Trường Y và Khoa học sức khỏe của HUTECH được thành lập với định hướng phát huy thế mạnh về công nghệ, chú trọng chất lượng đào tạo và gắn trách nhiệm của cơ sở giáo dục với người học, người bệnh và xã hội.
Các ngành thực hiện tuyển sinh và đào tạo năm 2026 thuộc Trường Y và Khoa học sức khỏe của HUTECH gồm có y khoa (mới mở), dược học, điều dưỡng và kỹ thuật xét nghiệm y học.
Thời gian tới, trường sẽ tiếp tục chuẩn bị đầy đủ điều kiện bảo đảm chất lượng để mở các ngành y học cổ truyền và răng hàm mặt.
PGS-TS-BS Nguyễn Thanh Hiệp, cố vấn cao cấp của Chủ tịch Hội đồng trường HUTECH, đồng thời là Hiệu trưởng Trường Y và Khoa học sức khỏe HUTECH, cho biết: “Với Trường Y và Khoa học sức khỏe, HUTECH bước vào một giai đoạn phát triển mới trong chiến lược đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực. Đây cũng là cam kết dài hạn, nghiêm túc của nhà trường trong việc đóng góp vào sự phát triển nguồn nhân lực y tế có chuyên môn vững vàng, giàu y đức, và năng lực công nghệ và sẵn sàng thích ứng với những thay đổi của y học tương lai”.
Được biết, năm 2026, các ngành y khoa, dược học, điều dưỡng, kỹ thuật xét nghiệm y học của Trường Y và Khoa học sức khỏe HUTECH tuyển sinh theo các phương thức xét kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT, học bạ, điểm thi V-SAT và điểm đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia TP.HCM.
Đồng thời thực hiện xét tuyển thẳng, ưu tiên xét tuyển theo quy định của Bộ GD-ĐT và xét tuyển theo các chứng chỉ quốc tế như SAT, ACT, A-Level, IB theo quy định của trường.
Đối với nhóm ngành khoa học sức khỏe, thí sinh cần đáp ứng thêm các điều kiện theo quy định hiện hành. Riêng các ngành y khoa và dược học, thí sinh cần có học lực cả năm lớp 12 đạt loại tốt/giỏi trở lên hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8,0 trở lên.
Thí sinh trúng tuyển các ngành học này của trường năm 2026 được nhận học bổng 30% học phí toàn khóa.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đến ngày 9/4, hơn 200 đại học đã công bố phương án tuyển sinh năm nay, trong đó nhiều trường nêu học phí dự kiến. Hiện, Đại học Tân Tạo (Tây Ninh) có mức thu cao nhất - 150 triệu đồng với ngành Y khoa. Một số ngành ở vài trường thu dưới 18 triệu đồng như ở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế; Học viện Quản lý giáo dục, Đại học Đông Đô (Hà Nội).
Học phí cao thường ở khối ngành Y Dược hoặc với các chương trình liên kết quốc tế, định hướng nghề nghiệp, chất lượng cao. Với chương trình chuẩn, các trường thu chủ yếu trong khoảng 20-40 triệu đồng.
So với năm ngoái, hầu hết tăng học phí trong khoảng 10%, một số trường tăng mạnh hơn như Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (khoảng 12-47%).
