Trả lời phỏng vấn truyền hình nhà nước cuối tuần qua, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết Moscow đã nhận được một đề xuất từ Ukraine về việc hạn chế sử dụng tên lửa tầm xa, giới hạn các hoạt động quân sự trong phạm vi 4 vùng gồm Kherson, Zaporizhia, Donetsk và Lugansk.
Tuy nhiên, ông Putin cho rằng đề xuất này được đưa ra là vì các lực lượng của Ukraine đang chịu áp lực dọc theo chiến tuyến dài 1.250km.
“Đã rõ lý do tại sao đề xuất này được đưa ra, bởi vì các cuộc phản công của chúng tôi sâu vào lãnh thổ Ukraine mạnh hơn nhiều, có tác động lớn hơn”, ông Putin nói.
Ông phát biểu thêm: “Xét đến tình trạng thiếu hụt nhân lực trầm trọng của họ, các lực lượng vũ trang Ukraine rõ ràng tin rằng đây có thể là sự cứu rỗi của họ. Nhưng điều đó không nằm trong kế hoạch của chúng tôi”.
Các quan chức Ukraine vẫn chưa bình luận công khai về các phát biểu của ông Putin, bao gồm cả những tuyên bố của nhà lãnh đạo Nga rằng Kiev đã gửi một đề xuất nhằm hạn chế việc sử dụng tên lửa tầm xa.
Ông Putin thừa nhận Moscow đã phải tăng cường năng lượng phòng không để chống lại các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái ngày càng gia tăng của Ukraine nhằm vào ngành công nghiệp dầu mỏ của Nga trong những tháng gần đây.
Tuần trước, Ukraine đã sử dụng máy bay không người lái tầm xa để tấn công hai cơ sở dầu mỏ ở Kerch thuộc bán đảo Crimea và cảng Kavkaz ở Krasnodar. Cả hai nơi này đều được sử dụng để vận chuyển nhiên liệu đến các chiến tuyến của Nga. Ukraine cũng tấn công các nhà mạng điện, dẫn đến việc đình chỉ bán nhiên liệu ở Crimea.
Vào hôm 28/6, Thống đốc Yaroslavl Mikhail Yevrayev cũng cho biết trên Telegram rằng khu vực phía đông bắc Moscow đã bị tấn công bởi máy bay không người lái của Ukraine và các lối ra từ thủ phủ của vùng đã tạm thời bị đóng cửa.
Trong khi đó, tại vùng Belgorod nằm trên biên giới phía đông bắc của Ukraine, một người khác đã thiệt mạng ở quận Shebekinsky trong suốt 64 cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Ukraine trong vòng 24 giờ.
Bất chấp làn sóng tấn công của Ukraine, ông Putin khẳng định: “Tất cả các cuộc không kích, bất kể chúng bắn trúng cơ sở hạ tầng nào của chúng tôi, hoàn toàn không ảnh hưởng đến tình hình trên mặt trận, trên đường tiếp xúc chiến đấu”.
Ông cho biết nhiệm vụ hiện tại của Nga là “nhanh chóng và gia tăng đáng kể việc sản xuất các hệ thống phòng không đang được cần đến nhất”.
Ông Ian Lesser, nghiên cứu viên ưu tú tại Quỹ German Marshall của Mỹ, nhận định trên thực tế, Nga có nguồn lực lớn hơn đáng kể đối với các cuộc tấn công tầm xa. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Moscow muốn giữ vững lợi thế này và tránh bất kỳ sự thỏa hiệp nào trên mặt trận này, ít nhất là vào thời điểm hiện tại.
“Moscow chắc chắn sẽ xem khả năng tấn công tầm xa của chính mình như một công cụ răn đe, có lẽ càng có ý nghĩa hơn khi Ukraine mở rộng khả năng tự tấn công các mục tiêu ở Nga ở khoảng cách xa hơn”, ông Lesser nói thêm.
Các quan chức Ukraine vẫn chưa bình luận về triển vọng hạn chế các cuộc tấn công tầm xa, nhưng vào đầu tháng 6, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã viết một bức thư ngỏ gửi Tổng thống Putin và đề xuất một cuộc gặp trực tiếp để thảo luận về việc chấm dứt xung đột.
