“Tôi rất thất vọng về người Kurd”, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói tại Nhà Trắng hôm 11/5 khi đề cập nỗ lực vũ trang cho người biểu tình chống chính phủ Iran. “Họ muốn xuống đường nhưng không có vũ khí. Chúng tôi nghĩ người Kurd sẽ giúp chuyển vũ khí, nhưng họ lại khiến chúng tôi thất vọng”.
Theo ông chủ Nhà Trắng, Mỹ đã gửi đi “một số súng và đạn dược”, nhưng lô hàng “đáng lẽ phải được chuyển đi thì bị giữ lại”.
Những phát biểu này tiếp tục thổi bùng tranh cãi vốn xuất hiện từ đầu tháng 3. Tuy nhiên, cho tới nay chưa có bằng chứng công khai nào cho thấy lô hàng này thực sự tồn tại hoặc đã được chuyển tới khu vực người Kurd ở Iraq.
Người Kurd là một trong những cộng đồng sắc tộc lớn nhất thế giới không có quốc gia riêng, dân số khoảng 30-40 triệu người sống rải rác tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq, Iran và Syria.
Các nhóm vũ trang người Kurd được biết đến là một trong những lực lượng chiến đấu hiệu quả tại Trung Đông, từng phối hợp với Mỹ trong chiến dịch chống tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng. Kinh nghiệm tác chiến tại vùng hiểm trở cùng mạng lưới hoạt động dọc biên giới Iran khiến người Kurd được xem là lựa chọn tiềm năng nếu Washington muốn tăng sức ép với Tehran.
Do đó, ngay sau khi Mỹ và Israel phát động cuộc chiến nhằm vào Iran cuối tháng 2, các quan chức của Washington đã xuất hiện trên truyền thông và đề cập khả năng các nhóm đối lập người Kurd ở Iran có thể tham gia gây bất ổn và lật đổ chính phủ nước này.
CNN đầu tháng 3 dẫn các nguồn tin cho biết Tổng thống Trump đã liên lạc với Mustafa Hijri, một trong những thủ lĩnh người Kurd bị Iran truy nã gắt gao nhất. Ông Trump cũng trao đổi về chiến dịch của Mỹ với các thủ lĩnh người Kurd tại Khu tự trị người Kurd ở miền bắc Iraq (KRG).
Theo các nguồn tin, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã lên kế hoạch hỗ trợ lực lượng người Kurd với mục tiêu châm ngòi một cuộc nổi dậy chống chính quyền Iran. CIA không bình luận về thông tin này.
Một tháng sau, Tổng thống Trump nói với Fox News rằng Washington đã gửi “rất nhiều súng trường” cho các nhóm đối lập người Kurd ở Iran, đồng thời tuyên bố người Kurd giữ lại số vũ khí này mà không đưa ra thêm chi tiết nào. Trong những ngày sau đó, ông Trump nhắc lại cáo buộc này rõ ràng hơn, sử dụng từ “lấy cắp”.
Daily Beast ngày 1/5 dẫn lời Tổng thống Trump nói ông “không hài lòng” với cách chuyển giao vũ khí và chỉ một “lượng nhỏ” đến tay người Kurd ở Iran.
“Chúng ta sẽ xem ai đang giữ số vũ khí đó. Tôi không hài lòng với những gì người Kurd đã làm”, ông nói.
Tuyên bố của ông Trump cho thấy dường như có một bên trung gian nào đó đã tham gia quá trình. Thông tin này lập tức gây chấn động KRG, khu vực vốn có quan hệ an ninh chặt chẽ với Mỹ.
Các nhóm vũ trang của người Kurd ở Iran đồng loạt bác bỏ cáo buộc. PJAK cho biết họ “không nhận bất cứ thứ gì”. KDPI khẳng định họ không nhận và thêm rằng không chuyển vũ khí cho người biểu tình tại Iran.
“Người biểu tình không thể xuống đường với súng. Nếu có vũ khí, đó sẽ là chiến tranh chứ không còn là biểu tình nữa”, Mustafa Mawloudi, phó tổng thư ký KDPI, nói.
Nhiều nhóm khác như Komala, PAK hay Khabat phủ nhận được Mỹ hỗ trợ quân sự. Hana Yazdanpanah, đại diện đối ngoại của PAK, cho biết lực lượng này vẫn chủ yếu sử dụng “những khẩu Kalashnikov cũ từng dùng để chiến đấu chống IS”.
