Sáng 26/5, Ths.BS Đặng Tuấn Dũng, Trung tâm Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, mỗi ngày, trung bình Trung tâm tiếp nhận khoảng 250 bệnh nhân đến khám, thì trong những ngày nắng nóng, con số tăng lên khoảng 300 ca.
Trong đó, số lượng bệnh nhân nhập viện do các vấn đề liên quan đến nắng nóng tăng khoảng 20-30%.
Trong đợt nắng nóng cao điểm với nhiệt độ ngoài trời thường xuyên trên 40 độ C ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ. Điều kiện nắng nóng khắc nghiệt rất dễ dẫn đến các vấn đề sức khỏe do nóng như cháy nắng, chuột rút, ngất, say nắng…trong đó nguy hiểm nhất là sốc nhiệt.
“Các bệnh nhân chủ yếu là những thanh niên trẻ tuổi và những người trong độ tuổi lao động, được đưa đến cấp cứu với các triệu chứng mệt lả, vã mồ hôi, có những bệnh nhân vào viện với tình trạng say nắng tăng thân nhiệt. Ngoài ra, một số bệnh nhân có tình trạng nặng hơn, với biểu hiện hôn mê hoặc là co giật.
Như trường hợp nam công nhân được đưa đến Trung tâm A9 cấp cứu vì mệt lả khi làm việc trong thời tiết nắng nóng. Bệnh nhân được xác định có tình trạng tiêu cơ vân, cơ thể mất nước khá nghiêm trọng, xuất hiện tình trạng suy thận cấp do mất nước.
Trước đó, bệnh nhân đã được hạ thân nhiệt, sơ cứu tại chỗ. Khi vào viện, bác sĩ điều trị tình trạng tiêu cơ vân cấp, truyền dịch, kiểm soát thân nhiệt, bệnh nhân hồi phục tốt.
Các trường hợp còn lại là những người cao tuổi, người có bệnh nền. Ở nhóm bệnh nhân này, nắng nóng có thể là yếu tố liên quan làm tăng đợt cấp của những người mắc bệnh nền.
Phòng sốc nhiệt, say nắng như thế nào?
Người bị sốc nhiệt thường là những người lao động, hoạt động trong thời tiết nắng nóng. Bệnh nhân ban đầu có thể có các triệu chứng ra mồ hôi nhiều, đau cơ, yếu cơ, chuột rút, chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi, buồn nôn, nôn hoặc ngất.
Nếu có biểu hiện sốt cao > 39-40oC, da khô, nóng, rối loạn ý thức như mê sảng, co giật, hôn mê, là biểu hiện tiến triển đến sốc nhiệt.
BS Dũng khuyến cáo, trong thời tiết đang nắng nóng rất là cực đoan như hiện nay, người dân không nên ra ngoài, làm việc kéo dài ở thời điểm nắng nóng cao điểm.
Trong trường hợp bắt buộc phải làm việc, di chuyển ngoài trời nắng nóng, đặc biệt là vào buổi trưa và đầu giờ chiều, người dân cần đội mũ nón, áo chống nắng, sử dụng các biện pháp chống nóng vật lý, bổ sung thêm nước điện giải, oresol.
Tuyệt đối không nên làm liên tục vài tiếng đồng hồ dưới nắng, mà cần bố trí thời gian nghỉ giữa giờ trong khu vực mát, có bóng mát, bổ sung nước đầy đủ. Thời gian nghỉ ngơi giữa giờ rất quan trọng để cơ thể có thể phục hồi lại, bồi phụ lại nước, điện giải đã mất.
Nếu có thể thì nên sử dụng các biện pháp hạ nhiệt khác ví dụ như là quạt, điều hòa hoặc là mái che tại khu vực công trường.
Nếu bệnh nhân có biểu hiện choáng váng, đau đầu, mệt lả do say nắng, ngay lập tức cần chuyển bệnh nhân vào chỗ mát, chườm mát, quạt mát để hạ thân nhiệt tại chỗ. Nếu bệnh nhân tỉnh táo, cần cho bệnh nhân uống nước có oresol để cân bằng điện giải. Cố gắng đặt bệnh nhân nằm phẳng trên nền cứng để tránh bệnh nhân bị ngã hoặc là bị chấn thương thứ phát.