Ông Zelensky lưu ý, khi Mỹ đang tập trung vào cuộc chiến với Iran, “sẽ là sai lầm nếu chỉ đơn giản là chờ đợi cho đến khi cuộc chiến ở châu Âu trở lại trung tâm sự chú ý của họ”, và đã gợi ý một con đường dẫn đến hòa bình.
“Ukraine đề xuất chấm dứt cuộc chiến này thông qua sự tham gia trực tiếp giữa chúng tôi và ông Putin. Tôi đề xuất một cuộc gặp”, ông nói thêm.
Ông Putin cho biết Moscow đã sẵn sàng gia hạn các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, ông tuyên bố những cuộc đàm phán này sẽ dựa trên cơ sở những gì đã được đề xuất tại các cuộc đàm phán tổ chức ở Istanbul vào năm 2022, bao gồm cả yêu cầu của Nga rằng Ukraine phải nhượng vùng Donbass, nơi hiện phần lớn đang nằm dưới sự kiểm soát của Nga.
Báo Washington Post ngày 29/4 dẫn lời các quan chức Mỹ cho biết USS Gerald R. Ford sẽ bắt đầu hành trình về nước trong vài ngày tới. Chưa rõ thời điểm tàu khởi hành, song một người nói rằng chiến hạm này dự kiến cập cảng tại bang Virginia vào giữa tháng 5.
USS Gerald R. Ford đang hoạt động ở biển Đỏ và không tham gia chiến dịch phong tỏa cảng biển Iran. Sau khi trở về cảng, tàu sẽ trải qua quá trình sửa chữa và bảo trì toàn diện. Động thái này khiến Mỹ còn hai tàu sân bay ở Trung Đông là USS George H.W. Bush và USS Abraham Lincoln.
Lầu Năm Góc chưa bình luận về thông tin.
Nhóm tác chiến tàu sân bay Ford rời căn cứ Norfolk ở bang Virginia từ cuối tháng 6/2025. Tính đến ngày 29/4, USS Gerald R. Ford đã hoạt động ngoài khơi 310 ngày, tức là hơn 10 tháng liên tiếp, và lập kỷ lục về đợt triển khai dài nhất của một tàu sân bay Mỹ trong nhiều thập kỷ.
Thời gian triển khai kéo dài dẫn đến nguy cơ thủy thủ đoàn gặp vấn đề về tinh thần và suy giảm năng lực sẵn sàng chiến đấu của chiến hạm. Cựu chuẩn đô đốc Mỹ Mark Montgomery cho biết trang thiết bị trên tàu sẽ bắt đầu hỏng hóc sau khoảng 8 tháng không được về cảng bảo dưỡng và sửa chữa.
Đám cháy bùng phát trong khu giặt là của tàu sân bay Ford hồi giữa tháng 3 đã hoành hành suốt hơn 30 giờ, khiến hàng trăm thủy thủ phải chuyển chỗ nghỉ và hải quân Mỹ phải đưa đệm dành cho tàu USS John F. Kennedy tới bổ sung chiến hạm này.
Giới lãnh đạo Lầu Năm Góc từng thừa nhận về những thách thức mà thủy thủ đoàn phải đối mặt trong thời gian dài làm nhiệm vụ trên biển.
Tại phiên điều trần ở quốc hội Mỹ hôm 29/4, nhiều nghị sĩ chất vấn Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth rằng cái giá mà con tàu và thủy thủ đoàn phải trả có thực sự cần thiết hay không. Ông Hegseth trả lời rằng quyết định gia hạn được đưa ra sau "quá trình cân nhắc khó khăn", có tham vấn với hải quân Mỹ.
Làm nhiệm vụ trên biển quá lâu không chỉ ảnh hưởng đến khả năng hoạt động trong tương lai của chính USS Gerald R. Ford, mà còn tác động đến mức độ sẵn sàng của các tàu chiến khác, bởi các nhà máy của Mỹ có năng lực giới hạn và thường xuyên chậm tiến độ bảo dưỡng tàu hải quân.
