Phát biểu trong chuyến thăm Pakistan hôm 23/6, Tổng thống Masoud Pezeshkian cho biết hiện “không có cuộc đàm phán nào” về vấn đề tên lửa đạn đạo của Iran và sẽ không có cuộc đối thoại nào như vậy trong tương lai.
“Nếu Iran không có tên lửa để phòng vệ, Israel và Mỹ đã tàn phá đất nước của chúng tôi giống như Gaza mà không tỏ chút thương xót, dù là đối với người già hay trẻ em. Chúng tôi sẽ không bao giờ đàm phán về năng lực phòng thủ của mình, dù là với bất kỳ ai và trong bất cứ hoàn cảnh nào”, ông nói.
Tổng thống Pezeshkian thêm rằng Tehran “không tin tưởng Washington”, nhấn mạnh Iran đã bị tấn công hai lần trong lúc đàm phán đang diễn ra, song vẫn sẵn sàng đối thoại và bảo đảm hòa bình.
Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif xác nhận thỏa thuận sơ bộ mà Mỹ ký với Iran không đề cập chương trình tên lửa đạn đạo của Tehran. “Không thể tồn tại tiêu chuẩn kép rằng một số quốc gia được quyền sở hữu tên lửa đạn đạo còn Iran thì không nên có”, ông nói.
Giới chức Mỹ chưa bình luận về thông tin.
Chính quyền Tổng thống Donald Trump từng khẳng định phá hủy năng lực tên lửa là một trong những mục tiêu trọng tâm của chiến dịch tấn công Iran. Trong suốt xung đột, ông Trump và các quan chức dưới quyền từng nhiều lần tuyên bố đã phá hủy gần như toàn bộ năng lực tên lửa đạn đạo của Iran.
Tuy nhiên, CNN hôm 31/5 dẫn lời giới chuyên gia nhận định Iran còn khoảng 1.000 tên lửa trong các căn cứ ngầm.
Lập trường của ông Trump về vấn đề tên lửa Iran dường như đã trở nên bớt cứng rắn hơn trong những ngày gần đây. “Nếu các nước khác sở hữu chúng, việc họ không có sẽ là hơi bất công”, ông nói hôm 17/6 khi đề cập tên lửa đạn đạo Iran.
Năm 2019, Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ (DIA) đánh giá Iran sở hữu “kho tên lửa đạn đạo lớn nhất và đa dạng nhất tại Trung Đông”. Trước khi xung đột nổ ra, tình báo Israel cũng ước tính Iran sở hữu khoảng 2.500 tên lửa đạn đạo các loại.
Phần lớn kho dự trữ của Tehran là tên lửa đạn đạo tầm ngắn với tầm bắn dưới 1.000 km và tầm trung lên tới 3.000 km. Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cho rằng tên lửa hành trình Soumar của Iran cũng có tầm bắn 2.500-3.000 km.
Iran đã nhiều lần phóng tên lửa, máy bay không người lái vào Israel và các nước vùng Vịnh có lực lượng Mỹ đồn trú, để đáp trả chiến dịch tấn công của đối phương. Theo kết quả phân tích ảnh vệ tinh được Washington Post công bố đầu tháng 5, tổng cộng 217 công trình, 11 thiết bị quân sự đã bị phá hủy hoặc hư hại tại 15 căn cứ có lực lượng Mỹ trong 6 tuần chiến sự.
Tin Gốc: Vnexpress

Nội dung thỏa thuận 14 điểm để lại nhiều chi tiết chưa được Washington và Tehran thống nhất, bao gồm cả chủ đề nhạy cảm là chương trình hạt nhân của Iran. Tuy nhiên, thỏa thuận này hứa hẹn mang lại cho Iran nhiều khoản tài chính, thông qua việc dỡ bỏ các lệnh cấm vận để Tehran có thể bán dầu và tiếp cận các tài sản bị đóng băng.
CNN đã đăng lại nội dung 14 điểm thỏa thuận. Truyền thông Mỹ lưu ý đây là nội dung được quan chức Nhà Trắng tiết lộ cho phóng viên, do đó chưa rõ liệu nó có trùng khớp với bản ghi nhớ sau cùng được hai bên ký kết hay không.
