Theo trang tin Iran War Cost Tracker, chi tiêu của Mỹ cho chiến dịch quân sự ở Iran đã lên tới hơn 85 tỷ USD trong 79 ngày xung đột.
Công cụ theo dõi thời gian thực của trang tin này dựa trên báo cáo của Lầu Năm Góc trước Quốc hội Mỹ ngày 10/3, trong đó các quan chức tuyên bố rằng Washington đã chi 11,3 tỷ USD trong 6 ngày đầu tiên của chiến dịch quân sự ở Trung Đông và dự định tiếp tục chi thêm 1 tỷ USD cho mỗi ngày tiếp theo trong cuộc xung đột.
Theo nguồn tin này, tổng số tiền Mỹ đã chi cho chiến sự Iran cao gấp gần 3 lần so với ước tính trước đó do quyền Trợ lý Bộ trưởng Lục quân Mỹ phụ trách Quản lý Tài chính Jules Hurst công bố.
Trong phiên điều trần trước Ủy ban Phân bổ Ngân sách Hạ viện, ông Hurst tuyên bố Washington đã chi khoảng 25 tỷ USD cho chiến dịch quân sự nhằm vào Iran.
Theo quan chức Lầu Năm Góc, phần lớn số tiền đó dành cho đạn dược, nhưng một phần dành cho việc bảo trì và thay thế thiết bị.
Thượng nghị sĩ độc lập Angus King cũng cho biết chi phí của cuộc chiến với Iran có thể gấp đôi con số mà quan chức Lầu Năm Góc ước tính. Theo ông King, cuộc xung đột Iran đã tiêu tốn của Mỹ khoảng 50 tỷ USD.
Thượng nghị sĩ King, thành viên Ủy ban Quân vụ Thượng viện, lưu ý rằng con số ước tính cao hơn sẽ đẩy chi phí chiến tranh lên khoảng “1 tỷ USD mỗi ngày” khi cuộc xung đột đã kéo dài hơn 2 tháng.
“Cần phải sửa chữa rất nhiều cơ sở của Mỹ trên khắp Trung Đông bị Iran tàn phá, chưa kể đến việc bổ sung một lượng lớn đạn dược đã được sử dụng trong chiến tranh, cũng như việc triển khai hàng nghìn binh lính, tàu chiến, máy bay và tất cả các tài sản quân sự đã được triển khai đến khu vực, vì vậy đó là một con số rất lớn”, thượng nghị sĩ Mỹ nhận định.
Một số kênh truyền thông Mỹ đưa tin, chi phí của Washington cho cuộc chiến với Iran có thể lên tới gần 40-50 tỷ USD nếu tính cả chi phí xây dựng lại các cơ sở quân sự của Mỹ và thay thế các tài sản bị phá hủy.
NBC dẫn các nguồn thạo tin cho biết, các đường băng, hệ thống radar cao cấp, hàng chục máy bay, kho bãi, trụ sở chỉ huy, nhà chứa máy bay và cơ sở hạ tầng liên lạc vệ tinh của Mỹ tại Vùng Vịnh đã bị lực lượng Iran tấn công.
Iran dường như ưu tiên tấn công vào các hệ thống radar và liên lạc tại các căn cứ Mỹ ở Trung Đông, cũng như máy bay tiếp dầu, yếu tố cho phép tiêm kích Mỹ thực hiện các đòn đánh tầm xa.
Sự tàn phá của các cuộc tấn công do Iran thực hiện trải dài trên nhiều quốc gia ở Trung Đông và có thể tiêu tốn khoản tiền lớn để sửa chữa.
Danh sách dài các thiết bị tinh vi và khan hiếm bị Iran đánh trúng đã khiến các nhà phân tích lo ngại về tình trạng Mỹ bị quá tải và sử dụng nguồn lực vào những nơi có thể không tối ưu.
Đầu tháng 4, Financial Times dẫn các số liệu ước tính cho biết cuộc chiến của Mỹ chống lại Iran đang khiến Washington tiêu tốn hàng trăm triệu USD mỗi ngày, trong đó khoảng 1/10 là chi phí cho các trang thiết bị quân sự bị phá hủy trong giao tranh.
Mark Cancian, cố vấn cấp cao về quốc phòng và an ninh tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), ước tính chiến dịch Iran tiêu tốn của Mỹ khoảng 500 triệu USD mỗi ngày.
Theo các chuyên gia quốc phòng, tổn thất về binh sĩ và trang bị của Mỹ vẫn tương đối nhẹ so với những cuộc chiến có mức độ không quá chênh lệch giữa 2 bên. Đã có 13 binh sĩ Mỹ thiệt mạng trong các cuộc tấn công vào căn cứ kể từ ngày 28/2, và hơn 300 người bị thương.