USS Gerald R. Ford là chiến hạm đắt nhất trong lịch sử hải quân Mỹ với mức giá bàn giao gần 13 tỷ USD. Tuy nhiên, chiến hạm từng gặp nhiều vấn đề trong quá trình chế tạo, dẫn đến tình trạng chậm tiến độ và đội giá, cũng như trải qua nhiều trục trặc khi triển khai làm nhiệm vụ.
Quân đội Ukraine (AFU) đang tích cực triển khai UAV tấn công Hornet, với giá thành lên tới 12.000 USD/chiếc, trong các cuộc tấn công vào các khu vực do Nga kiểm soát. Theo kênh Telegram quân sự Voyennaya Khronika, điểm nổi bật của Hornet nằm ở độ tin cậy cao, do được sản xuất và lắp ráp tại Mỹ, khác biệt hoàn toàn so với các sản phẩm tự chế của Ukraine.
Truyền thông Nga đánh giá cao tính năng kỹ chiến thuật và chất lượng của Hornet, mô tả chúng là "rất ấn tượng". Các UAV này thường tiếp cận các tuyến đường giao thông huyết mạch, bay dọc theo đó để săn tìm mục tiêu. Tại khu vực Donetsk, Hornet thường xâm nhập qua sông Kalmius, cho thấy AFU đang tận dụng triệt để cơ sở dữ liệu về các tuyến đường và cơ sở hậu phương của Nga.
Trang tin Militarnyi của Ukraine nhấn mạnh rằng Nga đã nhận thức được mối đe dọa nghiêm trọng từ Hornet, vượt xa các UAV tự chế. Hornet là loại UAV cánh cố định tầm trung, được phát triển bởi công ty Swift Beat LLC của Mỹ.
Sau khi được Mỹ bàn giao hàng loạt vào mùa xuân năm 2026, AFU đã sử dụng Hornet rộng rãi trong chiến dịch "phong tỏa hậu cần", nhằm tấn công có chọn lọc vào các phương tiện vận chuyển quân sự, xe chở nhiên liệu và các tuyến đường tiếp tế dọc hành lang đất liền từ Nga đến Crimea (đường cao tốc R-280 “Novorossiya” Mariupol - Melitopol và đường cao tốc H-20 Donetsk - Mariupol).
Hornet không chỉ là một thách thức quân sự mà còn là một thách thức kỹ thuật đối với quân đội Nga (RFAF). Mối nguy hiểm chính của nó không nằm ở kích thước hay khối lượng chất nổ, mà ở hệ thống điều khiển và thuật toán dẫn đường.
UAV Hornet được trang bị hệ thống định vị quang học và hệ thống thị giác máy tính (các yếu tố trí tuệ nhân tạo). Nó quét địa hình bên dưới so với bản đồ được tải sẵn, tự động phát hiện và khóa mục tiêu (như xe tải trên đường cao tốc) dựa trên hình dáng. Điều này khiến các thiết bị gây nhiễu tín hiệu vệ tinh thông thường trở nên không hiệu quả.
Một chiến thuật sáng tạo của AFU là sử dụng khinh khí cầu tầm cao làm phương tiện mang phóng, giúp tiết kiệm pin và tăng tầm hoạt động của Hornet lên 150-160km. Khinh khí cầu bí mật đưa Hornet lên độ cao tối đa 8km, sau đó UAV tách ra và lượn về phía mục tiêu, gần như không tạo ra tiếng động hay dấu hiệu nhiệt.
Tải trọng chiến đấu của Hornet dao động từ 1,5 đến 4,5kg (chủ yếu là đầu đạn nổ lõm), đủ để phá hủy xe tải hoặc xe bồn. Đã có trường hợp Hornet được dùng để rải mìn từ xa.
Phản ứng của quân đội Nga: Từ phòng không đến AI đối AI
Trước mối đe dọa từ Hornet, Nga đã triển khai nhiều biện pháp đối phó. Militarnyi cho biết, hệ thống tên lửa và pháo phòng không Pantsir-S1 và Tor của Nga đã bắn hạ nhiều UAV loại này khi phát hiện ra chúng.
