Động thái này đánh dấu bước đi mới nhất của Mỹ trong việc công nhận bà Rodríguez là lãnh đạo hợp pháp của Venezuela, sau khi quân đội Mỹ bắt giữ cựu Tổng thống Nicolas Maduro cùng phu nhân Cilia Flores tại Caracas hôm 3.1. Hai người hiện đối mặt các cáo buộc buôn bán ma túy tại Mỹ và họ đã tuyên bố không nhận tội, theo AP ngày 2.4.
Việc dỡ bỏ trừng phạt cho phép bà Rodríguez mở rộng hợp tác với các công ty và nhà đầu tư Mỹ.
Trong phản ứng sau thông báo, bà Rodríguez bày tỏ kỳ vọng quan hệ song phương Mỹ – Venezuela sẽ được cải thiện. “Chúng tôi đánh giá cao quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump như một bước tiến hướng tới bình thường hóa và tăng cường quan hệ giữa hai nước chúng ta”, bà viết trên Telegram.
Bà Rodríguez cùng nhiều nhân vật thân cận với ông Maduro từng bị Mỹ đưa vào danh sách trừng phạt từ năm 2018 với cáo buộc góp phần duy trì quyền lực cho chính quyền của ông Maduro sau cuộc bầu cử gây tranh cãi.
Tuy nhiên, sau khi ông Maduro bị bắt giữ, chính quyền Tổng thống Donald Trump đã chuyển hướng hợp tác sang bà Rodríguez – người hiện dẫn dắt tiến trình tái thiết đất nước và thúc đẩy mở cửa nền kinh tế giàu dầu mỏ này cho đầu tư quốc tế. Tháng 3, Mỹ cũng công nhận bà là “người đứng đầu nhà nước duy nhất” của Venezuela trong một vụ kiện dân sự tại tòa án liên bang.
Song song đó, Mỹ đã nới lỏng các hạn chế đối với ngành năng lượng Venezuela. Tháng 3, Bộ Tài chính Mỹ cho phép công ty dầu khí nhà nước PDVSA bán trực tiếp dầu ra thị trường toàn cầu, bao gồm các doanh nghiệp Mỹ – một thay đổi đáng kể sau nhiều năm siết chặt.
Tuy nhiên, tình hình pháp lý tại Venezuela vẫn phức tạp. Ông Maduro về mặt pháp lý vẫn được coi là tổng thống theo hệ thống trong nước. Sau khi ông bị bắt, Tòa án tối cao Venezuela tuyên bố tình trạng “vắng mặt tạm thời”, cho phép bà Rodríguez nắm quyền trong 90 ngày, có thể gia hạn thêm tối đa 6 tháng với sự phê chuẩn của Quốc hội do đảng cầm quyền kiểm soát.
Thời hạn 90 ngày này dự kiến kết thúc vào ngày 3.4.
"Ngay sau tuyên bố phong tỏa trên biển của Tổng thống Mỹ Donald Trump, toàn bộ hoạt động lưu thông qua eo biển đã ngừng lại", hãng giám sát hàng hải Lloyd's List, có trụ sở chính tại London, ghi nhận thực trạng trên eo biển Hormuz vào ngày 12-13/4.
Hãng cho biết số lượng tàu chở dầu đi qua eo biển hôm 11/4 tăng nhẹ so với những ngày trước, sau khi Mỹ - Iran đồng ý ngừng bắn hai tuần và tiến hành đàm phán trực tiếp tại Islamabad, Pakistan. Lloyd's List lý giải rằng một số công ty vận tải biển đã tìm cách đón đầu rủi ro, tận dụng lệnh ngừng bắn tạm thời để đưa tàu rời khỏi Trung Đông.
Reuters ghi nhận dữ liệu vận tải cho thấy ít nhất ba tàu chở dầu siêu lớn (VLCC) đã đi qua eo biển Hormuz hôm 12/4, được cho là những tàu VLCC đầu tiên rời khỏi vịnh Ba Tư kể từ khi Mỹ - Iran đạt thỏa thuận ngừng bắn vào tuần trước.
Hoạt động này giảm mạnh sau khi Mỹ - Iran kết thúc đàm phán mà không đạt được thỏa thuận và ông Trump thông báo về lệnh phong tỏa eo biển Hormuz, có hiệu lực từ 10h hôm nay (21h giờ Hà Nội).
