 13 (2024), 16 (2025), và nay là 17, ngày càng tiến gần mốc 20.
Một điểm đáng chú ý khác của bảng xếp hạng ĐH tác động bền vững nhất thế giới là không thuần túy đánh giá các trường dựa trên giảng dạy và nghiên cứu, mà tập trung xem xét mức độ đóng góp vào SDGs dựa trên 4 trụ cột chính là nghiên cứu, giảng dạy, trách nhiệm quản lý (stewardship) và kết nối cộng đồng (outreach).
Điểm tổng một trường ĐH được tính bằng cách kết hợp điểm của trường tại nội dung SDG 17 (quan hệ đối tác vì các mục tiêu) với 3 kết quả tốt nhất trong số 16 SDG còn lại. Cụ thể, SDG 17 chiếm 22% tổng điểm và những SDG còn lại sẽ có trọng số như nhau là 26%. Điều này đồng nghĩa các ĐH khác nhau có thể được đánh giá dựa trên những bộ SDG khác nhau, tùy vào lĩnh vực ưu tiên và thế mạnh từng trường, theo THE.
16 SDG còn lại gồm các nội dung xóa nghèo; không còn nạn đói; sức khỏe và có cuộc sống tốt, giáo dục có chất lượng; bình đẳng giới; nước sạch và vệ sinh; năng lượng sạch với giá thành hợp lý; công việc tốt và tăng trưởng kinh tế; công nghiệp, sáng tạo và phát triển hạ tầng; giảm bất bình đẳng; các thành phố và cộng đồng bền vững; tiêu thụ và sản xuất có trách nhiệm; hành động vì khí hậu; tài nguyên và môi trường biển; tài nguyên và môi trường trên đất liền; hòa bình, công lý và các thể chế mạnh mẽ.
Năm nay, ĐH Manchester (Anh) giữ vị trí số 1 toàn cầu, trong khi ĐH Griffith (Úc) và ĐH Western Sydney (Úc) lần lượt chiếm hạng 2 và 3. Tương tự Úc, Malaysia cùng Canada đều có hai trường trong top 10, trong khi Philippines là quốc gia có đông trường được xếp hạng nhất với 160 đại diện.
THE là một trong số những tổ chức xếp hạng ĐH có uy tín, nhiều năm kinh nghiệm và sức ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu bên cạnh bảng xếp hạng của Quacquarelli Symonds (Anh) và ShanghaiRanking Consultancy (Trung Quốc). Đơn vị này bắt đầu xếp hạng các ĐH từ 2004 cùng Quacquarelli Symonds, một năm sau khi thế giới lần đầu bảng xếp hạng ĐH toàn cầu do ĐH Giao thông Thượng Hải (sau này là ShanghaiRanking Consultancy) công bố.
Tại trụ sở chính của UNESCO ở Paris, Pháp, lễ công bố cấp cao của báo cáo GEM (báo cáo Giám sát giáo dục toàn cầu) mới đây đã quy tụ hơn 21 bộ trưởng, thứ trưởng bộ giáo dục và đào tạo cùng nhiều các chuyên gia, lãnh đạo giáo dục của nhiều quốc gia. vùng lãnh thổ.
Cùng với đó là sự tham gia của các thiết chế định hình chính sách và dòng chảy nguồn lực như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Ủy ban châu Âu (European Commission), Liên minh toàn cầu vì giáo dục (Global Partnership for Education), Viện quốc tế về quy hoạch giáo dục của UNESCO (IIEP UNESCO)...
Tham dự lễ công bố báo cáo với tư cách học giả Chevening ngành lãnh đạo Giáo dục tại ĐH UCL (Vương quốc Anh), tôi cho rằng điều đáng chú ý không nằm ở quy mô hội nghị, mà ở cách các vấn đề được đặt lại một cách có hệ thống. Đặc biệt là câu chuyện về công bằng giáo dục. Điểm cốt lõi của báo cáo nằm ở 3 câu hỏi.
Một trao đổi với tiến sĩ Manos Antoninis, Giám đốc Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu (GEM), đã gợi mở thêm cho tôi một điểm đáng suy nghĩ. Điều ông quan tâm không chỉ là tốc độ mở rộng hệ thống giáo dục, mà là cách một quốc gia lựa chọn ưu tiên khi nguồn lực luôn hữu hạn.
Nói cách khác, điều quan trọng không chỉ là mở rộng hệ thống giáo dục bao nhiêu, mà là sự mở rộng đó đang tạo khác biệt ở đâu và cho ai.