Giới chức KRG tại Iraq cũng bác bỏ vai trò trung gian trong kế hoạch của CIA mà truyền thông Mỹ đề cập. Qubad Talabani, phó thủ hiến KRG, nói cuộc đối đầu Mỹ – Iran “không phải cuộc chiến của chúng tôi”.
Hai thế lực chính trị lớn nhất KRG là KDP ở thủ phủ Erbil và PUK tại Sulaymaniyah công khai đổ lỗi lẫn nhau. Một số quan chức PUK cho rằng nếu thực sự tồn tại lô vũ khí Mỹ, khả năng cao nó đi qua Erbil, nơi sân bay thường xuyên tiếp nhận máy bay quân sự Mỹ.
Trong khi đó, KDP phủ nhận liên quan và cho rằng các cáo buộc qua lại chỉ làm tổn hại lợi ích của người Kurd. Majid Shingali, lãnh đạo KDP, nhấn mạnh chính quyền KRG không muốn trở thành một phần trong cuộc chiến với Iran.
Tranh cãi càng trở nên phức tạp sau phát biểu của Bafel Talabani, lãnh đạo PUK. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Anh Piers Morgan, ông không phủ nhận hoàn toàn khả năng lô vũ khí tồn tại.
“Tuyên bố của ông Trump không phải tự nhiên mà có”, Talabani nói, đồng thời mô tả sự việc là “đáng xấu hổ”.
Tuy nhiên, nhiều quan chức và nhà nghiên cứu khu vực cho rằng toàn bộ câu chuyện có thể xuất phát từ thông tin sai lệch hoặc sự phóng đại của Tổng thống Trump. Ông có thể đã nhầm lẫn giữa các nhóm người Kurd tại Iraq, Iran, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ, vốn có quan hệ chồng chéo nhưng không phải là một.
“Những gì Tổng thống Trump nói là không chính xác và chúng tôi đã đề nghị các quan chức Nhà Trắng làm rõ điều đó, nhưng dường như họ khó có thể công khai bác bỏ hoặc nói rằng những phát biểu của ông ấy là không chính xác”, một quan chức người Kurd ở Erbil nói với New Arab.
Người này nhấn mạnh nếu thực sự có một lô vũ khí lớn được chuyển tới khu vực này, thông tin chắc chắn đã bị rò rỉ từ lâu.
“Chỉ cần một viên đạn được chuyển tới đây, cả thế giới đều biết”, quan chức Kurd nói.
Israel chưa từng xác nhận nhưng cũng không phủ nhận chuyện nước này sở hữu vũ khí hạt nhân, điều đã được các quan chức tình báo nắm thông tin từ thập niên 1960.
Trong bức thư gửi Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio mới đây, hơn 20 hạ nghị sĩ đảng Dân chủ do ông Joaquin Castro dẫn đầu kêu gọi Nhà Trắng công khai thừa nhận thông tin này, cho rằng sự im lặng của Washington là không thể biện minh trong bối cảnh xung đột đang xảy ra tại Iran và nguy cơ leo thang quân sự, theo tờ The Washington Post ngày 6.5.
"Washington đang chiến đấu sát cánh với một quốc gia mà chính phủ Mỹ chính thức từ chối thừa nhận chương trình vũ khí hạt nhân tiềm tàng. Rủi ro tính toán sai lầm, leo thang và sử dụng vũ khí hạt nhân trong môi trường này không phải là lý thuyết suông. Quốc hội có trách nhiệm hiến định phải được thông tin đầy đủ về cán cân hạt nhân ở Trung Đông, nguy cơ leo thang từ bất kỳ bên nào trong cuộc xung đột này, cũng như kế hoạch và các phương án dự phòng của chính quyền đối với những kịch bản như vậy. Chúng tôi không tin rằng chúng tôi đã nhận được thông tin đó", các nghị sĩ viết.
Nhóm nghị sĩ yêu cầu Mỹ áp dụng tiêu chuẩn minh bạch tương tự đối với Israel như đối với các quốc gia khác, đồng thời cho rằng nếu không làm vậy, "chính sách không phổ biến vũ khí hạt nhân nhất quán cho Trung Đông", bao gồm cả chương trình hạt nhân của Iran và tham vọng hạt nhân của Ả Rập Xê Út hay UAE, sẽ không thể thực hiện được.
Theo các thông tin được lan truyền, chương trình vũ khí hạt nhân của Israel được xây dựng bí mật từ cuối những năm 1950 nhưng nước này không xác nhận và không có học thuyết nào được công khai về cách thức họ có thể sử dụng những vũ khí đó.