Trong bối cảnh các cuộc xung đột tại Trung Đông đang kéo căng chuỗi cung ứng toàn cầu, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi ngày 10/5 kêu gọi người dân giúp đất nước tiết kiệm nhiên liệu và dự trữ ngoại hối bằng cách sử dụng phương tiện giao thông công cộng, tránh các chuyến du lịch nước ngoài không cần thiết và hạn chế mua vàng trong vòng ít nhất một năm nếu không thực sự cấp thiết.
Đối với hàng trăm triệu người Ấn Độ, vàng gần như một nhu yếu phẩm. Mỗi mùa cưới, mỗi dịp lễ hội, mỗi ngày lành trên lịch đều khiến người dân đổ xô đến vào các tiệm vàng trên khắp đất nước. Qua nhiều thế hệ, sự tiêu thụ miệt mài đó đã tích tụ thành một kho dự trữ khổng lồ phân tán trên toàn quốc.
Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc, nhập khẩu khoảng 600 đến 800 tấn kim loại quý này mỗi năm.
Ngân hàng Morgan Stanley ước tính các hộ gia đình Ấn Độ nắm giữ khoảng 34.600 tấn kim loại này dưới dạng nhẫn, vòng tay, dây chuyền, vàng thỏi. Theo mức giá quốc tế hiện tại, con số đó tương đương với 5,2 nghìn tỷ USD.
Vai trò của vàng như một tài sản trú ẩn an toàn và công cụ chống lạm phát khiến nó trở nên vô cùng giá trị đối với các hộ gia đình Ấn Độ. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn và khu vực kinh tế phi chính thức, vàng là công cụ tiết kiệm duy nhất mà nhiều người Ấn Độ từng tin tưởng. Khi vụ mùa bội thu hoặc việc kinh doanh có lãi, vàng là nơi dòng vốn thặng dư đổ vào.
Trong khi đó, lượng vàng Ấn Độ sản xuất trong nước không đáng kể, khiến quốc gia này gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu từ những nơi như Dubai, Hong Kong và Thụy Sĩ. Các ngân hàng nhập khẩu phần lớn vàng của Ấn Độ để cung cấp cho các thợ kim hoàn và đại lý trên cả nước, trong khi các nhà luyện kim nhập quặng thô về để xử lý tại địa phương.
Mỗi ounce vàng cập bến đều phải được thanh toán bằng đồng USD, và đó chính là nơi nền kinh tế chịu sức ép. Vàng là mặt hàng lớn nhất trong hóa đơn nhập khẩu của Ấn Độ sau dầu thô, và khi nhu cầu tăng lên, hóa đơn nhập khẩu cũng phình to theo, gây sức ép lên đồng nội tệ rupee.
Chính phủ Ấn Độ hy vọng việc giảm tốc nhập khẩu vàng sẽ cải thiện cán cân thương mại và tài khoản vãng lai, bảo vệ đồng rupee và giải phóng dự trữ ngoại hối để mua thêm dầu, khí hóa lỏng và phân bón. Giá của những nguyên liệu đầu vào quan trọng này cho nền kinh tế Ấn Độ đã tăng vọt do cuộc chiến ở Iran gây ra tình trạng thiếu hụt và kéo theo lạm phát.
Các nhà hoạch định chính sách thường coi nhập khẩu vàng là không thiết yếu (chúng làm cạn kiệt đồng USD từ dự trữ quốc gia mà không thúc đẩy các ngành công nghiệp trong nước) và đã có nhiều nỗ lực lặp đi lặp lại để hạn chế điều này.
Bằng cách khuyến khích việc ngừng các giao dịch mua vàng không thiết yếu, chính phủ Ấn Độ đặt mục tiêu ngăn chặn dòng USD chảy ra ngoài.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) ngày 25/5 xác nhận, quân đội Mỹ đã tiến hành các cuộc "tấn công tự vệ" nhắm vào các trận địa phóng tên lửa và tàu thuyền của Iran đang cố gắng rải thủy lôi xung quanh khu vực eo biển Hormuz.
CENTCOM tiếp tục “bảo vệ các lực lượng của mình trong khi vẫn duy trì sự kiềm chế trong thời gian lệnh ngừng bắn đang diễn ra". Quân đội Mỹ khẳng định đây là những đòn tấn công “mang tính phòng vệ”.
Hãng tin Fox News dẫn lời một quan chức cấp cao của Mỹ cho biết lực lượng Mỹ phát hiện 2 tàu của Iran đang rải thủy lôi tại eo biển Hormuz. Lực lượng Mỹ cũng đã đáp trả sau khi một trận địa tên lửa của Iran nhắm mục tiêu vào các chiến đấu cơ của Mỹ trong khu vực.
Kết quả là, quân đội Mỹ đã phá hủy cả 2 tàu cao tốc của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC), đồng thời tấn công một trận địa tên lửa đất đối không tại thành phố cảng Bandar Abbas.