1. Mỹ và Iran cùng các đồng minh của mỗi bên trong cuộc chiến hiện tại ký Bản ghi nhớ (MOU) này nhằm tuyên bố chấm dứt ngay lập tức và vĩnh viễn các hoạt động quân sự trên mọi mặt trận, bao gồm cả ở Lebanon. Cam kết từ nay trở đi sẽ không phát động bất kỳ cuộc chiến hay chiến dịch quân sự nào chống lại nhau, kiềm chế đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại nhau, đồng thời đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Lebanon. Thỏa thuận cuối cùng sẽ xác nhận việc chấm dứt vĩnh viễn cuộc chiến trên mọi mặt trận, bao gồm cả ở Lebanon và các quy định khác của điều khoản này.
2. Mỹ và Iran cam kết tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
3. Mỹ và Iran cam kết đàm phán và đạt được thỏa thuận cuối cùng trong thời gian tối đa 60 ngày, có thể gia hạn nếu hai bên cùng đồng ý.
4. Ngay sau khi ký kết MOU, Mỹ sẽ bắt đầu dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân cùng mọi sự cản trở hay gây rối nào đối với Iran, và sẽ chấm dứt hoàn toàn lệnh phong tỏa hải quân trong vòng 30 ngày. Trong giai đoạn này, lran sẽ khôi phục lưu lượng tàu thuyền qua bằng với thời điểm trước xung đột. Mỹ cũng cam kết rút lực lượng của mình khỏi các khu vực gần Iran trong vòng 30 ngày sau khi đạt được thỏa thuận cuối cùng.
5. Ngay khi ký kết MOU, Iran sẽ nỗ lực hết sức đưa ra các sắp xếp nhằm đảm bảo tàu thuyền thương mại được qua lại an toàn, không thu phí trong 60 ngày, từ vịnh Ba Tư đến biển Oman và ngược lại.
6. Quá trình lưu thông của tàu thuyền thương mại sẽ bắt đầu ngay lập tức; và xét đến nhu cầu dọn dẹp các chướng ngại vật về kỹ thuật và quân sự, hoạt động rà phá bom mìn do Iran thực hiện sẽ được tiến hành trong vòng 30 ngày. Iran sẽ tiến hành đối thoại với Oman nhằm xác định việc quản lý và cung cấp dịch vụ hàng hải trong tương lai tại eo biển Hormuz thông qua thảo luận với các quốc gia ven vịnh Ba Tư khác, phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển tại eo biển Hormuz.
7. Mỹ cam kết cùng các đối tác khu vực xây dựng một kế hoạch có tính quyết định, được hai bên nhất trí với khoản ngân sách ít nhất 300 tỉ USD để tái thiết và phát triển kinh tế cho Iran. Cơ chế thực hiện kế hoạch này sẽ được chốt lại như một phần của thỏa thuận cuối cùng trong vòng 60 ngày. Mọi giấy phép, quyền miễn trừ và sự cho phép cần thiết cho các giao dịch tài chính liên quan sẽ được Mỹ cấp phát.
Mỹ cam kết chấm dứt mọi hình thức cấm vận nhằm vào Iran, bao gồm các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, nghị quyết của Hội đồng Thống đốc IAEA (Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế) và tất cả các lệnh cấm vận đơn phương của Mỹ, cả sơ cấp và thứ cấp, theo một lịch trình được thống nhất như một phần của thỏa thuận cuối cùng. Iran và Mỹ thừa nhận tầm quan trọng then chốt của vấn đề chấm dứt cấm vận nêu trên, và bày tỏ ý định giải quyết ngay các vấn đề này trong quá trình đàm phán nhằm đạt được sự đồng thuận chung.
8. Iran tái khẳng định sẽ không mua sắm hay phát triển vũ khí hạt nhân. Mỹ và Iran đã đồng ý giải quyết vấn đề định đoạt kho dự trữ vật liệu làm giàu theo một cơ chế sẽ được hai bên thống nhất, phù hợp với lịch trình nêu ở điều 7, với phương pháp tối thiểu là hạ cấp tại các cơ sở hạt nhân dưới sự giám sát của IAEA.