Theo ước tính của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), Tel Aviv được cho là sở hữu từ 80 - 90 vũ khí hạt nhân, bao gồm khoảng 30 quả bom và khoảng 50 đầu đạn tên lửa đạn đạo. Trong cuộc xung đột lần này, Iran cũng đã phóng tên lửa vào thị trấn có cơ sở hạt nhân của Israel.
Ông Avner Cohen, một nhà sử học hàng đầu về chương trình hạt nhân của Israel, cho biết bức thư của nhóm nghị sĩ Mỹ đã phá vỡ một điều cấm kỵ đã tồn tại hơn nửa thế kỷ.
"Đây là điều mà trước đây mọi người không dám làm. Ngay cả việc nêu ra những câu hỏi này một cách công khai cũng là một sự khác biệt so với chuẩn mực lưỡng đảng", ông Cohen, giáo sư tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Middlebury và tác giả cuốn sách "Israel và bom nguyên tử", nói.
Theo ông, nguồn gốc của sự im lặng giữa Mỹ và Israel về vấn đề hạt nhân bắt nguồn từ một thỏa thuận không chính thức giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Thủ tướng Israel Golda Meir vào năm 1969, khi Washington thực sự chấp nhận chính sách mơ hồ về hạt nhân của Israel và đồng ý bảo vệ nước này khỏi sự giám sát quốc tế. "Một mình Israel không thể duy trì chính sách này trong nhiều thập niên nếu không có Mỹ", ông Cohen nói.
Nhà Trắng và Israel chưa bình luận gì về yêu cầu của nhóm nghị sĩ.
Viết trên mạng xã hội X ngày 15.6, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres cho biết: “Tôi nhiệt liệt chúc mừng Mỹ và Iran đã đạt được thỏa thuận hòa bình, trong đó quy định ngừng bắn ngay lập tức và vĩnh viễn, việc mở lại eo biển Hormuz, cũng như một khuôn khổ cho các cuộc đàm phán tiếp theo”.
Ông Guterres cũng bày tỏ lòng biết ơn đến các nước trung gian như Pakistan, Qatar, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê Út và các nước khu vực đã tham gia hỗ trợ các bên đạt thỏa thuận.
Về phía Anh, Thủ tướng Keir Starmer nêu rõ trọng tâm giờ đây phải được chuyển hướng sang việc đảm bảo khôi phục tuyến hàng hải tại eo biển Hormuz và không thu phí. Nhà lãnh đạo Anh lưu ý nếu cần thiết, Anh sẽ làm việc với đối tác để lập phái bộ đa phương do Anh và Pháp dẫn đầu, nhằm triển khai các hành động sau khi các bên đạt thỏa thuận, bao gồm hỗ trợ rà phá bom mìn.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho biết các nhà lãnh đạo nhóm 7 nền kinh tế hàng đầu (G7) sẽ thảo luận vào ngày 15.6 để bàn về việc mở cửa eo biển Hormuz trong dài hạn.
Nhóm 4 nước E4 (Anh, Pháp, Đức, Ý) tiết lộ nhiều bên đã sẵn sàng nới lỏng cấm vận Iran sau khi Washington và Tehran đạt thỏa thuận.
Thủ tướng Qatar Mohammed bin Abdulrahman bin Jassim al-Thani cho hay Doha hoan nghênh thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột. “Chúng tôi mong muốn tất cả các bên tham gia vào các cuộc đàm phán sắp tới với tinh thần tích cực và mang tính xây dựng, điều này sẽ giúp củng cố và phát huy những tiến bộ đã đạt được”, ông viết trên X. Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif đã cảm ơn Qatar vì tham gia nỗ lực hòa giải.
Hiện chưa có phản ứng từ Israel, bên từng tuyên bố rằng không tham gia vào thỏa thuận Mỹ - Iran.
Theo dự thảo bản ghi nhớ (MOU) giữa Mỹ và Iran do Bloomberg đăng tải ngày 15.6, hai bên sẽ chấm dứt cuộc chiến ngay lập tức vào thời điểm ký MOU. Washington bắt đầu dỡ phong tỏa hàng hải, trong khi Tehran sẽ sắp xếp nối lại quy trình quá cảnh của tàu thương mại từ vịnh Ba Tư đến biển Oman và ngược lại. Mỹ cũng sẽ nới lỏng cấm vận Iran.
Sau đó, các bên sẽ tiến tới đàm phán ký thỏa thuận cuối cùng. Vào thời gian này, Mỹ cam kết giải phóng và cho phép Iran sử dụng hoàn toàn các quỹ và tài sản bị đóng băng hoặc hạn chế.