Học phí đại học năm 2025-2027 dự kiến như sau:
TT
Trường
Học phí (triệu đồng/năm)
1
Đại học Ngoại thương
28-32 (chương trình chuẩn)
34-39 (chương trình tích hợp)
50-54 (chất lượng cao)
50-70 (định hướng nghề nghiệp và phát triển quốc tế)
77-88 (tiên tiến)
2
Đại học Kinh tế Quốc dân
20-28 (chương trình chuẩn)
45-70 (tiên tiến, chất lượng cao, định hướng ứng dụng POHE)
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
31-67
4
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
19,1-40
5
Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
38-44
6
Trường Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội
35-58
7
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
48 (chính quy)
93,3-111,2 (liên kết quốc tế)
8
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
34,2-38,2
9
Đại học Dược Hà Nội
28-58 (hệ đại trà)
150 (liên kết đào tạo)
10
Đại học Công nghiệp Hà Nội
25-31 (chương trình chuẩn)
36-44 (đào tạo bằng tiếng Anh)
11
Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội
59-130
12
Học viện Ngân hàng
27,8-29,4 (chuẩn)
45 (chất lượng cao)
50 (liên kết quốc tế, định hướng Nhật)
13
Đại học Thương mại
25,75-30,69 (chương trình chuẩn)
42,35 (định hướng nghề nghiệp)
50 (chương trình tiên tiến)
65 (song bằng quốc tế)
14
Học viện Tài chính
25-35 (chương trình chuẩn)
50-55 (định hướng chứng chỉ quốc tế)
75-80 (liên kết đào tạo)
15
Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
20-25 (chương trình chuẩn)
16
Đại học Xây dựng Hà Nội
20,9 (chương trình chuẩn)
37 (liên kết quốc tế)
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18,1 (chương trình chuẩn)
38,2 (chương trình đạt kiểm định)
18
Đại học Mở Hà Nội
23,7-25,3
19
Học viện Phụ nữ Việt Nam
20,7-22,68
20
Học viện Quản lý giáo dục
17,9-20,9
21
Đại học Y tế công cộng
21,01-38,57
22
Đại học Thủ đô Hà Nội
19-22,2
23
Đại học Công đoàn
20,85-25,85 (đại trà)
32 (chương trình định hướng chuyên sâu nghề nghiệp quốc tế)
24
Học viện Chính sách và Phát triển
28 (chương trình chuẩn)
35-40 (chất lượng cao)
35 (định hướng nghề nghiệp quốc tế)
25
Đại học Phenikaa (Hà Nội)
28-128
26
Đại học FPT
46,44-94,8 (học tại Hà Nội, TP HCM)
32,52-66,36 (Đà Nẵng, Cần Thơ)
23,22-47,4 (Quy Nhơn)
27
Đại học Thăng Long (Hà Nội)
35,1-54
28
Đại học CMC (Hà Nội)
37,4-44,23
29
Đại học Đại Nam (Hà Nội)
35,7-99
30
Đại học Thành Đô (Hà Nội)
24-52,5
31
Đại học Đông Đô (Hà Nội)
17,49-29,4
32
Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương (Hải Phòng)
29,26-47,89
33
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên
18-21,9 (hệ đại trà)
28,9 (chương trình tiên tiến)
34
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
18
35
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
17,9-26,03
36
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
27,7-38
37
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
24,8-26,7
38
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt - Hàn, Đại học Đà Nẵng
17,9-20,9
39
Trường Đại học Quy Nhơn (Gia Lai)
20,75-25 (chương trình đại trà)
40
Đại học Phan Châu Trinh (Đà Nẵng)
24-93,5
41
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
35,8 (chương trình dạy bằng tiếng Việt)
55 (Co-op tiếng Anh bán phần)
73,5 (dạy học bằng tiếng Anh)
42
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP HCM
24,78-30,85
43
Đại học Y Dược TP HCM
30-90
44
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
47-81
45
Đại học Sài Gòn
21-53
46
Đại học Tôn Đức Thắng
31,26-68,46 (chương trình chuẩn)
55,6-64 (tiên tiến)
78-88 (học bằng tiếng Anh)
75-83 (liên kết quốc tế)
20,5-24 (phân hiệu Khánh Hòa)
47
Đại học Văn hóa TP HCM
19,91
48
Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
80-88 (bao gồm 6 cấp độ tiếng Anh)
49
Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP HCM
42
50
Đại học Việt - Đức (Bình Dương)
43,7-46,6
51
Đại học Thủ Dầu Một (TP HCM)
25,65-31,35
52
Đại học Tân Tạo (Tây Ninh)
25-150
Lưu ý:
- Với các trường công bố mức thu theo tín chỉ, học phí trung bình năm được ước tính như sau: [giá tín chỉ x tổng số tín chỉ của chương trình]/số năm học.
- Với nhóm công bố học phí theo kỳ, học phí năm học 2026-2027 được ước tính theo số kỳ trong năm đầu đại học.
- Với các trường công bố học phí cả khóa, học phí một năm được ước tính bằng cách chia trung bình cho số năm học.
- Học phí các trường thường chưa bao gồm các tín chỉ Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Giáo dục thể chất hoặc tiếng Anh.
Học phí đại học ba năm qua đều tăng, một phần do trần học phí tăng theo Nghị định số 97 (năm 2023) của Chính phủ.
Theo đó, mức cao nhất được thu ở các đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên năm học 2026-2027 là 1,71 - 3,5 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn khoảng 11% so với năm học trước.
Ở các trường đã tự đảm bảo chi thường xuyên (tự chủ), học phí có thể gấp 2,5 lần mức trần. Với chương trình đã được kiểm định, các trường tự xác định học phí.
