Chuẩn tướng Mohammad Akraminia, người phát ngôn quân đội Iran, ngày 13/5 tuyên bố Iran sẽ không cho phép vũ khí của Mỹ vận chuyển qua eo biển Hormuz đến các căn cứ trong khu vực. Ông khẳng định huyết mạch hàng hải này hiện nằm dưới sự kiểm soát chiến lược phối hợp của lực lượng vũ trang Iran.
“Từ nay trở đi, chúng tôi sẽ không cho phép vũ khí của Mỹ vận chuyển qua eo biển Hormuz và tiến vào các căn cứ trong khu vực”, Tướng Akraminia nêu rõ.
“Bất kỳ quốc gia nào muốn đi qua tuyến đường thủy này đều phải tuân thủ sự giám sát của lực lượng vũ trang Iran, đảm bảo một chuyến đi an toàn”, ông nói thêm.
Theo ông Akraminia, phần phía tây eo biển Hormuz nằm dưới sự chỉ huy của Hải quân Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC), trong khi phần phía đông do Hải quân thuộc quân đội Iran kiểm soát.
Tướng Iran lưu ý rằng trong cuộc chiến gần đây, tất cả các mục tiêu của đối phương, bao gồm việc phá hủy năng lực tên lửa và hạt nhân của Iran, chia cắt đất nước và thay đổi chính quyền Iran, đều thất bại.
Ông Akraminia khẳng định học thuyết quân sự của Iran hiện nay mang tính chất tấn công và bất kỳ sai lầm nào của đối phương đều sẽ bị đáp trả nghiêm khắc nhất.
“Hôm nay chúng ta sẽ đẩy lùi Mỹ khỏi toàn bộ khu vực, và sự hiện diện của họ sẽ bị xóa bỏ khỏi khu vực này mãi mãi”, ông nhấn mạnh.
Cùng ngày, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Iran, Tướng Reza Talaei-Nik, cảnh báo Mỹ có nguy cơ phải chịu thêm những thất bại trên chiến trường nếu không thừa nhận những yêu cầu chính đáng của Iran về một giải pháp hòa bình.
“Nếu đối phương từ chối chấp nhận những yêu cầu chính đáng và rõ ràng của Iran thông qua các kênh ngoại giao, họ nên lường trước việc lặp lại những thất bại quân sự của mình. Bất kỳ mối đe dọa, cuộc tấn công hay hành động gây hấn mới nào đều sẽ bị đáp trả ngay lập tức, dứt khoát và quyết liệt, khiến đối phương phải hối hận về hành động của mình”, Tướng Talaei-Nik cảnh báo.
Tướng Talaei-Nik nhấn mạnh rằng người dân Iran vẫn kiên cường và sẽ tiếp tục giành chiến thắng trong “cuộc chiến bị áp đặt” này.
Ông cũng đề cập đến việc các tàu chiến Mỹ liên tục rút khỏi khu vực xung đột như bằng chứng về sự sẵn sàng và sức mạnh của lực lượng vũ trang Iran, bao gồm cả Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Ông tuyên bố lực lượng này sẵn sàng đáp trả mạnh mẽ, khiến đối phương phải hối tiếc về những tính toán sai lầm của mình.
Ngoại trưởng Iran Abbas Araqchi ngày 13/5 tuyên bố những yêu cầu quá mức, những lời lẽ đe dọa và khiêu khích của phía Mỹ, cùng với sự thiếu thiện chí và trung thực của Washington, là trở ngại chính đối với việc chấm dứt xung đột và đạt được một thỏa thuận khả thi.
Ông cũng cho biết nguyên nhân chính và nguồn gốc của tình hình hiện tại ở eo biển Hormuz là hành động gây hấn quân sự của Mỹ và Israel chống lại Iran, tiếp theo là những vi phạm liên tục thỏa thuận ngừng bắn và việc phong tỏa hải quân liên tục đối với các cảng biển của Iran.
Ngày 10/5, thông qua Pakistan, Iran đã gửi phản hồi về các đề xuất của Mỹ nhằm giải quyết căng thẳng thông qua các kênh ngoại giao. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã bác bỏ phản hồi của Iran, nói rằng không thể chấp nhận được.
Sau đó, hãng thông tấn Fars, trích dẫn nguồn tin giấu tên, cho biết Iran sẽ không nối lại đàm phán với Mỹ cho đến khi Washington đáp ứng 5 điều kiện chính.
Những điều kiện này bao gồm chấm dứt các cuộc giao tranh trên tất cả các mặt trận, đặc biệt ở Li Băng, dỡ bỏ các lệnh trừng phạt đối với Iran, giải phóng các tài sản bị đóng băng của Iran, bồi thường thiệt hại do xung đột gây ra và chính thức công nhận chủ quyền của Iran đối với eo biển Hormuz – tuyến hàng hải huyết mạch vận chuyển 1/5 lượng dầu toàn cầu.