Trong vòng 30 ngày kể từ khi ký MOU, Mỹ đưa hoạt động vận tải hàng hải trở lại công suất tối đa, Iran sẽ khôi phục lưu lượng tàu thương mại quá cảnh trở lại mức trước xung đột và dọn dẹp thủy lôi trên biển.
Trong vòng 60 ngày kể từ khi ký MOU, Iran và Mỹ phải hoàn tất đàm phán và đạt được thỏa thuận sau cùng, sau đó hai bên sẽ thống nhất về các lộ trình chấm dứt cấm vận, tái thiết kinh tế, vấn đề hạt nhân Iran.
Mỹ và Iran chưa bình luận về nội dung chi tiết MOU hai bên đã đồng thuận. Lễ ký kết thỏa thuận Mỹ - Iran dự kiến diễn ra ngày 19.6 tại Thụy Sĩ.
Cơ quan An ninh Hàng hải Vương quốc Anh (UKMTO) thông báo trường hợp trúng tập kích mới nhất trên eo biển Hormuz là một tàu chở dầu. Các cơ quan quân sự khu vực ghi nhận thông tin lúc 13h05 ngày 7/7 theo Giờ Phối hợp Quốc tế - UTC (20h05 giờ Hà Nội).
"Tàu dầu bị tấn công bởi máy bay không người lái (UAV) không rõ lai lịch, đã bị hư hại nhẹ về cấu trúc. Không có trường hợp thương vong hay tác động môi trường nào được trình báo. Tàu tiếp tục hải trình đến cảng tiếp theo", UKMTO cho biết.
Sự việc này nâng tổng số vụ tàu hàng bị tấn công trên eo biển chiến lược tại Trung Đông trong 24 giờ qua lên ba trường hợp, đều xảy ra gần bờ biển Oman. UKMTO khuyến cáo tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz cần hết sức thận trọng và báo cáo ngay mọi hoạt động đáng ngờ.
Hai tàu bị tập kích trước đó gồm tàu chở khí đốt hóa lỏng (LNG) Al-Rekayyat của Qatar và một tàu chở dầu thô mang cờ Arab Saudi, nhiều khả năng là siêu tàu dầu Wedyan, theo các nguồn thạo tin.
Đây là lần đầu tiên kể từ khi xung đột Iran bùng phát vào cuối tháng 2, một tàu LNG của Qatar bị nhắm mục tiêu. Ghi âm điện đàm của thuyền trưởng tàu Al-Rekayyat được tiết lộ cho Reuters cho thấy chiếc này đang có nguy cơ phát nổ vì cháy ở phòng máy.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Qatar Majed Al Ansari quy trách nhiệm vụ tàu Al-Rekayyat cho Iran, gọi đây là "cuộc tấn công không thể chấp nhận nhằm vào an ninh và an toàn của hoạt động hàng hải quốc tế".
Ông Al Ansari cho rằng vụ tấn công là hành động xâm phạm an ninh hàng hải quốc tế và nguồn cung năng lượng toàn cầu. Qatar kêu gọi Iran lập tức chấm dứt mọi hành động gây tổn hại đến an ninh khu vực, đe dọa an toàn hàng hải quốc tế. Doha tuyên bố Tehran phải chịu hoàn toàn trách nhiệm pháp lý đối với vụ tấn công, cũng như mọi thiệt hại hoặc hậu quả phát sinh.
Giới chức Iran đến nay chưa bình luận về loạt vụ tập kích tàu hàng. Tehran thời gian qua tuyên bố hành lang duy nhất mà tàu thuyền được phép sử dụng là tuyến đường chạy dọc theo bờ biển của nước này. Mọi hoạt động di chuyển qua Hormuz phải do lực lượng Iran điều phối và những lộ trình khác là "không thể chấp nhận và hết sức nguy hiểm".
Oman cùng Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) tháng 6 phối hợp mở luồng di chuyển qua lãnh hải nước này để đưa các tàu hàng cùng thủy thủ mắc kẹt ở vịnh Ba Tư rời đi. Tuyến hàng hải thay thế này đã trực tiếp làm suy yếu quyền kiểm soát Hormuz của Iran, khiến Tehran lập tức phản đối.
Theo bản ghi nhớ gồm 14 điểm giữa Mỹ và Iran được ký hồi tháng trước, Iran và Oman sẽ cùng các nước Vùng Vịnh thảo luận về cơ chế quản lý và cung cấp dịch vụ hàng hải tại eo biển Hormuz. Tuy nhiên, Tehran nhiều lần khẳng định sẽ không quay lại cơ chế trước xung đột, vốn cho phép tàu thuyền tự do đi qua tuyến hàng hải chiến lược này.