Vỏ của Hornet làm bằng polypropylene dạng bọt, khiến nó gần như không phản hồi sóng radar. Do đó, việc phát hiện bằng mắt thường và khí tài hồng ngoại đóng vai trò quan trọng.
Các phân đội phòng không cơ động, trang bị pháo phòng không hạng nhẹ (ZU-23-2 cỡ 23mm) hoặc súng máy hạng nặng 14,5mm và khí tài quan sát ảnh nhiệt, đang được tăng cường dọc hành lang hậu cần Crimea để đánh chặn UAV ở độ cao thấp (thường 300-500m).
Về UAV đánh chặn trực tiếp, Military Mechanics tiết lộ RFAF đã sử dụng UAV đánh chặn Yolka nhỏ gọn, cũng được trang bị trí tuệ nhân tạo, để tiêu diệt Hornet rất hiệu quả.
Do Hornet là một nền tảng thử nghiệm công nghệ AI của Mỹ trong điều kiện chiến đấu, các cơ quan kỹ thuật của Nga đã liên tục điều chỉnh phần mềm hệ thống tác chiến điện tử để phù hợp với các tần số và thuật toán mới của đối phương.
Kyiv Post, dẫn nguồn tin từ Không quân Ukraine, cho biết quân nhân và kỹ sư Nga đã tiếp cận được các mảnh vỡ và thậm chí cả mẫu vật hoàn chỉnh của UAV Hornet (Ukraine gọi là Martian-2). Việc nghiên cứu hình dáng khí động học đã giúp điều chỉnh các trạm radar hay trinh sát ảnh nhiệt chính xác hơn để phát hiện loại mục tiêu "khó nhằn" này.
Một kỹ sư Ukraine giấu tên tiết lộ với Kyiv Post rằng các mạch điều khiển tương tự Hornet đã xuất hiện trên UAV Molniya-2 của Nga. Mặc dù việc đảo ngược kỹ thuật rất khó khăn do các bo mạch điều khiển của Hornet được trang bị mô-đun xóa bộ nhớ trong trường hợp sự cố hoặc truy cập trái phép, nhưng không thể loại trừ khả năng "bộ phận tự hủy" bị hư hại, biến chúng thành chiến lợi phẩm giá trị.
Việc Nga có giải mã được "bộ não Mỹ" của Hornet hay không vẫn còn là ẩn số, nhưng RFAF hiện cũng sở hữu nhiều UAV được trang bị trí tuệ nhân tạo. Trên hướng mặt trận Kherson, các đơn vị trinh sát và lực lượng chiến đấu không người lái thuộc Cụm quân Dnepr của Nga đã bắt đầu sử dụng UAV Aurora-1MT mới, tích hợp AI.
Bộ xử lý tensor tích hợp trên Aurora-1MT cho phép mạng nơ-ron xử lý luồng video và nhận dạng thiết bị hoặc nhân sự của AFU trong thời gian thực khi đang bay, sau đó điều khiển hỏa lực như pháo binh hoặc tên lửa phòng không nhắm mục tiêu.
Qua việc đối phó với UAV Hornet, RFAF không chỉ thu được kinh nghiệm quý báu trong việc chống lại các loại vũ khí tiên tiến của Mỹ mà còn tiếp cận các công nghệ sẽ định hình sự phát triển của quân đội Nga trong nhiều năm tới.
Iran muốn thu phí các công ty công nghệ lớn nhất thế giới đối với việc sử dụng các tuyến cáp Internet ngầm được đặt dưới eo biển Hormuz. Truyền thông Iran cảnh báo, lưu lượng truy cập có thể bị gián đoạn nếu các công ty này không trả tiền.
Theo các nguồn tin, các nhà lập pháp Iran đã thảo luận về một kế hoạch vào tuần trước, có thể nhắm mục tiêu vào các tuyến cáp ngầm kết nối các quốc gia Ả rập với châu Âu và châu Á.
“Chúng tôi sẽ áp thuế đối với các tuyến cáp Internet”, người phát ngôn quân đội Iran Ebrahim Zolfaghari cho biết trên mạng xã hội X vào tuần trước.