Hai bên cũng nhất trí thảo luận về vấn đề làm giàu uranium và các vấn đề khác được hai bên thống nhất liên quan đến nhu cầu hạt nhân của Iran, dựa trên một khuôn khổ thỏa đáng sẽ được nhất trí trong thỏa thuận cuối cùng. Thỏa thuận cuối cùng sẽ xác nhận các quy định của điều khoản này. Mỹ và Iran thừa nhận tầm quan trọng then chốt của các vấn đề hạt nhân nêu trên. Hai bên bày tỏ ý định giải quyết ngay các vấn đề này trong quá trình đàm phán nhằm đạt được sự đồng thuận chung.
9. Trong khi chờ thỏa thuận cuối cùng, Mỹ và Iran đồng ý duy trì nguyên trạng. Iran sẽ duy trì nguyên trạng hiện tại của chương trình hạt nhân, và Mỹ sẽ không áp đặt bất kỳ lệnh trừng phạt mới nào cũng như không triển khai thêm lực lượng ở khu vực.
10. Mỹ cam kết ngay sau khi ký MOU và cho đến khi chấm dứt các lệnh cấm vận, Bộ Tài chính Mỹ sẽ cấp các quyền miễn trừ đối với hoạt động xuất khẩu dầu thô, sản phẩm dầu mỏ và các dẫn xuất của Iran, cùng tất cả các dịch vụ liên quan, bao gồm giao dịch ngân hàng, bảo hiểm, vận tải.
11. Mỹ cam kết cho phép sử dụng hoàn toàn các quỹ và tài sản bị đóng băng hoặc hạn chế của Iran ngay sau khi MOU được thực thi. Mỹ và Iran sẽ cùng thống nhất về các thủ tục liên quan đến việc giải phóng các quỹ này trong quá trình đàm phán. Các khoản tiền này, dù được giữ lại trong tài khoản ban đầu hay được chuyển đi, sẽ hoàn toàn có thể được sử dụng để thanh toán cho bất kỳ người thụ hưởng cuối cùng nào do Ngân hàng Trung ương Iran chỉ định. Mỹ cam kết cấp mọi giấy phép và ủy quyền cần thiết cho mục đích này.
12. Mỹ và Iran đồng ý thiết lập một cơ chế điều hành để giám sát việc thực hiện thành công MOU cũng như việc tuân thủ thỏa thuận cuối cùng trong tương lai.
13. Sau khi ký kết MOU, và với điều kiện bắt đầu thực hiện các điều khoản 1, 4, 5, 10 và 11 của Bản ghi nhớ, cùng việc tiếp tục thực thi các biện pháp đó, Mỹ và Iran sẽ bắt đầu đàm phán về thỏa thuận cuối cùng, dành riêng cho các điều khoản còn lại.
14. Thỏa thuận cuối cùng sẽ được xác nhận bằng một nghị quyết mang tính ràng buộc của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc
Tin Gốc: Thanh Niên

Lệnh phong tỏa cảng biển kéo dài 5 tuần qua của Mỹ đã giảm lượng xuất khẩu dầu bằng đường biển của Iran từ mức trung bình trước chiến tranh là 1,8 triệu thùng mỗi ngày xuống gần như bằng 0, khiến nước này phải tích trữ phần lớn lượng dầu khai thác được bằng mọi cơ sở, phương tiện sẵn có.
Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 26/4 cảnh báo cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Iran có thể "phát nổ" trong ba ngày tới do các sự cố kỹ thuật trầm trọng bởi lệnh phong tỏa của Mỹ.
"Khi trữ lượng dầu khổng lồ bị dồn nén trong hệ thống mà không có tàu bè hay bể chứa để tiêu thụ do lệnh phong tỏa, áp suất sẽ khiến đường ống phát nổ từ bên trong, thậm chí nổ tung từ dưới lòng đất. Một khi điều đó xảy ra, Iran sẽ không bao giờ có thể khôi phục lại hạ tầng như cũ", ông Trump nói.