Dữ liệu cho thấy tàu VLCC Agios Fanourios I treo cờ Malta, đã tìm cách đi qua eo biển để vào vùng Vịnh nhận dầu của Iraq, nhưng phải quay đầu và hiện neo gần vịnh Oman. Reuters nhận định "các tàu chở dầu đang né eo biển Hormuz trước thềm lệnh phong tỏa của Mỹ".
Bộ tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) thông báo sẽ bắt đầu chặn tàu của tất cả quốc gia ra vào khu vực bờ biển tại Iran, trong đó có mọi cảng của Iran ở vịnh Ba Tư và vịnh Oman, nhưng "không cản trở tự do hàng hải" đối với những tàu đến và đi từ các cảng ngoài Iran.
Eo biển Hormuz là tuyến vận chuyển dầu mỏ quan trọng, chiếm khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu. Ngay sau khi Mỹ - Israel phát động chiến dịch tấn công Iran vào ngày 28/2, Tehran đã triển khai nhiều xuồng cao tốc để rải thủy lôi tại eo biển Hormuz.
Thủy lôi, cùng mối đe dọa từ máy bay không người lái (UAV) và tên lửa, khiến số lượng tàu hàng đi qua tuyến hàng hải này giảm xuống mức rất thấp, đẩy giá năng lượng tăng cao và mang lại cho Iran đòn bẩy lớn nhất trong xung đột.
Sau khi các bên đạt được lệnh ngừng bắn và mở cửa lại eo biển, IRGC ngày 9/4 công bố lộ trình thay thế cho tàu thuyền để tránh nguy cơ trúng thủy lôi tại tuyến hàng hải. Tuy nhiên, quan chức Mỹ cho rằng tuyến di chuyển này bị hạn chế đáng kể, chủ yếu do Iran rải thủy lôi một cách thiếu hệ thống.
Nga đã thử nghiệm thành công tên lửa đạn đạo liên lục địa Sarmat mới, Tư lệnh Lực lượng Tên lửa Chiến lược Sergei Karakayev thông báo với Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm 12/5. Ông Putin cho biết Nga có kế hoạch đưa Sarmat vào trực chiến trước cuối năm nay.
Theo ông Karakayev, tên lửa Sarmat có thể vượt mặt các hệ thống phòng thủ tên lửa hiện tại và tương lai. Ông cho biết thêm rằng các tên lửa phóng của hệ thống Sarmat sẽ tăng cường đáng kể sức mạnh của lực lượng hạt nhân chiến lược Nga.
Theo ông Putin, đầu đạn của Sarmat có thể bay theo quỹ đạo đạn đạo hoặc quỹ đạo lướt để tới mục tiêu. Nhà lãnh đạo Nga cho hay, Moscow đang từng bước hiện đại hóa lực lượng hạt nhân sau vụ phóng thử thành công tên lửa đạn đạo Sarmat.
Theo ông, Nga đang “triển khai một cách có hệ thống” chương trình phát triển lực lượng hạt nhân của mình. Công việc tăng cường năng lực răn đe chiến lược của Nga đã được tiến hành liên tục từ đầu những năm 2000.
Ông nói rằng, Moscow buộc phải xem xét lại chiến lược sau khi Mỹ rút khỏi Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo (ABM). Ông khẳng định, Nga vẫn đang phát triển các hệ thống mới nhằm vượt qua các hệ thống phòng thủ tên lửa hiện tại và tương lai của các đối thủ.
Ngoài ra, theo ông Putin,phương tiện không người lái dưới nước Poseidon và tên lửa hành trình tầm bắn toàn cầu Burevestnik đang ở giai đoạn phát triển cuối cùng.
RS-28 Sarmat sẽ thay thế RS-20V Voevoda, tên lửa chiến lược mạnh nhất hiện có trong kho vũ khí Nga. Quá trình phát triển RS-28 Sarmat đã bắt đầu từ hơn một thập niên trước, vào năm 2011.
Sarmat là tên lửa đạn đạo liên lục địa có khả năng mang theo 10 đầu đạn nhiệt hạch lớn hoặc 16 đầu đạn nhỏ hơn hoặc kết hợp cả hai để áp đảo hệ thống phòng thủ tên lửa của đối phương. Mỗi đầu đạn của Sarmat có thể tấn công một mục tiêu riêng biệt.
Ngoài ra, tên lửa Sarmat cũng có khả năng mang tối đa 24 thiết bị phóng siêu vượt âm Avangard, khiến nó trở thành vũ khí đầy uy lực. Avangard có khả năng bay nhanh gấp 27 lần tốc độ âm thanh.
Bộ Quốc phòng Nga từng tuyên bố: "Sarmat là tên lửa hàng đầu với tầm bắn lớn nhất trên thế giới. Nó sẽ tăng cường đáng kể sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang hạt nhân chiến lược Nga".