Trong trường hợp bệnh nhân có hôn mê, co giật hoặc là trào ngược, cần cho bệnh nhân nằm nghiêng trái nếu mà bệnh nhân còn có thể tự thở được.
Còn nếu bệnh nhân trong tình trạng nặng hơn nữa, thậm chí là ngừng tim, cần tiến hành sơ cứu theo hướng dẫn hồi sức tim phổi và xử trí cấp cứu phù hợp.
Song song với xử trí sơ cứu tại chỗ, cần gọi 115 hoặc các đơn vị cấp cứu để có thể hỗ trợ để chuyển bệnh nhân đến bệnh viện hoặc là cơ sở y tế gần nhất.
Thời tiết nắng nóng, cơ thể tiết mồ hôi nhiều kéo theo mất nước, muối rất lớn. Vì thế, trong thời tiết nắng nóng cần uống đủ nước, tránh mất nước và muối khi làm việc ngoài trời nóng. Tốt nhất nên sử dụng oresol pha nước uống để bù nước, điện giải.
Ngày 26/6, UBND thành phố Đồng Nai ban hành kế hoạch khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân. Bắt đầu từ năm 2026, 100% người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất một lần trong năm. Như vậy, đây là địa phương thứ ba trong cả nước, sau Hà Nội và TP HCM, triển khai chương trình này.
Theo kế hoạch, chương trình sẽ diễn ra từ ngày 1/7 đến hết ngày 31/12 hàng năm. Sở Y tế chủ trì phối hợp với các sở, ngành và địa phương để huy động toàn bộ hệ thống y tế công lập lẫn ngoài công lập tham gia thực hiện.
Chương trình lần này huy động toàn bộ 100% trạm y tế xã, phường vào cuộc để quản lý sức khỏe cư dân. Các cơ sở giáo dục kiểm tra sức khỏe cho học sinh vào đầu năm học, trong khi các doanh nghiệp tổ chức khám sàng lọc cho người lao động theo đúng quy định.
Bên cạnh việc tổ chức tại các bệnh viện, trung tâm y tế hay phòng khám đủ điều kiện, ngành y tế địa phương sẽ lập các điểm khám lưu động tại khu dân cư, khu công nghiệp, trường học và các khu nhà trọ công nhân để người dân dễ dàng tiếp cận.
Giới chức cũng thiết kế các đợt khám chuyên đề riêng nhằm chăm sóc sâu cho nhóm người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em, người mắc bệnh mạn tính và những trường hợp có nguy cơ cao.
Để tối ưu hóa quy trình, tỉnh đẩy mạnh chuyển đổi số và chuẩn hóa dữ liệu dân cư. Nhân viên y tế sẽ cập nhật ngay kết quả khám của người dân lên hệ thống hồ sơ sức khỏe điện tử, đồng thời tích hợp dữ liệu này trực tiếp vào ứng dụng VNeID.
Thông qua chiến dịch này, chính quyền kỳ vọng công tác tuyên truyền sâu rộng sẽ giúp người dân chủ động hình thành thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ hàng năm.
Trước đó, Hà Nội và TP HCM cũng triển khai các gói khám miễn phí toàn dân. Cụ thể, người dân Hà Nội được khám sàng lọc miễn phí 12 bệnh phổ biến như tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư và các rối loạn sức khỏe tâm thần. Từ giữa tháng 4, TP HCM đã triển khai người dân 18 tuổi trở lên được khám sàng lọc các bệnh lý và lập hồ sơ sức khỏe điện tử miễn phí. Kế hoạch này được tiến hành lần lượt ở nhiều khu vực từ nay đến hết năm.
Trên cả nước, Bộ Y tế đề xuất tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí từ năm 2026, ưu tiên nhóm yếu thế trước khi mở rộng toàn dân. Đề xuất này được Bộ Y tế đưa vào dự thảoNghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh, đang được lấy ý kiến. Đây là bước đi cụ thể hóa Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị, mục tiêu toàn dân được khám sức khỏe định kỳ miễn phí, tiến tới miễn viện phí cơ bản năm 2030.
Những sự cố liên tiếp này là hồi chuông cảnh báo về nguy cơ mất an toàn thực phẩm trong môi trường học đường, đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ và có biện pháp phòng ngừa chặt chẽ hơn.