Hạ nghị sĩ Al Green (79 tuổi) đã giữ được chiếc ghế trong 11 nhiệm kỳ và đang tìm kiếm nhiệm kỳ thứ 12 tại đợt bầu cử năm nay. Tuy nhiên, quận bầu cử số 9 của ông đã bị thay đổi sau nỗ lực vẽ lại bản đồ bầu cử thành công của phe Cộng hòa tại Texas, khiến khu vực của ông nghiêng về phía đảng Cộng hòa nhiều hơn.
Do đó, ông Green đã quyết định tranh cử tại quận bầu cử số 18 ở thành phố Houston, nơi được cho là an toàn hơn vì có cử tri nghiêng nhiều về phía đảng Dân chủ. Tuy nhiên, đối đầu với ông Al Green trong cuộc bầu cử sơ bộ tại đây là hạ nghị sĩ Christian Menefee (38 tuổi), người mới trở thành thành viên quốc hội hồi tháng 2 sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử đặc biệt để thay thế cố hạ nghị sĩ Sylvester Turner qua đời vào năm ngoái.
Theo NBC News, trong kết quả bầu cử vòng 1 vào ngày 3.3, ông Menefee giành 46% phiếu bầu trong khi ông Green được 44% phiếu.
Do cả hai đều không giành được quá bán, cuộc bầu cử vòng 2 được tiến hành và theo kết quả dự phóng, ông Menefee đã giành chiến thắng.
Ông Green đã phục vụ tại Hạ viện Mỹ trong hơn 2 thập niên, là một trong những nhân vật chỉ trích Tổng thống Donald Trump gay gắt nhất. Ông Green từng bị mời ra ngoài vì làm gián đoạn bài phát biểu thông điệp liên bang của ông Trump tại đây vào năm 2025.
Ông Green và ông Menefee đều lấy việc chống đối ông Trump làm trọng tâm tranh cử. Theo NBC News, ông Menefee từng là chưởng lý quận và cho biết văn phòng của ông nhiều lần khởi kiện chính quyền ông Trump.
Trong một diễn biến khác đáng chú ý cũng tại Texas, Tổng chưởng lý bang Ken Paxton đã giành chiến thắng trước đương kim thượng nghị sĩ John Cornyn trong cuộc bầu cử sơ bộ phía đảng Cộng hòa cho chiếc ghế của ông Cornyn, theo AP.
Chiến thắng này của ông Paxton khiến ông Cornyn trở thành thượng nghị sĩ Cộng hòa đương nhiệm đầu tiên từ Texas không thể trở thành ứng viên để tái cử. Ông Cornyn là thượng nghị sĩ kỳ cựu với 4 nhiệm kỳ, trong khi ông Paxton có sự ủng hộ của Tổng thống Trump.
Tuy nhiên, ông Kamba nói rằng con số này chỉ là ước tính và cần nghiên cứu thêm để xác nhận liệu tất cả 131 trường hợp tử vong có thực sự liên quan đến Ebola hay không. Số liệu trước đó về dịch bệnh này cho thấy tổng cộng 91 người chết trong số 350 trường hợp nghi nhiễm, theo AFP.
Các chuyên gia cho rằng số ca mắc Ebola có thể sẽ tăng thêm khi giới chức y tế tiến hành giám sát nhiều hơn. Giới chức sẽ mở 3 trung tâm điều trị Ebola ở tỉnh Ituri, thuộc đông bắc CHDC Congo và là tâm điểm của đợt bùng phát dịch hiện nay. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đang cử một nhóm chuyên gia đến CHDC Congo, theo AP.
Trong khi đó, Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) ngày 18.5 đưa ra cảnh báo du lịch, khuyến cáo công dân Mỹ đến CHDC Congo và Uganda nên tránh tiếp xúc với những người có triệu chứng như sốt, đau cơ và phát ban.
CDC thông báo thêm trong 30 ngày tới, Mỹ sẽ cấm nhập cảnh đối với tất cả công dân nước ngoài đã đến CHDC Congo, Uganda và Nam Sudan trong 3 tuần qua, và sẽ thực hiện các biện pháp để xác định những người có triệu chứng Ebola tại các cửa khẩu.
Theo phân tích của báo New York Times, số học sinh trường công từ mẫu giáo đến lớp 12 đã giảm tại 30 bang kể từ giữa những năm 2010. Các chuyên gia cảnh báo đây mới chỉ là "phần nổi của tảng băng chìm," và tình hình sẽ còn tiếp tục xấu đi trong những năm tới.
Nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tình trạng sụt giảm tuyển sinh hiện nay là tỉ lệ sinh thấp kỷ lục tại Mỹ. Sau khi đạt đỉnh vào năm 2007, con số này đã giảm 24% trong gần hai thập kỷ qua.