Mở rộng tiếp cận cơ hội được đi học cho mọi người, nhưng chưa chắc đồng nghĩa với thu hẹp bất bình đẳng. Một hệ thống có thể tăng nhanh về quy mô mà vẫn giữ nguyên, thậm chí làm sâu thêm, khoảng cách giữa những nhóm người học có xuất phát điểm khác nhau, khi việc mở rộng chủ yếu diễn ra ở điểm đầu vào, trong khi chất lượng học tập, các lộ trình học tiếp và cơ hội sau giáo dục lại phân bổ rất không đồng đều.
Trong trường hợp đó, bất bình đẳng trong giáo dục không biến mất mà dịch chuyển qua các tầng của hệ thống. Việc người ta quan tâm không chỉ là ai được đi học. Mà là được đi học trong điều kiện nào, ai có nhiều lựa chọn hơn sau khi học, ai có thể chuyển hóa giáo dục thành cơ hội phát triển trong cuộc đời.
Trên giấy tờ, không ít quốc gia đã có những định hướng đúng về giáo dục, từ mở rộng tiếp cận, cải thiện chất lượng đến thúc đẩy công bằng giáo dục. Nhưng khi đi vào thực tế, khoảng cách giữa cam kết và kết quả lại xuất hiện, không phải vì thiếu chính sách, mà vì chính sách không đi trọn được đến lớp học.
Điểm nghẽn thường không nằm ở cấp chính sách quốc gia, mà ở cách chính sách được triển khai qua nhiều tầng nấc thang. Từ quy định chung, đến hướng dẫn cụ thể, rồi đến thực hành trong từng nhà trường, mỗi bước đều có thể làm "hao hụt" ý định ban đầu. Khi xuống đến lớp học, giáo viên thường phải đối diện với những tình huống rất khác với giả định trong chính sách, trong khi không phải lúc nào cũng có đủ điều kiện hoặc không gian để điều chỉnh.
Bên lề chương trình, khi chúng tôi trao đổi với ông Sobhi Tawil, Giám đốc Ban tương lai học tập và đổi mới của UNESCO, câu chuyện được mở rộng sang vai trò của giáo viên trong bối cảnh AI. Theo ông, điều cần quan tâm không chỉ là công nghệ đi vào nhà trường nhanh đến đâu, mà là giáo viên có được chuẩn bị để sử dụng công nghệ theo hướng hỗ trợ người học hay không. Trong một môi trường học tập ngày càng nhiều nguồn tri thức, vai trò của giáo viên không giảm đi, mà chuyển sang yêu cầu cao hơn về định hướng, lựa chọn và dẫn dắt việc học.
Công bằng giáo dục, trong nhiều trường hợp, không đến từ việc phân bổ đồng đều, mà từ khả năng hướng nguồn lực đến những điểm cần thiết nhất, đặc biệt với những nhóm người học có nguy cơ bị gián đoạn hành trình học tập.
Chúng tôi có một trao đổi ngắn với giáo sư Giuseppe Valditara, Bộ trưởng Giáo dục và Trọng dụng năng lực của Ý. Khi nói về công bằng trong giáo dục, ông không đặt trọng tâm vào việc mở rộng cơ hội theo nghĩa hình thức, mà vào cách hệ thống sử dụng các công cụ tài chính cụ thể, đặc biệt là học bổng và các chương trình hỗ trợ đi kèm, để giữ người học ở lại trong hành trình học tập.
Khi được thiết kế đúng, các công cụ này không chỉ giảm bớt rào cản tài chính trực tiếp, mà còn tạo ra điều kiện để người học có thể tiếp tục theo đuổi việc học một cách ổn định hơn.
Trong cách tiếp cận đó, công bằng không nằm ở việc tất cả đều nhận được như nhau, mà ở việc những học sinh có nguy cơ bị bỏ lại phía sau được hỗ trợ đủ để không rơi khỏi hệ thống.
Điều này đòi hỏi các chính sách tài chính không chỉ dừng ở mức phân bổ ngân sách, mà phải đi kèm với những chương trình cụ thể, có khả năng theo sát và hỗ trợ người học trong suốt quá trình.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển với những kỳ vọng rất lớn, từ tăng trưởng kinh tế đến chuyển dịch sang một nền kinh tế dựa trên tri thức và công nghệ, công bằng giáo dục vì thế không còn là câu chuyện của riêng ngành giáo dục.
Trong một thời gian dài, mở rộng cơ hội đi học được xem là thước đo quan trọng nhất của giáo dục. Nhưng khi cánh cửa trường học đã mở rộng hơn bao giờ hết, câu hỏi đặt ra không còn dừng ở việc bao nhiêu người có thể bước vào, mà chuyển sang một điều khó hơn nhiều, ai có thể đi đến cùng, và đi đến cùng với chất lượng ra sao.
