Hội thảo “Thực trạng vi phạm quy định cấm bán, quảng cáo và khuyến mại thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại các điểm bán lẻ và phơi nhiễm với quảng cáo, khuyến mại thuốc lá mới của người trưởng thành” do Trường ĐH Y tế công cộng (Hà Nội) tổ chức vừa qua đã đưa ra các bằng chứng mới nhất về thực trạng bán, quảng cáo, khuyến mại thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại VN. Qua đó, lấy ý kiến chuyên gia, cơ quan quản lý để góp phần tăng cường hiệu quả thực thi các quy định phòng chống tác hại của thuốc lá.
Kết quả khảo sát trên 2.462 sinh viên từ 18 – 24 tuổi tại các trường đại học ở Hà Nội, Đà Nẵng, Huế và TP.HCM cho thấy: 14,3% sinh viên đã từng thử thuốc lá điện tử và 3,3% hiện đang sử dụng. Đối với thuốc lá nung nóng, tỷ lệ này là 6,2% đã từng thử và 0,8% hiện đang sử dụng. Độ tuổi trung bình bắt đầu sử dụng các sản phẩm thuốc lá mới là khoảng 16,9 tuổi.
Sau khi Nghị quyết 173 của Quốc hội được triển khai, nghiên cứu ghi nhận những chuyển biến tích cực bước đầu trong việc kiểm soát thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Khảo sát tại 126 điểm bán lẻ từng kinh doanh các sản phẩm này và có địa chỉ cụ thể trên Google Maps cho thấy 64,3% cơ sở đã đóng cửa.
Nghiên cứu cũng cho thấy có sự chuyển dịch các hoạt động kinh doanh, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm sang môi trường internet. Trong số các điểm bán được khảo sát, 34,9% đã chuyển sang bán hàng trực tuyến. Đồng thời, 39,2% sinh viên cho biết vẫn tiếp xúc với quảng cáo thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng trong vòng 30 ngày qua, trên một kênh mạng xã hội.
Đại diện nhóm nghiên cứu cho rằng, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện chính sách và giám sát, thực thi pháp luật, cần tăng cường truyền thông thay đổi nhận thức và hành vi hút thuốc lá để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là thanh thiếu niên và trẻ em.
Hội thảo là hoạt động thuộc khuôn khổ dự án “Hỗ trợ phòng chống tác hại của thuốc lá thông qua việc cung cấp bằng chứng về thực trạng bán, quảng cáo và khuyến mại các sản phẩm thuốc lá mới tại VN và khuyến nghị các giải pháp ngăn ngừa tác hại của thuốc lá mới”, do Tổ chức Chiến dịch vì trẻ em không thuốc lá (Mỹ) tài trợ.
Các nghiên cứu cho thấy uống cà phê mỗi ngày có thể giúp kéo dài tuổi thọ, hỗ trợ tiêu hóa, cải thiện trao đổi chất và giảm nguy cơ mắc bệnh mạn tính, theo trang sức khỏe Verywell Health.
Nghiên cứu trên tạp chí The Journal of Nutrition vào năm 2025 cho thấy uống từ 1 đến 3 tách cà phê đen chứa caffeine mỗi ngày giúp giảm nguy cơ tử vong và bệnh tim mạch.
Người uống ít nhất 1 tách cà phê mỗi ngày có nguy cơ tử vong thấp hơn 16%. Khi uống từ 2 đến 3 tách, tỷ lệ này tăng lên 17%.
Tuy nhiên, việc cho nhiều đường, sữa hoặc kem có thể làm giảm lợi ích của cà phê. Nhóm dùng cà phê kèm các thành phần này chỉ giảm khoảng 14% nguy cơ tử vong.
Cà phê còn giúp đường ruột hoạt động ổn định hơn. Theo đó, người uống cà phê có lượng vi khuẩn có lợi trong ruột cao hơn.
Trong cà phê có polyphenol, một hợp chất thực vật giúp nuôi lợi khuẩn đường ruột và hỗ trợ tiêu hóa. Chất chống oxy hóa trong cà phê còn giúp giảm viêm và giảm stress oxy hóa trong cơ thể.
Hệ vi sinh đường ruột khỏe mạnh cũng giúp việc đi tiêu đều đặn hơn.