Các phương tiện truyền thông liên kết với Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran (IRGC) cho biết kế hoạch khai thác doanh thu từ eo biển của Tehran sẽ yêu cầu các công ty như Google, Microsoft, Meta và Amazon phải tuân thủ luật pháp Iran, trong khi các công ty cáp ngầm sẽ phải trả phí cấp phép cho việc đi qua của cáp, kèm theo quyền sửa chữa và bảo trì được trao độc quyền cho các công ty Iran.
Một số công ty trong số này đã đầu tư vào các tuyến cáp chạy qua eo biển Hormuz và vịnh Ba Tư, nhưng hiện chưa rõ liệu các tuyến cáp đó có đi qua lãnh hải Iran hay không.
Cũng chưa rõ làm thế nào Iran có thể buộc các gã khổng lồ công nghệ phải tuân thủ, vì họ bị cấm thực hiện các khoản thanh toán cho Iran do các lệnh trừng phạt nghiêm ngặt của Mỹ.
Trong bối cảnh Mỹ có dấu hiệu nối lại chiến dịch tấn công quân sự, Iran đang ngày càng ra tín hiệu rằng họ có các công cụ mạnh mẽ trong tay ngoài lực lượng quân sự. Động thái này nhấn mạnh tầm quan trọng của eo biển Hormuz ngoài việc xuất khẩu năng lượng, khi Tehran tìm cách biến lợi thế địa lý của mình thành sức mạnh chiến lược và kinh tế lâu dài.
Các tuyến cáp ngầm cấu thành nên xương sống của kết nối toàn cầu, vận chuyển phần lớn lưu lượng dữ liệu và Internet của thế giới. Việc nhắm mục tiêu vào chúng sẽ ảnh hưởng đến nhiều thứ hơn là chỉ tốc độ internet, đe dọa mọi thứ từ hệ thống ngân hàng, thông tin liên lạc quân sự và cơ sở hạ tầng đám mây AI cho đến làm việc từ xa, trò chơi trực tuyến và các dịch vụ phát trực tuyến.
Một số tuyến cáp ngầm xuyên lục địa lớn đi qua eo biển Hormuz. Do các rủi ro an ninh lâu nay với Iran, các nhà vận hành quốc tế đã cố tình né tránh lãnh hải Iran, thay vào đó tập trung phần lớn các tuyến cáp thành một dải hẹp dọc theo phía Oman của tuyến đường thủy.
Tuy nhiên, Alan Mauldin, giám đốc nghiên cứu tại TeleGeography, một công ty nghiên cứu viễn thông, cho biết 2 trong số các tuyến cáp đó, Falcon và Gulf Bridge International (GBI), chạy qua lãnh hải của Iran.
Iran không nêu rõ họ sẽ nhắm vào các tuyến cáp, nhưng họ nhiều lần tuyên bố về ý định trừng phạt các đồng minh của Washington trong khu vực.
Được trang bị các thợ lặn chiến đấu, tàu ngầm nhỏ và thiết bị không người lái dưới nước, IRGC tạo ra một mối đe dọa đối với các tuyến cáp dưới nước. Bất kỳ cuộc tấn công nào cũng có thể kích hoạt một “thảm họa kỹ thuật số” mang tính dây chuyền trên nhiều châu lục.
Các nước láng giềng của Iran trên khắp vịnh Ba Tư có thể phải đối mặt với tình trạng gián đoạn nghiêm trọng đối với kết nối Internet, có khả năng tác động đến các hoạt động xuất khẩu dầu khí quan trọng cũng như ngành ngân hàng.
Eo biển Hormuz là một hành lang kỹ thuật số then chốt giữa các trung tâm dữ liệu châu Á như Singapore và một số trạm cập bờ cáp ở châu Âu. Bất kỳ sự gián đoạn nào cũng có thể làm chậm các giao dịch tài chính và giao dịch xuyên biên giới giữa châu Âu và châu Á, trong khi các khu vực của Đông Phi có thể phải đối mặt với tình trạng mất Internet diện rộng.
Thậm chí, nếu các lực lượng ủy nhiệm của Iran quyết định áp dụng các chiến thuật tương tự ở biển Đỏ, thiệt hại có thể còn tồi tệ hơn nhiều.