Dương Tâm
Nguồn: https://vnexpress.net/hon-50-dai-hoc-cong-bo-hoc-phi-cao-nhat-150-trieu-dong-5059911.html

Phần lớn thông tin về Nghị định 88/2026 (NĐ 88) đang được nhìn dưới góc độ tiện ích. Học bạ và bằng cấp nằm gọn trong điện thoại, có giá trị pháp lý tương đương bản giấy, người dân không còn phải xin sao y, công chứng. Đó là một bước tiến của chính phủ số trong giáo dục.
Điều đáng bàn hơn nằm ở bản chất pháp lý của hồ sơ vừa được tạo ra khi phụ huynh lo ngại rằng ai chịu trách nhiệm khi dữ liệu trong đó bị lộ.
Hồ sơ học tập suốt đời, theo điều 8 NĐ 88 gồm thông tin học bạ ghi nhận toàn bộ quá trình học tập, kết quả học tập và rèn luyện của người học, cùng thông tin về văn bằng, chứng chỉ. Tuyệt đại đa số dữ liệu này được tạo lập trong những năm chủ thể còn là trẻ em. Đây trước hết là một hệ thống dữ liệu trẻ em, chỉ là nó sẽ đi theo người đó đến hết cuộc đời. Nghị định xác định thời hạn lưu trữ hồ sơ này là vĩnh viễn và theo điểm b khoản 3 điều 12 thì dữ liệu sau khi được lưu trữ hợp lệ sẽ được chia sẻ, tích hợp tự động lên ứng dụng định danh quốc gia VNeID.
Tự động nghĩa là không có một thời điểm nào dừng lại để hỏi ý kiến của phụ huynh. Vĩnh viễn nghĩa là không có điểm kết thúc, không có cơ chế để dữ liệu cũ tự rời khỏi hệ thống. NĐ 88 không phải không nhắc đến bảo vệ dữ liệu. Điều 4 yêu cầu mọi hoạt động xử lý dữ liệu giáo dục tuân theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, giao dịch điện tử, đồng thời giới hạn việc thu thập, xử lý dữ liệu người học chỉ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhưng đó là những quy định dẫn chiếu. Chúng chỉ về một đạo luật khác chứ chưa tự mình dựng lên cơ chế bảo vệ cụ thể cho chính dòng dữ liệu mà nghị định này khai sinh.
Khoảng trống đầu tiên nằm ở mắt xích yếu nhất của chuỗi dữ liệu. An ninh mạng cho cơ sở dữ liệu quốc gia về GD-ĐT được giao cho Bộ Công an thẩm định, giám sát, đặt trên hạ tầng Trung tâm dữ liệu quốc gia. Đó là đầu cuối được canh giữ tốt nhất. Nhưng dữ liệu của một đứa trẻ không sinh ra ở đó. Nó sinh ra ở phòng giáo vụ của một trường tiểu học, trên phần mềm quản lý do một doanh nghiệp (DN) cung cấp. Điều 22 NĐ 88 cho phép cơ sở giáo dục được quyền lựa chọn sử dụng hệ thống dùng riêng do các DN cung cấp. Như vậy điểm khởi đầu của dữ liệu, nơi học bạ một học sinh lần đầu được số hóa, lại nằm trong tay khu vực tư nhân, ở cấp trường - nơi gần như không có đủ năng lực công nghệ thông tin và pháp lý để tự giám sát nhà cung cấp.
Đây mới là vấn đề pháp lý cốt lõi. Theo luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, quan hệ giữa nhà trường và DN phần mềm là quan hệ giữa bên kiểm soát dữ liệu và bên xử lý dữ liệu. Trên lý thuyết, nhà trường là bên chịu trách nhiệm, nhưng trên thực tế DN mới là bên nắm hạ tầng, nắm máy chủ, nắm cả đội ngũ kỹ thuật trực tiếp tiếp xúc dữ liệu. Một hiệu trưởng trường tiểu học gần như không thể kiểm tra được máy chủ của nhà cung cấp đặt ở đâu, ai có quyền truy cập, dữ liệu có bị dùng cho mục đích khác hay không.