Nghiên cứu trên PLOS ONE vào năm 2015 cho thấy nam giới uống khoảng 1 đến 2 tách cà phê mỗi ngày có nguy cơ rối loạn cương dương thấp hơn 42%.
Caffeine trong cà phê còn giúp tăng testosterone tạm thời sau khi tập luyện. Ngoài ra, uống 1 tách cà phê khoảng 45 phút trước khi quan hệ có thể giúp cải thiện sức bền.
Cà phê không thể thay thế chế độ ăn uống hay tập luyện. Tuy nhiên, thức uống này có thể hỗ trợ quá trình giảm cân nhờ khả năng thúc đẩy trao đổi chất.
Sau khi uống cà phê, cơ thể có thể tăng đốt cháy calo từ 5% đến 20% trong khoảng 3 giờ. Cà phê cũng giúp cơ thể phân giải chất béo hiệu quả hơn.
Ngoài ra, uống cà phê trước bữa ăn giúp nam giới giảm khoảng 20% lượng calo tiêu thụ.
Các nghiên cứu còn cho thấy uống cà phê thường xuyên giúp giảm nguy cơ mắc nhiều bệnh mạn tính như như bệnh Parkinson, tiểu đường loại 2, ung thư gan, ung thư đại tràng, đột quỵ và suy tim
Các chuyên gia khuyến cáo nên uống cà phê với lượng vừa phải và hạn chế thêm quá nhiều đường hoặc kem để bảo vệ sức khỏe tốt hơn.
Có người ăn một tô phở nhưng đường huyết tăng ít hơn khi ăn một đĩa cơm trắng lớn. Ngược lại, cũng có người ăn bún xong lại nhanh đói vì bữa ăn thiếu protein và chất xơ. Do đó, tác động đến đường huyết của bún, phở và cơm còn phụ thuộc vào lượng ăn và các món ăn kèm, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Cơm trắng thường có chỉ số đường huyết cao hơn vì hạt gạo đã được tinh chế, loại bỏ phần lớn chất xơ ở lớp cám. Khi nấu chín, tinh bột trong cơm trở nên mềm hơn và dễ bị enzyme tiêu hóa phân giải thành đường glucose, khiến đường huyết sau ăn tăng nhanh.
Ngoài ra, cơm thường được ăn với khẩu phần khá lớn trong bữa chính. Một người có thể ăn 2 - 3 chén cơm trong một bữa, đồng nghĩa lượng tinh bột nạp vào cao hơn đáng kể so với một tô bún hay phở thông thường.
Bún cũng được làm từ gạo nhưng trải qua quá trình ngâm, xay, ép thành sợi nên cấu trúc tinh bột khác với cơm. Chẳng hạn, bún thường được làm nguội nên tỷ lệ tinh bột kháng sẽ cao hơn một chút so với cơm. Chính điều này khiến tốc độ tiêu hóa của bún chậm hơn so với cơm. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa bún luôn là lựa chọn tốt hơn cho người cần kiểm soát đường huyết.
Vấn đề lớn nhất nằm ở khẩu phần. Một tô bún bò, bún chả hoặc bún thịt nướng thường chứa khá nhiều bún. Nếu ăn hết phần bún nhưng lại ít rau hoặc ít thịt, lượng tinh bột vẫn cao và làm đường huyết tăng mạnh.
Với phở, bánh phở vẫn được làm từ gạo trắng nên vẫn chứa lượng tinh bột đáng kể. Điểm khác là phở thường được ăn cùng thịt bò, thịt gà, rau thơm, hành và giá. Protein từ thịt giúp làm chậm quá trình tiêu hóa, trong khi rau bổ sung thêm chất xơ. Điều này khiến tốc độ tăng đường huyết sau khi ăn phở thấp hơn so với ăn cơm trắng. Tuy nhiên, điểm cần lưu ý là nếu tô phở có quá nhiều bánh phở hoặc người ăn thêm tương ngọt, nước sốt có đường thì lợi ích này có thể giảm đi.
Trong phần lớn trường hợp, cơm trắng thường khiến đường huyết tăng nhanh hơn bún và phở, đặc biệt khi ăn khẩu phần lớn và thiếu rau, protein đi kèm. Bún và phở có thể có lợi thế hơn đôi chút về tốc độ hấp thu nhưng vẫn có thể khiến đường huyết tăng cao nếu ăn quá nhiều.