Ngày 28-4, Sở Y tế TP.HCM cho biết từ ngày 25 đến trưa 27-4, bốn bệnh viện trên địa bàn TP đã tiếp nhận loạt ca bệnh nghi ngờ bị ngộ độc thực phẩm tại Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm, phường Tân Thuận, TP.HCM.
Trong đó Bệnh viện Nguyễn Thị Thập tiếp nhận điều trị 13 ca là các em học sinh, Bệnh viện Nhi đồng 2 có 9 ca học sinh, Bệnh viện Khánh Hội 1 ca học sinh và Bệnh viện Nhân dân Gia Định 2 ca người lớn (là bảo mẫu).
Trong các ca nhập viện có một học sinh khi nhập viện Bệnh viện Nhi đồng 2 có dấu hiệu sốt cao, mất nước nặng, sốc, gồng và co giật, toan chuyển hóa nặng. May mắn sau một ngày điều trị tích cực (chống sốc, vận mạch cao, thở máy), trẻ đã tỉnh táo, giảm sốt, giảm tiêu lỏng, ngưng vận mạch và cai thở máy.
Trước đó, Sở An toàn thực phẩm TP.HCM đã thông tin kết quả điều tra vụ ngộ độc thực phẩm tại Trường tiểu học Bình Quới Tây khiến 266 học sinh mắc, trong đó có 190 em phải nhập viện do bữa ăn bán trú ngày 7-4.
Bà Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP.HCM, cho hay vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm tại các bếp ăn tập thể như trường học, bệnh viện hay doanh nghiệp luôn được cơ quan quản lý đặc biệt quan tâm, nhất là trong môi trường giáo dục, tuy nhiên thực tế vẫn chưa thể yên tâm tuyệt đối.
Một số vụ việc gần đây cho thấy vẫn còn những đơn vị cung cấp suất ăn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, thậm chí qua kiểm tra hoặc phản ánh từ báo chí vẫn phát hiện tồn tại, sai phạm.
Bà Lan nhấn mạnh trách nhiệm không chỉ thuộc về doanh nghiệp mà còn nằm ở nhà trường, đặc biệt là hiệu trưởng, người chịu trách nhiệm cao nhất nếu xảy ra sự cố. Đồng thời phụ huynh và học sinh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát, phản ảnh chất lượng bữa ăn.
Bà Lan cho biết thêm với điều kiện khí hậu nóng ẩm, nguy cơ thực phẩm bị hư hỏng, biến chất là rất lớn. Đặc biệt số lượng thức ăn cơ sở chế biến lớn, không thể đảm bảo kiểm soát tuyệt đối 100%, rất cần sự phối hợp của nhiều bên, trong đó có cả báo chí và cộng đồng để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể.
PGS Nguyễn Duy Thịnh, nguyên giảng viên Viện công nghệ sinh học và thực phẩm (ĐH Bách khoa Hà Nội), cũng cho hay trong trường có tổ chức ăn bán trú, người chịu trách nhiệm cao nhất là hiệu trưởng.
Bởi hiệu trưởng là người quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường, bao gồm cả bữa ăn của học sinh. Nếu xảy ra ngộ độc thực phẩm, trước hết phải kiểm điểm trách nhiệm của người đứng đầu. Không thể để tình trạng sự việc lặp lại rồi chỉ rút kinh nghiệm chung chung.
Để ngăn ngừa những sự việc như ngộ độc xảy ra, giải pháp không nằm ở những biện pháp cao siêu mà ở việc kiểm soát chặt chẽ từng khâu trong chuỗi cung ứng và chế biến thực phẩm. Tất cả các khâu đều phải sạch và đúng quy trình.
Mới đây, Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM cũng đã có văn bản gửi thủ trưởng các đơn vị giáo dục ở TP về bữa ăn bán trú. Văn bản nêu rõ các cơ sở giáo dục đang tổ chức bữa ăn học đường nghiêm túc triển khai rà soát, báo cáo toàn diện việc tổ chức và cung cấp bữa ăn học đường.