Mỹ dường như tin rằng khi cạn nơi tích trữ dầu, Iran sẽ phải đối mặt với việc đóng các giếng dầu, lựa chọn tốn kém và đầy rủi ro với một quốc gia vốn phụ thuộc vào doanh thu xuất khẩu dầu. Để tránh kịch bản đó, Tehran sẽ phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán về chương trình hạt nhân và xung đột hiện tại với Mỹ.
Tuy nhiên, những gì mà ông Trump cảnh báo đã không xảy ra. Hệ thống dầu khí Iran chưa có dấu hiệu "phát nổ" hay xảy ra tình trạng "tràn bể", thuật ngữ chỉ tình trạng hết chỗ chứa, và Tehran cũng không có dấu hiệu sẽ sớm nhượng bộ trên bàn đàm phán.
Trong khi tổ chức phân tích dữ liệu Kpler cho rằng hệ thống kho chứa dầu trên đất liền của Iran đã được lấp đầy 97%, đồng nghĩa nước này chỉ còn cầm cự được thêm vài ngày, cơ quan phân tích năng lượng S&P Global Energy tin rằng Tehran vẫn còn khoảng 43% năng lực trữ dầu, giúp họ có thể "thi gan" thêm nhiều tuần.
Dựa trên ảnh vệ tinh, các chuyên gia theo dõi độ nâng hạ của mái bồn chứa nổi, dựa trên kích thước bóng đổ để ước tính mức độ trữ dầu của chúng. Tuy nhiên, các bồn chứa có mái cố định, các cơ sở lưu trữ tư nhân và cơ sở hạ tầng bị hư hại lại khó đánh giá hơn. Một số ước tính không bao gồm lượng dự trữ tại các nhà máy lọc dầu nội địa.
Điều này giải thích lý do các ước tính về năng lực trữ dầu của Iran có sự chênh lệch lớn như vậy, theo Georgi Kantchev, nhà bình luận của WSJ.
Tuy nhiên, những dự báo đó đều có chung một kết luận là dù Iran chưa hết chỗ chứa, họ đang ngày càng gặp khó khăn hơn trong việc tìm kiếm không gian lưu trữ dầu.
Do không thể phá vỡ lệnh phong tỏa của Mỹ, Tehran đang chất dầu thô lên tàu và sử dụng chúng làm kho chứa nổi tạm thời. Theo S&P Global Energy, 14 tàu rỗng từng vận chuyển dầu thô của Iran hiện thả neo bên trong khu vực phong tỏa.
Công ty phân tích vận tải biển TankerTrackers cuối tuần trước cho biết ba tàu chở dầu rỗng gần đây đã lọt qua vòng phong tỏa của Mỹ để tiến vào vịnh Ba Tư. Tổng cộng, chúng có thể giúp Iran chứa thêm 1,9 triệu thùng dầu.
Trong khi đó, Tehran cũng đang từ từ giảm sản lượng tại các giếng dầu. Thay vì phải cắt giảm toàn bộ cùng một lúc, họ đang giảm dần khai thác theo từng giai đoạn, hy vọng tránh được bước tốn kém hơn là đóng cửa hoàn toàn các mỏ dầu để rồi sau đó phải mất hàng tuần hoặc hàng tháng mới khôi phục lại được.
"Việc giảm dần sản lượng khai thác và tận dụng tàu rỗng làm kho chứa nổi đang giúp Iran kéo dài thời gian", Rebecca Feng, nhà bình luận của WSJ, cho hay.
Iran cũng đang tích cực tăng sản lượng lọc dầu và tìm cách xuất khẩu dầu bằng đường bộ. Họ vẫn có thể xuất khẩu một lượng khiêm tốn khoảng 200.000 thùng mỗi ngày bằng tàu hỏa, xe tải và tàu dầu qua biển Caspian, theo ước tính của Eurasia’s Brew.
Đây không phải lần đầu tiên Tehran phải giảm bớt hoạt động ngành năng lượng để "thi gan" với Washington. Điều này đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của chiến lược gây áp lực mà Mỹ đang sử dụng lần này, theo Kantchev.