Ông Adam Clements, cựu quan chức ngoại giao và quan chức Lầu Năm Góc, nói với hãng tin Al Jazeera rằng các cuộc tấn công của Mỹ vào thành phố cảng Bandar Abbas của Iran không thể khiến thỏa thuận hòa bình “đổ vỡ”.
Ông Clements nhận định, bằng cách tiến hành cuộc tấn công vào khu vực phía nam Iran, Mỹ có thể đang thu thập thông tin tình báo và cố gắng tìm hiểu về các tài sản hàng hải của Iran xung quanh eo biển Hormuz.
“Dường như đó là lý do khiến Mỹ hành động”, ông Clements nói, đề cập đến thông tin rằng lực lượng Mỹ đã nhắm mục tiêu tấn công vào các bệ phóng phóng tên lửa và các tàu của Iran đang đặt thủy lôi.
Đề cập đến cáo buộc của CENTCOM rằng Iran đang rải thủy lôi tại eo biển Hormuz, ông Clements cảnh báo hành động này sẽ “gây ra phản ứng chết người”.
“Iran không nên ngạc nhiên khi Mỹ hành động như vậy”, ông nói.
Ông Clements cho biết ông không “quá ngạc nhiên” khi Mỹ thừa nhận quân đội nước này đã tấn công các mục tiêu ở phía nam Iran.
“Tôi không nghĩ rằng những gì đã xảy ra ở eo biển Hormuz tại Bandar Abbas là không hành động không đáng chú ý. Chắc chắn cần theo dõi nếu hành động này dẫn đến các cuộc tấn công khác. Nhưng tôi nghĩ đây là lúc chúng ta cần phân biệt các vấn đề chiến thuật tác chiến với các vấn đề chiến lược”, cựu quan chức Mỹ nosit hêm.
Ông Clements cho rằng các cuộc đàm phán ngoại giao chính thức giữa Mỹ và Iran vẫn tiếp diễn, và các cuộc tấn công sẽ không làm trật bánh tiến trình tổng thể.
“Đây không phải là hướng đi hoàn hảo như một số người mong muốn, nhưng đó là hướng đi tốt hơn so với việc tái diễn xung đột vào thời điểm này”, ông nói.
Mỹ không muốn vi phạm thỏa thuận ngừng bắn
Bộ Tư lệnh Trung tâm (CENTCOM) Mỹ, lực lượng điều phối tất cả các hoạt động quân sự của Mỹ trong và xung quanh Iran, khẳng định các cuộc tấn công nhằm vào Iran trong 24 giờ qua về cơ bản là để bảo vệ lực lượng Mỹ.
CENTCOM không nói rằng lực lượng Mỹ bị tấn công, nhưng khẳng định hành động của Mỹ là biện pháp phòng ngừa để bảo vệ quân đội trong khu vực gần Iran.
Ngay từ khi thỏa thuận ngừng bắn bắt đầu có hiệu lực, các cuộc đụng độ tương tự đã xảy ra. Ở giai đoạn đó, Mỹ nói rằng nước này chưa vi phạm thỏa thuận ngừng bắn vì không có thương vong. Tổng thống Donald Trump cũng nói rằng ông không coi đây là hành vi vi phạm lệnh ngừng bắn.
Một lần nữa trong sự việc này, Mỹ nói rằng không có quân nhân Mỹ nào bị thương hoặc thiệt mạng. Do vậy, hành động này sẽ không đạt đến mức độ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn, từ đó sẽ không làm đổ vỡ các cuộc đàm phán đang diễn ra giữa các bên.
Mỹ nói rằng họ đang bảo vệ lực lượng của mình trong khi thể hiện sự kiềm chế tối đa trước các cuộc tấn công từ phía Iran.
Tuy nhiên, đây là một thời điểm nhạy cảm đối với cả hai quốc gia. Cuộc tấn công của Mỹ cũng là lời nhắc nhở rằng lực lượng quân sự Mỹ vẫn chưa rời khỏi khu vực và tiếp tục hiện diện để gây sức ép với Iran, đặc biệt trong bối cảnh hai bên đang đàm phán một thỏa thuận tiềm năng để chấm dứt xung đột.
Tổng thống Trump được cho là muốn tiến hành đàm phán và củng cố một thỏa thuận hòa bình với Iran. Tuy nhiên, nhà lãnh đạo Mỹ ngày càng mất kiên nhẫn với Tehran.
Ông Trump định phát động một cuộc tấn công vào Iran từ tuần trước, nhưng đã quyết định hoãn lại do sự can thiệp từ các nước Vùng Vịnh. Cuộc tấn công lần này sẽ được coi là một trở ngại nhỏ, nhưng nó sẽ không làm đổ vỡ các cuộc đàm phán hòa bình ở giai đoạn này.