Trung tâm Thống kê giáo dục quốc gia Mỹ (NCES) chỉ ra xu hướng giảm tuyển sinh sẽ còn tiếp diễn trong nhiều năm tới.
Bà Marguerite Roza, giám đốc Edunomics Lab - nhóm nghiên cứu về tài chính giáo dục - thuộc Đại học Georgetown, nhận định: "Năm nay thực ra mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm".
Không chỉ tỉ lệ sinh giảm, chi phí sinh hoạt leo thang tại các thành phố lớn cũng đang khiến nhiều gia đình rời đi. Giá nhà cao, áp lực tài chính và xu hướng làm việc linh hoạt sau đại dịch COVID-19 khiến nhiều người chuyển ra ngoại ô hoặc tới các bang có mức sống dễ chịu hơn.
Tại Portland (bang Oregon) - nơi có khoảng 44.000 học sinh trường công - số lượng tuyển sinh đã giảm 9% kể từ năm 2014. Bà Kimberlee Armstrong, giám đốc hệ thống trường công của thành phố, cho biết nguyên nhân không chỉ là ít trẻ em hơn, mà còn là việc cả gia đình rời khỏi thành phố.
"Mọi người đang chọn nuôi con ở nơi khác, chuyển ra ngoại ô hoặc những nơi có giá nhà ở phải chăng hơn", bà nói. "Thành phố Portland không chỉ mất đi học sinh, mà chúng tôi còn đang mất đi các gia đình".
Hệ thống trường công Portland hiện phải đối mặt với khoản thâm hụt ngân sách khoảng 50 triệu USD vào năm 2027 và đang tính tới khả năng sa thải nhân sự hoặc đóng cửa trường học.
Dù số trẻ vào mẫu giáo năm nay cao hơn dự kiến, giới chức giáo dục địa phương cho rằng điều đó không đủ để đảo ngược xu thế dài hạn.
Tại Denver (bang Colorado), xu hướng suy giảm học sinh bắt đầu từ năm 2020 do tỉ lệ sinh thấp nhiều năm và chi phí sinh hoạt tăng cao. Thành phố này từng ghi nhận sự phục hồi nhờ làn sóng nhập cư mạnh từ năm 2022 đến 2024, khi hàng nghìn trẻ em mới gia nhập hệ thống trường học.
Tuy nhiên, dưới các biện pháp siết nhập cư gần đây của chính quyền Tổng thống Trump, số học sinh tại Denver lại tiếp tục giảm.
Việc số học sinh suy giảm không chỉ ảnh hưởng tới lớp học, mà còn trực tiếp tác động đến tài chính của các khu trường công.
Tại Mỹ, ngân sách trường công thường được phân bổ dựa trên số lượng tuyển sinh. Ít học sinh đồng nghĩa với ít tiền hơn để duy trì cơ sở vật chất, trả lương giáo viên và duy trì chất lượng giảng dạy.
Để cắt giảm chi tiêu, nhiều trường buộc phải loại bỏ các môn tự chọn, giảm lớp nâng cao hoặc thu hẹp hoạt động ngoại khóa.
Các chuyên gia cảnh báo đây có thể trở thành một "vòng xoáy suy giảm": khi chất lượng chương trình học giảm xuống, càng nhiều gia đình sẽ rời bỏ trường công để chuyển sang trường tư, giáo dục tại nhà hoặc trường trực tuyến.
Một trong những giải pháp được nhiều địa phương cân nhắc là đóng cửa trường học. Tuy nhiên, đây thường là quyết định gây nhiều tranh cãi vì liên quan trực tiếp tới cộng đồng dân cư, giáo viên và học sinh.
Câu chuyện tại Pittsburgh (bang Pennsylvania) còn đáng lo ngại hơn. Hội đồng giáo dục tại đây đang xem xét lại kế hoạch đóng cửa chín trường học sau khi hệ thống trường công của thành phố mất khoảng 25% số học sinh trong thập kỷ qua.
Ông Gene Walker, chủ tịch hội đồng giáo dục Pittsburgh, cho rằng việc tái cơ cấu là điều cần thiết để tập trung nguồn lực cho các trường còn lại, giúp duy trì các môn nghệ thuật, âm nhạc và ngoại ngữ cho học sinh.
Dù một số nhà nhân khẩu học tin rằng tỉ lệ sinh tại Mỹ có thể phục hồi nếu nhiều phụ nữ chỉ trì hoãn việc sinh con sang độ tuổi 30 hoặc 40, phần lớn chuyên gia cho rằng hệ thống trường công vẫn phải chuẩn bị cho một giai đoạn co hẹp kéo dài.
"Nếu chúng tôi chờ thêm 10 đến 15 năm nữa, tôi không chắc các trường công này còn tồn tại được không", ông Walker nói.