Trong hơn ba năm sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump áp đặt các lệnh trừng phạt lên Tehran năm 2019, xuất khẩu dầu của Iran đã lao dốc. Sản lượng cũng bị ảnh hưởng, giảm xuống dưới 2 triệu thùng mỗi ngày. Tuy nhiên, sản lượng đã tăng mạnh trở lại vào năm 2022 và đạt mức cao kỷ lục vào đầu năm nay.
Kim Fustier, nhà phân tích dầu khí tại HSBC, cho biết lịch sử đó cho thấy những gián đoạn kéo dài của ngành dầu khí chỉ gây ra tổn thất hạn chế và Tehran có đủ khả năng để chơi ván bài lâu dài.
"Có lẽ cần điều chỉnh lại các kỳ vọng. Rất khó hình dung một cuộc phong tỏa kéo dài vài tuần lại có thể tạo ra kết quả khác với hơn 3,5 năm Iran bị bóp nghẹt xuất khẩu dầu", Fustier nói.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Việt Nam - Ấn Độ nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường

Trong cuộc hội đàm tại thủ đô New Delhi hôm nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhấn mạnh việc làm sâu sắc hơn quan hệ song phương sẽ tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh hai nước vẫn còn rất nhiều tiềm năng và lợi thế to lớn để mở rộng hợp tác, mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp và đề nghị hai bên tiếp tục tạo điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp mở rộng hiện diện tại thị trường của nhau.
Trên cơ sở đó, hai bên nhất trí nâng tầm quan hệ song phương lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường trên tinh thần "Chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất", mở ra giai đoạn phát triển mới cho quan hệ song phương.
Hai lãnh đạo đã thống nhất những định hướng chiến lược nhằm tiếp tục làm sâu sắc hơn nữa các mặt hợp tác nhằm cụ thể hóa mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường.
Về chính trị và ngoại giao, hai bên nhất trí duy trì trao đổi đoàn cấp cao và tiếp xúc thường xuyên, phát huy các cơ chế hợp tác, trong đó có Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương Việt Nam - Ấn Độ.
Hai nước sẽ hướng tới thiết lập cơ chế Đối thoại Chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng (2+2), cũng như triển khai Chương trình hành động Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2024 - 2028.
Về hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, hai lãnh đạo nhất trí tạo đột phá, gia tăng tính bổ trợ lẫn nhau theo phương châm cùng thắng, đôi bên cùng có lợi, nhất là trong tăng cường liên kết chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Hai bên phấn đấu đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 25 tỷ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng, bền vững. Kim ngạch thương mại hai nước đạt hơn 16,4 tỷ USD vào năm 2025.
Hai bên sẽ tháo gỡ rào cản thương mại để tạo thuận lợi cho hàng hóa của nhau vào thị trường mỗi nước, trong đó có nông sản. Hai nước mở cửa thị trường cho sầu riêng Việt Nam và nho Ấn Độ, xúc tiến giải quyết các vấn đề kỹ thuật để mở cửa thị trường cho bưởi Việt Nam và lựu Ấn Độ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Ấn Độ xem xét từng bước gỡ bỏ các quy định liên quan đến tiêu chuẩn của Cơ quan Tiêu chuẩn Ấn Độ (BIS) với hàng hóa Việt Nam.
Việt Nam cam kết đa dạng hóa nguồn cung và tăng nhập khẩu từ Ấn Độ phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Hai nước thúc đẩy rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA), tăng cường hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí chung, bao gồm việc Ấn Độ tham gia các giếng mới, trên cơ sở luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai bên khuyến khích thúc đẩy đầu tư hai chiều theo hướng chất lượng cao; tạo điều kiện thuận lợi để các tập đoàn lớn của nước này đầu tư vào nước kia với các dự án quy mô lớn, mang tính biểu tượng, nhất là trong các lĩnh vực như hạ tầng, năng lượng tái tạo, dược phẩm, công nghệ cao...
Về hợp tác quốc phòng - an ninh, hai bên nhấn mạnh đây là lĩnh vực có vai trò trụ cột quan trọng. Hai bên hoan nghênh việc triển khai ổn định các khoản tín dụng quốc phòng Ấn Độ dành cho Việt Nam, góp phần tăng cường năng lực quốc phòng của Việt Nam và thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.
