Tin từ Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ ngày 17.4 cho biết, các bác sĩ của bệnh viện vừa xử trí thành công một bệnh nhi nuốt nhiều dị vật nguy hiểm là nam châm.
Theo đó, bệnh nhi là bé trai T.N.K (5 tuổi, ở phường Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ), được gia đình đưa đến bệnh viện khám với triệu chứng ho nhẹ kéo dài 2 ngày, kèm đau họng tăng về đêm. Các triệu chứng này khá giống viêm đường hô hấp thông thường.
Tuy nhiên, qua khai thác bệnh sử, bác sĩ nghi vấn trẻ có thể đã nuốt phải dị vật là các mảnh đồ chơi nhỏ, dù chưa xác định được cụ thể. Ngay sau đó, bệnh nhi được chỉ định chụp X-quang để kiểm tra. Kết quả cho thấy có dị vật cản quang tại vùng cổ, đồng thời phát hiện thêm dị vật trong ổ bụng.
Ê kíp nội soi tai mũi họng đã khẩn trương can thiệp, lấy dị vật tại vùng họng. Dị vật được xác định là một viên nam châm nhỏ. Sau thủ thuật, bệnh nhi tỉnh táo, ổn định, triệu chứng đau họng giảm rõ rệt.
Đối với các dị vật còn lại trong ổ bụng, bác sĩ quyết định theo dõi sát sao. Sau 4 ngày, bệnh nhi đã tự đào thải 6 viên nam châm dính liền nhau qua đường tiêu hóa. Qua thăm khám lại, sức khỏe bé ổn định và được xuất viện.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Xinh, Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ, tình trạng trẻ nuốt dị vật như chi tiết đồ chơi nhỏ, pin cúc áo hay nam châm xảy ra khá phổ biến và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đặc biệt, nam châm là dị vật có mức độ nguy hiểm cao. Khi nuốt nhiều viên, chúng có thể hút nhau xuyên qua thành ruột, gây hoại tử, thủng ruột, tắc ruột hoặc viêm phúc mạc, đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện kịp thời.
Tin Gốc: Thanh Niên

Việc tiêu thụ quá nhiều muối trong thời gian dài là nguyên nhân hàng đầu gây áp lực và làm suy giảm chức năng thận. Để giải quyết tình trạng này, bên cạnh cắt giảm gia vị, việc chủ động bổ sung các nhóm thực phẩm lành mạnh cũng đóng vai trò quan trọng giúp nuôi dưỡng hệ bài tiết. Chia sẻ về vấn đề này, ông Hung Tai-hsiung, chuyên gia dinh dưỡng tại Đại học Quốc lập Đài Loan, cho hay thận vốn là cơ quan thầm lặng thực hiện chức năng giải độc, điều hòa huyết áp và cân bằng điện giải. Do đó, ông tổng hợp 10 loại thực phẩm bổ dưỡng cho thận gồm dưa chuột, hành tây, tỏi, dầu ô liu, táo, giá đỗ, mộc nhĩ đen, cải xoăn, việt quất và dầu cá, đồng thời khẳng định việc ăn uống khoa học các thực phẩm này có thể giúp kéo dài tuổi thọ của thận thêm nhiều năm.
Trong nhóm rau củ và gia vị quen thuộc, dưa chuột với hàm lượng nước dồi dào mang lại khả năng cấp nước tuyệt vời, hỗ trợ thận chuyển hóa chất thải và đào thải hiệu quả các ion natri. Bên cạnh đó, hành tây đóng vai trò như một chất chống oxy hóa và kháng viêm tự nhiên, giúp ngay cả những bệnh nhân viêm cầu thận mạn tính cũng có thể yên tâm sử dụng, trong khi tỏi khi băm nhỏ và ăn sống sẽ giải phóng allicin, hoạt chất mạnh mẽ giúp kháng khuẩn, tiêu viêm và bảo vệ chức năng thận.
Đối với các loại trái cây, táo được mệnh danh là "vua" của nhóm quả chứa ít kali, sở hữu tiềm năng lớn trong việc chống oxy hóa, hạ cholesterol và phòng ngừa ung thư, còn quả việt quất lại gây ấn tượng với khả năng chống oxy hóa cao gấp 10 lần trà xanh, giúp đẩy lùi hiệu quả tình trạng căng thẳng oxy hóa cùng các phản ứng viêm.
Xét về nguồn chất béo và đạm lành mạnh, dầu ô liu chính là lựa chọn lý tưởng để bảo vệ mạch máu và giữ trọn vẹn giá trị dinh dưỡng nếu được ưu tiên chế biến ở nhiệt độ thấp hoặc làm các món trộn; kết hợp với đó là giá đỗ giàu protein thực vật, nguồn đạm được đánh giá là thân thiện và giảm gánh nặng cho thận hơn nhiều so với đạm động vật.
Danh sách thực phẩm bổ trợ này còn có mộc nhĩ đen, một lựa chọn tuyệt vời nhờ hàm lượng phốt pho và kali thấp nhưng lại giàu sắt, giúp người bệnh bổ sung máu và chất xơ một cách an toàn. Riêng với cải xoăn, dù chứa nhiều chất chống oxy hóa rất tốt nhưng loại rau này lại có hàm lượng kali cao.