Sở Y tế TP.HCM nhận định để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm do các loại vi khuẩn như Salmonella enteritidis cần thực hiện đồng bộ các biện pháp như: lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, còn hạn sử dụng và không có dấu hiệu hư hỏng; nấu chín kỹ thịt, trứng và các sản phẩm từ gia cầm.
Đồng thời không sử dụng thực phẩm sống hoặc chưa chín; giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay sạch trước khi chế biến và sau khi đi vệ sinh; vệ sinh thường xuyên bề mặt, dụng cụ nhà bếp; tách riêng thực phẩm sống và chín để tránh nhiễm chéo; đồng thời sử dụng thức ăn ngay sau khi nấu hoặc bảo quản lạnh đúng cách và hâm nóng kỹ trước khi ăn.
Thông tin được TS Vương Ánh Dương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết tại Hội thảo khoa học quốc tế về giác mạc sinh học, do Hội Nhãn khoa Việt Nam phối hợp với Công ty VGCT thuộc Tập đoàn CT Group, tổ chức hôm 4/4 tại Hà Nội.
TS Dương cho hay bệnh lý về giác mạc là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa mà có thể điều trị được, khôi phục được thị lực của người bệnh bằng phương pháp can thiệp ghép giác mạc. Tại Việt Nam, việc lấy - ghép giác mạc được thực hiện từ năm 2007, đến nay đã có hơn 3.000 người được ghép.
Hiện, ước tính Việt Nam có tới trên 500.000 người bị mù do bệnh lý giác mạc và có nhu cầu cần ghép giác mạc. Tại Bệnh viện Mắt Trung ương con số chờ ghép cũng lên tới trên nghìn trường hợp. Trong bối cảnh này, các bệnh viện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa mắt đã thành lập được một số ngân hàng giác mạc, vận động hiến tặng giác mạc từ người cho chết não. Song, nguồn hiến còn rất hạn chế so với nhu cầu, khiến nhiều người bệnh phải chờ đợi kéo dài, thậm chí mất cơ hội điều trị. Như tại Bệnh viện Mắt Trung ương, năm 2025 có 94 người hiến, thu nhận được 188 giác mạc, và sử dụng ghép được 180 ca.
"Lượng bệnh nhân bị mù do bệnh lý giác mạc tích lũy và tăng dần theo thời gian, song nguồn giác mạc cung cấp không đủ so với nhu cầu, hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào nguồn từ người hiến trong nước còn hạn chế", PGS. TS. Lê Xuân Cung, khoa Giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung Ương nói, thêm rằng nhiều trường hợp cần phải ghép cấp cứu để bảo tồn nhãn cầu (loét giác mạc thủng và dọa thủng, nhiễm trùng nặng không kiểm soát được bằng thuốc) nhưng giác mạc người hiến không có sẵn nên phải bỏ nhãn cầu.
Bên cạnh đó, không ít trường hợp bệnh lý nặng như bỏng mắt, tổn thương bề mặt nhãn cầu phức tạp hoặc thất bại ghép nhiều lần khiến phương pháp ghép truyền thống không còn là giải pháp tối ưu. Chính vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp thay thế đang trở thành xu hướng tất yếu của nhãn khoa hiện đại.
Trên thế giới, nhiều hướng tiếp cận mới đã và đang được nghiên cứu, ứng dụng như giác mạc nhân tạo, vật liệu sinh học... Những tiến bộ này mở ra hy vọng mới cho nhóm bệnh nhân trước đây gần như không còn lựa chọn điều trị hiệu quả, giúp chủ động nguồn vật liệu thay thế, nâng cao khả năng tiếp cận điều trị cho người bệnh.
GS Tôn Thị Kim Thanh, Chủ tịch Hội Nhãn khoa Việt Nam, cho hay giác mạc sinh học là một phát minh mới, đồng thời là một loại vật liệu y sinh tiên tiến, góp phần mở rộng đáng kể các lựa chọn vật liệu thay thế trong điều trị bệnh lý giác mạc. Việc phát triển và ứng dụng loại vật liệu này không chỉ mang ý nghĩa về mặt công nghệ, mà còn giúp từng bước chủ động hơn trong việc thay thế giác mạc người trong thực tiễn lâm sàng, đặc biệt trong bối cảnh nguồn giác mạc hiến tặng hiện vẫn còn nhiều hạn chế.