Nói đơn giản, điều quan trọng không chỉ là chúng ta ăn cơm, bún hay phở mà là ăn bao nhiêu, có ăn cùng rau, thịt, trứng hay món giàu chất xơ, protein hay không, theo Healthline.
Ngày 15.4 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, một bé trai chào đời với cân nặng 2,4 kg bằng phương pháp sinh mổ khi thai nhi được 38 tuần tuổi. Trước đó 13 tuần, chị gái song sinh của bé trai này đã chào đời non tháng khi được 25 tuần tuổi, với cân nặng 650 gr.
32 tuổi, ở Bắc Ninh, mang thai nhờ IVF, nhập viện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội khi song thai được 20 tuần tuổi do nguy cơ sinh non, cổ tử cung bắt đầu mở 2 - 3 cm, một thai sa thấp. Khi thai được 25 tuần tuổi, sản phụ chuyển dạ sinh thường bé gái đầu lòng. Do là trường hợp sinh cực non, bé gái được hồi sức sơ sinh và chuyển đến chăm sóc đặc biệt tại Bệnh viện Nhi T.Ư.
Thai nhi thứ hai của song thai này tiếp tục được bác sĩ của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giữ lại trong bụng mẹ với sự hỗ trợ sát sao về y tế. Trong 13 tuần "nuôi dưỡng" thai nhi trong bụng mẹ, các bác sĩ đã phối hợp rất chặt chẽ các chuyên khoa: sản, nhi, gây mê - chống nhiễm khuẩn; theo dõi chặt chẽ diễn biến sức khỏe sản phụ, các chỉ số bạch cầu, thân nhiệt để có các chỉ định phù hợp, đảm bảo an toàn cho mẹ và thai. Quá trình điều trị, chăm sóc, các bác sĩ phải khống chế nhiễm trùng, giảm cơn co ở người mẹ, chống phù não thai nhi…
TS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, chia sẻ: Thai nhi được phát triển trong bụng mẹ có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển, hoàn thiện của thai nhi và sức khỏe của em bé sau khi chào đời, đặc biệt cần thiết cho sự phát triển của phổi, tim mạch.
Để giữ lại được thai nhi trong bụng mẹ suốt 13 tuần là thử thách rất lớn về chuyên môn, trước thực tế người mẹ vẫn có nguy cơ sinh non do cơn co "đẩy" thai; thai có nguy cơ nhiễm trùng rất cao, đồng thời cũng lo ngại về sự phát triển thai nhi do được giữ lại trong điều kiện không hoàn toàn bình thường, vì mẹ đã vỡ ối sinh non bé gái trước đó.
Bé trai nêu trên - trường hợp có nguy cơ sinh cực non (khi 25 tuần tuổi) được kéo dài đến khi trưởng thành về tuổi thai, về sự phát triển, và chào đời khi được 38 tuần tuổi - là ca đầu tiên tại VN. Sức khỏe của mẹ và bé trai hiện hoàn toàn bình thường. Trước đây đã có các trường hợp trẻ có nguy cơ sinh non khi thai 25 - 26 tuần được kéo dài đến 30 - 31 tuần.
Theo TS Mai Trọng Hưng, thành công trong việc nuôi dưỡng thêm 13 tuần tuổi, tránh sinh cực non không chỉ giúp bé chào đời, phát triển tốt mà góp phần cho khởi đầu xây dựng các phác đồ điều trị mới, nhằm kéo dài thai kỳ trong những trường hợp bệnh lý phức tạp, thai kỳ nguy cơ cao. Vì các bé được sinh ra khi thai ngoài 30 tuần tuổi thì khả năng hoàn thiện về sự phát triển (tim, phổi…) cao. Nếu sinh non và cực non (dưới 27 tuần tuổi) thì sự phát triển của em bé sẽ rất khó khăn.
Đây là một trong những ca kéo dài thai kỳ lâu nhất sau khi đã sinh một thai, tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Thai kỳ thứ hai được duy trì thêm 13 tuần, từ tuần 26 - 38, là trường hợp thành công hiếm gặp tại VN và thế giới.