Chính ở điểm chuyển này, câu chuyện về giáo dục không còn là vấn đề của riêng ngành giáo dục, mà bắt đầu chạm trực tiếp đến năng lực tăng trưởng của mỗi quốc gia. Khi những khác biệt trong hành trình học tập không được giải quyết, chúng không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động, năng suất và khả năng cạnh tranh trong dài hạn.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mà công nghệ và AI đang định hình lại cách con người học và làm việc, những khác biệt về điều kiện học tập nếu không được xử lý sớm sẽ không dừng lại trong lớp học, mà kéo dài sang thị trường lao động và cơ hội phát triển sau này. Khi đó, bất bình đẳng trong giáo dục không còn là một vấn đề xã hội thuần túy, mà trở thành một giới hạn trực tiếp đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Vì vậy, tiếp cận và công bằng không chỉ là những mục tiêu cần đạt được, mà là điều kiện để hệ thống giáo dục có thể thực hiện được vai trò của mình. Một hệ thống có thể mở rộng rất nhanh, nhưng nếu không giữ được sự cân bằng giữa các nhóm người học, thì chính tốc độ đó có thể tạo ra những khoảng cách mới.
Một đoạn clip ngắn ghi lại khoảnh khắc tài xế xe buýt chủ động giảm tốc, kiên nhẫn chờ nhóm học sinh Trường THPT Giồng Ông Tố (phường Bình Trưng, TPHCM) đã bất ngờ lan tỏa mạnh mẽ trên mạng xã hội, thu hút hơn 1,5 triệu lượt xem chỉ sau ít ngày đăng tải.
Đoạn clip cho thấy một tình huống đời thường mà chạm vào cảm xúc lại khiến người xem, đặc biệt là giới trẻ xúc động và chia sẻ rộng rãi.
Theo chia sẻ của anh Nguyễn Thanh Sơn (sinh năm 1992), người sáng lập trang thông tin “Buýt Sài Gòn” và cũng là người ghi lại đoạn clip, sự việc xảy ra trên tuyến xe buýt số 43. Khi đang ngồi ở hàng ghế cuối, anh bất ngờ nhận thấy chiếc xe chạy chậm hơn thường lệ trên một đoạn đường dài khoảng 200m.
“Bình thường bác tài chạy khá nhanh để đảm bảo lộ trình, nhưng hôm đó xe lại giảm tốc. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy mấy em học sinh đang chạy theo phía sau nên quyết định quay lại vì thấy đây là một khoảnh khắc rất đáng nhớ”, anh Sơn kể.
Điều khiến đoạn video gây chú ý không chỉ nằm ở việc tài xế chờ học sinh, mà còn ở cách ứng xử đầy tinh tế. Không còi giục, không tỏ thái độ sốt ruột, chiếc xe vẫn di chuyển chậm rãi, đủ để các em kịp đuổi theo và lên xe an toàn.
Không khí trên xe lúc đó cũng trở nên nhẹ nhàng và đầy thiện cảm. Theo anh Sơn, không có hành khách nào phàn nàn, ngược lại, nhiều người còn mỉm cười, dõi theo hình ảnh những học sinh đeo ba lô lớn hối hả phía sau.
“Khi các em lên xe, bác tài còn cười và nói: "Chạy từ từ thôi, có gì đâu mà phải vội, chú đợi mà". Câu nói khiến cả khoảnh khắc trở nên ấm áp hơn”, anh Sơn chia sẻ.
Sau khi lên xe, các học sinh đều cúi đầu cảm ơn. Mọi thứ diễn ra nhanh chóng, nhưng đủ để để lại ấn tượng đẹp cho những người có mặt trên chuyến xe hôm đó.
Theo anh Sơn, phản ứng vội vàng của học sinh là điều dễ hiểu, bởi với nhiều người, đặc biệt là học sinh, việc chạy theo để kịp chuyến xe quen thuộc sau giờ tan học gần như đã trở thành thói quen. “Không phải lúc nào các em cũng biết tài xế sẽ chờ, nên tâm lý chung là phải cố gắng bắt kịp”, anh nói.
Từ góc nhìn của một người thường xuyên theo dõi và chia sẻ về xe buýt, anh Sơn cho rằng hành động nhỏ của tài xế tuyến 43 đã góp phần tạo nên một hình ảnh tích cực, gần gũi hơn về phương tiện giao thông công cộng.
“Tôi thấy đây là một hình ảnh rất tươi sáng. Trong những chuyến xe hằng ngày vẫn luôn tồn tại những điều tử tế như vậy, chỉ là đôi khi chúng ta chưa để ý”, anh bày tỏ.
Đoạn clip sau khi đăng tải nhanh chóng nhận được sự quan tâm lớn từ cộng đồng mạng, với tổng lượt xem trên Facebook và TikTok vượt mốc 1,5 triệu. Với anh Sơn, con số này là điều ngoài dự đoán, bởi ban đầu anh chỉ đơn giản muốn lưu giữ và chia sẻ một khoảnh khắc đẹp trong cuộc sống thường nhật.