Hai nước nhất trí thường xuyên tiến hành khảo sát thủy đạc chung ngoài khơi Việt Nam sau đợt khảo sát vào tháng 5/2025. Ấn Độ sẽ hỗ trợ Việt Nam đào tạo nhân lực quốc phòng và thành lập Công viên Phần mềm Lục quân tại Nha Trang.
Việt Nam - Ấn Độ cũng sẽ mở rộng hợp tác chống khủng bố, tội phạm công nghệ cao, lừa đảo trực tuyến và rửa tiền. Phía Ấn Độ cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo, huấn luyện và nâng cao năng lực quốc phòng, an ninh.
Về hợp tác hàng hải và khoa học - công nghệ, Ấn Độ mời Việt Nam cử sĩ quan liên lạc quốc tế tại Trung tâm Hợp nhất Thông tin khu vực Ấn Độ Dương (IFC-IOR) tại Gurugram, nhằm tăng cường nhận thức tình hình trên biển.
Thủ tướng Modi hoan nghênh hợp tác với Việt Nam trong xây dựng các cơ sở sản xuất giống và nuôi cá tra, và tạo điều kiện cho hoạt động nhân giống và thu mua vẹm tại Ấn Độ.
Hai bên nhất trí thúc đẩy kết nối các nền tảng thanh toán bán lẻ thông qua mã QR, qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch và giao dịch kinh doanh giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Modi nhất trí lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực cho giai đoạn phát triển mới của quan hệ.
Hai nước đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ mới, gồm hạ tầng số, 6G, trí tuệ nhân tạo, ứng dụng công nghệ vũ trụ và công nghệ hạt nhân, khoa học biển, công nghệ sinh học, dược phẩm, vật liệu tiên tiến và khoáng sản thiết yếu.
Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam mời nước này tham gia vào lĩnh vực điện hạt nhân tại Việt Nam. Hai bên nhất trí xem xét mô hình phù hợp để Ấn Độ tiếp tục cung cấp Cobalt-60 cho Việt Nam.
Về y tế, hai bên nghiên cứu phương án để doanh nghiệp Ấn Độ tham gia đấu thầu cung cấp thuốc tại các cơ sở y tế công lập của Việt Nam từ năm 2027. Hai nước đề xuất Bản ghi nhớ về việc thành lập Trưởng Bộ môn y học cổ truyền Ấn Độ (Ayurveda) tại Việt Nam.
Về giáo dục, văn hóa, hai bên nhất trí củng cố nền tảng xã hội của quan hệ thông qua việc tăng cường hợp tác văn hóa, du lịch, giao lưu nhân dân; phát huy các giá trị tương đồng về văn hóa, lịch sử và tôn giáo; thúc đẩy kết nối hàng không, logistics và hợp tác giữa các địa phương, trung tâm kinh tế, công nghệ của hai nước.
Hai bên ghi nhận du lịch là động lực quan trọng thúc đẩy giao lưu nhân dân và tăng trưởng kinh tế; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ hợp tác du lịch và nhất trí khuyến khích phát triển du lịch hai chiều bền vững, bao trùm, bao gồm du lịch văn hóa và di sản, du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe và các loại hình khác.
Thủ tướng Modi mời du khách Việt Nam tới thăm Con đường Phật giáo tại Ấn Độ. Hoan nghênh việc tăng cường các chuyến bay thẳng giữa hai nước, hai bên khuyến khích cơ quan hàng không dân dụng của hai nước trao đổi nhằm tăng cường hơn nữa kết nối hàng không.
Về các vấn đề khu vực và quốc tế, hai bên khẳng định tiếp tục tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, nhất là Liên Hợp Quốc, ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt.
Sau cuộc hội đàm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Modi đã chứng kiến lễ ký kết và trao nhiều văn kiện hợp tác trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, khoáng sản thiết yếu, y tế, du lịch và văn hóa, tài chính, an ninh mạng, hợp tác địa phương, kiểm toán.
Tin Gốc: Vnexpress