Vladimir Degtyar, nhà thiết kế trưởng tại Phòng thiết kế tên lửa Makeyev - nơi phát triển RS-28 Sarmat, tiết lộ rằng hệ thống kiểm soát của Sarmat được thiết kế cho phép tên lửa này có thể tiếp tục hành trình ngay cả khi bị hỏa lực phòng không đối thủ đánh trúng.
Ngoài ra, đối phương không thể tính toán chính xác quỹ đạo của đầu đạn tên lửa Sarmat và rất khó phát hiện ra chúng, vì chúng được trang bị thiết bị đặc biệt được thiết kế để 'tàng hình" khi bay cả trong bầu khí quyển Trái đất và bên ngoài nó, ông Degtyar cho biết.
Trong bối cảnh các cuộc xung đột tại Trung Đông đang kéo căng chuỗi cung ứng toàn cầu, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi ngày 10/5 kêu gọi người dân giúp đất nước tiết kiệm nhiên liệu và dự trữ ngoại hối bằng cách sử dụng phương tiện giao thông công cộng, tránh các chuyến du lịch nước ngoài không cần thiết và hạn chế mua vàng trong vòng ít nhất một năm nếu không thực sự cấp thiết.
Đối với hàng trăm triệu người Ấn Độ, vàng gần như một nhu yếu phẩm. Mỗi mùa cưới, mỗi dịp lễ hội, mỗi ngày lành trên lịch đều khiến người dân đổ xô đến vào các tiệm vàng trên khắp đất nước. Qua nhiều thế hệ, sự tiêu thụ miệt mài đó đã tích tụ thành một kho dự trữ khổng lồ phân tán trên toàn quốc.
Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc, nhập khẩu khoảng 600 đến 800 tấn kim loại quý này mỗi năm.
Ngân hàng Morgan Stanley ước tính các hộ gia đình Ấn Độ nắm giữ khoảng 34.600 tấn kim loại này dưới dạng nhẫn, vòng tay, dây chuyền, vàng thỏi. Theo mức giá quốc tế hiện tại, con số đó tương đương với 5,2 nghìn tỷ USD.
Vai trò của vàng như một tài sản trú ẩn an toàn và công cụ chống lạm phát khiến nó trở nên vô cùng giá trị đối với các hộ gia đình Ấn Độ. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn và khu vực kinh tế phi chính thức, vàng là công cụ tiết kiệm duy nhất mà nhiều người Ấn Độ từng tin tưởng. Khi vụ mùa bội thu hoặc việc kinh doanh có lãi, vàng là nơi dòng vốn thặng dư đổ vào.
Trong khi đó, lượng vàng Ấn Độ sản xuất trong nước không đáng kể, khiến quốc gia này gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu từ những nơi như Dubai, Hong Kong và Thụy Sĩ. Các ngân hàng nhập khẩu phần lớn vàng của Ấn Độ để cung cấp cho các thợ kim hoàn và đại lý trên cả nước, trong khi các nhà luyện kim nhập quặng thô về để xử lý tại địa phương.
Mỗi ounce vàng cập bến đều phải được thanh toán bằng đồng USD, và đó chính là nơi nền kinh tế chịu sức ép. Vàng là mặt hàng lớn nhất trong hóa đơn nhập khẩu của Ấn Độ sau dầu thô, và khi nhu cầu tăng lên, hóa đơn nhập khẩu cũng phình to theo, gây sức ép lên đồng nội tệ rupee.
Chính phủ Ấn Độ hy vọng việc giảm tốc nhập khẩu vàng sẽ cải thiện cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, bảo vệ đồng rupee và giải phóng dự trữ ngoại hối để mua thêm dầu, khí hóa lỏng và phân bón. Giá của những nguyên liệu đầu vào quan trọng này cho nền kinh tế Ấn Độ đã tăng vọt do cuộc chiến ở Iran gây ra tình trạng thiếu hụt và kéo theo lạm phát.
Các nhà hoạch định chính sách thường coi nhập khẩu vàng là không thiết yếu (chúng làm cạn kiệt đồng USD từ dự trữ quốc gia mà không thúc đẩy các ngành công nghiệp trong nước) và đã có nhiều nỗ lực lặp đi lặp lại để hạn chế điều này.
Bằng cách khuyến khích việc ngừng các giao dịch mua vàng không thiết yếu, chính phủ Ấn Độ đặt mục tiêu ngăn chặn dòng USD chảy ra ngoài.