NĐ 88 trao cho Bộ GD-ĐT quyền quy định tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn, bảo mật cho các hệ thống dùng riêng, nhưng bản thân nghị định chưa đặt ra 3 thứ tối thiểu mà một cơ chế bảo vệ trẻ em cần có, gồm hợp đồng xử lý dữ liệu phân định rõ trách nhiệm bồi thường về phía DN, nghĩa vụ thông báo sự cố trong một thời hạn cố định và lệnh cấm dùng dữ liệu học sinh cho bất kỳ mục đích thứ cấp nào như phân tích thương mại, quảng cáo hay huấn luyện trí tuệ nhân tạo.
Khoảng trống thứ hai là cơ chế đồng ý. Điều 24 luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 quy định với trẻ em thì người đại diện theo pháp luật thay mặt thực hiện quyền của chủ thể dữ liệu. Nhưng khi NĐ 88 cho dữ liệu tích hợp tự động, không hề có một thời điểm nào phụ huynh được hỏi. Việc tạo lập học bạ là chức năng của nhà trường nên về kỹ thuật pháp lý, nó không cần sự đồng ý riêng. Hệ quả là phụ huynh có quyền được biết nhưng không có một điểm dừng để phản đối. Quyền được biết mà thiếu điểm dừng để nói không thì trên thực tế chỉ còn là một lời thông báo.
Khoảng trống thứ ba là nguy cơ dữ liệu bị buộc phải chia sẻ. Một khi hồ sơ học tập có giá trị pháp lý tương đương bản giấy và nằm sẵn trên một ứng dụng mà theo công bố của Bộ Công an hồi tháng 1.2026 đã có hơn 67 triệu tài khoản kích hoạt, thì sẽ có lúc nhà tuyển dụng, ngân hàng hay một bên thứ ba yêu cầu cá nhân trình toàn bộ hồ sơ ấy. Khoản 4 điều 12 cho phép khai thác dữ liệu hồ sơ học tập qua các ứng dụng khác. Cái được giới thiệu là tiện ích của công dân hoàn toàn có thể trở thành một nghĩa vụ trên thực tế. Khi đó, lịch sử học tập trọn vẹn của một người, gồm cả những lần thi lại, những năm gián đoạn, cả ngôi trường từng theo học vốn có thể phản ánh hoàn cảnh gia đình, đều bị phơi ra trong một quan hệ mà bên yếu thế không thật sự có quyền từ chối.
Trước mốc 1.1.2027 là thời hạn Bộ GD-ĐT phải hoàn thành cấp mã số hồ sơ học tập suốt đời cho toàn bộ người học, vì vậy có vài việc cần thực hiện.
Trước hết, Bộ GD-ĐT cần ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật kèm theo một mẫu hợp đồng xử lý dữ liệu mang tính bắt buộc, trong đó DN cung cấp phần mềm phải gánh trách nhiệm bồi thường khi để xảy ra sự cố, phải thông báo sự cố trong thời hạn luật định, và bị cấm dùng dữ liệu sai mục đích. Tiếp đó, DN muốn cung cấp hệ thống cho trường học phải được một cơ quan độc lập đánh giá và chứng nhận đủ điều kiện, chứ không thể chỉ tự công bố là mình tuân thủ.
Cùng với đó, cần một cơ chế để phụ huynh không chỉ được biết mà còn nhìn thấy được nhật ký ai đã truy cập hồ sơ của con mình. Và cũng cần phân biệt thời hạn lưu trữ. Văn bằng, chứng chỉ lưu vĩnh viễn là hợp lý vì đó là thứ một con người cần chứng minh suốt đời, nhưng điểm số chi tiết và kết quả rèn luyện ở các cấp học thấp nên được giới hạn thời hạn hoặc hạn chế quyền tiếp cận.
Chính phủ số trong giáo dục là hướng đi đúng và không nên vì rủi ro mà chùn lại. Hồ sơ học tập suốt đời không phải một trường hợp đơn lẻ. Nó là khuôn mẫu. Sổ sức khỏe điện tử cũng đã được tích hợp trên VNeID và sẽ còn nhiều loại dữ liệu công dân khác đi theo con đường ấy. Cách ngành giáo dục xử lý bài toán trách nhiệm lần này sẽ trở thành tiền lệ cho mọi cơ sở dữ liệu công dân về sau.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Từng mở rộng xét tuyển lớp 10 ở 9 quận, huyện, TP.HCM vì sao quay lại thi tuyển?

Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Huỳnh Công Minh - cựu giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, người từng trực tiếp điều hành ngành giáo dục thành phố trong giai đoạn này - cho biết:
- Tôi cho rằng bản chất của kỳ thi lớp 10 là để xếp lớp chứ không phải đánh giá năng lực học sinh. Các em đã học hết lớp 9 và được thầy cô giáo đánh giá hoàn thành chương trình THCS là coi như đã đạt chuẩn của chương trình rồi. Thế thì học sinh đã tốt nghiệp lớp 9 đương nhiên có quyền vào học lớp 10.
Với suy nghĩ đó nên năm học 2007-2008, Sở GD-ĐT TP.HCM đã xin ý kiến UBND TP và được chấp thuận thực hiện thí điểm xét tuyển lớp 10 tại ba huyện Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi.
Những quận, huyện còn lại vẫn tổ chức thi tuyển. Sau đó việc xét tuyển mở rộng dần dần, đến năm học 2011-2012 TP.HCM có chín quận, huyện thực hiện xét tuyển vào lớp 10 là huyện Bình Chánh, Củ Chi, Cần Giờ, Hóc Môn, Thủ Đức, Bình Tân, quận 9, 2, 6.
* Thưa ông, vậy sau này vì sao TP.HCM lại bỏ hình thức xét tuyển vào lớp 10?
- Tôi đã nghỉ hưu từ năm 2011 nên sẽ không bình luận hoặc lý giải vấn đề này.
Tuy nhiên tôi muốn chia sẻ một góc nhìn khác. Hiện nay nhiều người lo ngại rằng nếu không tổ chức thi lớp 10 thì học sinh sẽ lơ là việc học, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Theo tôi, điều quan trọng hơn là chúng ta cần thay đổi cách nhìn về việc học.
Học không phải để thi mà học để biết, học để làm, học để chung sống và hoàn thiện bản thân. Đây là bốn trụ cột giáo dục cốt lõi do UNESCO đề xướng, hướng đến việc giúp người học phát triển toàn diện: có kiến thức nền tảng, biết vận dụng vào thực tiễn, thấu hiểu xã hội và không ngừng hoàn thiện nhân cách.
Lâu nay chúng ta vẫn còn chịu ảnh hưởng của quan niệm "học để thi", thậm chí có tâm lý "không thi thì không học". Điều đó dẫn đến tình trạng dạy và học mang tính đối phó, học chỉ để vượt qua kỳ thi, thi xong rồi có khi trong đầu không đọng lại được điều gì.
Vấn đề đáng suy nghĩ là có những học sinh chỉ tập trung vào điểm số, xem việc học là để làm hài lòng cha mẹ. Vì vậy, khi gặp khó khăn là nhiều em sẽ chùn bước. Từ đó tạo ra thực trạng học sinh phải trải qua quá trình học tập vất vả, áp lực thi cử lớn, thi xong đạt điểm rất cao nhưng khi bước vào cuộc sống có em lại thiếu tự tin, lúng túng trong ứng xử, khó thích nghi với những hoàn cảnh mới, thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề…
Còn nếu đã xác định học để biết thì người học sẽ có động lực mạnh mẽ hơn. Tức là cái gì chưa biết thì phải học để biết. Yếu tố này sẽ làm cho học sinh tò mò, khát khao khám phá và chủ động tìm kiếm tri thức.
* Như vậy quan điểm của ông là bỏ thi lớp 10?
- Đúng như vậy. Quan điểm của tôi là nên giảm những kỳ thi không cần thiết như kỳ thi vào lớp 10 công lập. Nếu muốn tiến tới bỏ kỳ thi, các địa phương cần có một "hệ sinh thái" giáo dục phù hợp đi kèm. Điều đó không chỉ là điều kiện về cơ sở vật chất mà quan trọng hơn là sự thay đổi trong nhận thức của giáo viên, phụ huynh và học sinh về mục tiêu thực sự của việc học.
Bên cạnh đó nhà quản lý giáo dục và đội ngũ giáo viên cũng cần thay đổi quan niệm về dạy học. Việc đánh giá học sinh không nên chỉ phụ thuộc vào kết quả của một kỳ thi mà cần nhìn vào cả quá trình học tập, rèn luyện và phát triển của các em: từ thái độ học tập, khả năng tương tác với thầy cô, bạn bè đến năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn…
Và trước hết, vai trò dẫn dắt cần đến từ Bộ GD-ĐT thông qua việc đổi mới đào tạo ngành sư phạm, cải tiến phương pháp kiểm tra - đánh giá học sinh, thay đổi cách ra đề thi, tôn vinh và nhân rộng những mô hình, địa phương thực hiện hiệu quả…
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