Do đó, người bệnh thận bắt buộc phải tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để được tư vấn liều lượng phù hợp với thể trạng. Cuối cùng, việc bổ sung thêm dầu cá sẽ giúp thúc đẩy tuần hoàn máu, giảm mỡ máu và kháng viêm, trở thành giải pháp hỗ trợ "ba trong một" tối ưu cho sức khỏe của thận.
Chuyên gia Hung lưu ý không phải ai cũng phù hợp với việc tiêu thụ thực phẩm giàu kali. Nếu chức năng thận đã bị suy giảm, người bệnh nên tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng để kiểm soát lượng kali và phốt pho nạp vào cơ thể. Các phương pháp bảo vệ thận cơ bản hàng ngày còn gồm việc uống nhiều nước, kiểm soát lượng protein tiêu thụ, tránh các loại thực phẩm chế biến sẵn chứa nhiều natri, đồng thời xét nghiệm máu và kiểm tra protein niệu định kỳ.
Đồng quan điểm này, bác sĩ chuyên khoa thận với hơn 20 kinh nghiệm Hung Yung-hsiang từng chỉ ra rằng việc ăn đúng loại thực phẩm có thể bảo vệ được thận. Một nghiên cứu tại Australia khi khám phá mối liên hệ giữa thói quen ăn uống và bệnh thận đã phát hiện ra rằng những người thường xuyên duy trì chế độ ăn uống lành mạnh có thể giảm 30% nguy cơ mắc bệnh thận mạn tính và giảm 23% nguy cơ xuất hiện protein trong nước tiểu.
Ngoài ra, chuyên gia thận nhấn mạnh việc hạn chế protein, phốt pho và kali trong chế độ ăn không đồng nghĩa với việc kiêng tuyệt đối mà là không tiêu thụ vượt quá khả năng đào thải của cơ thể. Ông gợi ý người bệnh căn cứ vào kết quả xét nghiệm máu để điều chỉnh chế độ ăn uống, đồng thời tái khám 3 tháng một lần để kiểm tra nồng độ phốt pho và kali trong máu.
Tin Gốc: Vnexpress
Sức Khỏe
Nghiên cứu từ Việt Nam cho thấy bệnh giang mai có thể đã xuất hiện hàng ngàn năm trước

Trong nghiên cứu mới công bố trên International Journal of Osteoarchaeology, dựa trên phân tích di hài người tiền sử tại Việt Nam, nhóm nhà khoa học Úc - Việt Nam - New Zealand - Nhật Bản phát hiện dấu vết của một nhóm bệnh có biểu hiện "tương tự giang mai" đã tồn tại từ hàng nghìn năm trước và đặc biệt có thể lây truyền từ mẹ sang con.
Nghiên cứu đã phân tích 309 bộ hài cốt từ 16 địa điểm khảo cổ, có niên đại từ khoảng 10.000 đến 1.000 năm trước. Trong số này, ba bộ hài cốt trẻ em, khoảng 2,5 đến 18 tuổi, cho thấy những dấu hiệu rõ rệt của bệnh lý.
Theo công bố, các di hài này được tìm thấy tại miền Bắc và miền Nam nước ta, có niên đại khoảng 4.100 đến 3.300 năm trước.
Qua phân tích X-quang và cấu trúc xương, các nhà nghiên cứu phát hiện những tổn thương đặc trưng ở xương và bất thường ở răng, dấu hiệu điển hình của nhóm bệnh xoắn khuẩn đặc hữu treponematosis. Nhóm bệnh này bao gồm giang mai, ghẻ cóc (yaws), bejel và pinta.
Điểm đáng chú ý là các dấu hiệu trên không hoàn toàn phù hợp với giang mai cổ điển, mà nhiều khả năng là một dạng bệnh không lây qua đường tình dục, chẳng hạn như ghẻ cóc.
Trước đây giới khoa học cho rằng chỉ giang mai mới có thể lây truyền từ mẹ sang con (giang mai bẩm sinh). Chính giả định này đã củng cố giả thuyết bệnh xuất hiện muộn trong lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy các bệnh do xoắn khuẩn đặc hữu treponematosis không lây qua đường tình dục cũng có thể truyền từ mẹ sang thai nhi. Điều này làm thay đổi cách hiểu về các bằng chứng khảo cổ học trước đây.
Tiến sĩ Melandri Vlok, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết phát hiện này cho thấy cần xem xét lại nhiều trường hợp từng được chẩn đoán là giang mai bẩm sinh trong quá khứ.
Từ lâu, giả thuyết "Columbus mang giang mai từ Tân Thế giới về châu Âu" được xem là một trong những nền tảng quan trọng trong lịch sử y học. Tuy nhiên, nếu các bệnh tương tự đã tồn tại ở châu Á từ hàng nghìn năm trước, giả thuyết này có thể không còn chính xác.
Nhà nghiên cứu Nicola Czaplinski nhận định rằng phát hiện mới cho thấy giới khoa học vẫn còn rất xa mới có thể giải mã hoàn toàn nguồn gốc của giang mai.
Không chỉ là câu chuyện về quá khứ, nghiên cứu này còn có ý nghĩa quan trọng đối với y học hiện đại. Việc hiểu rõ cách các bệnh truyền nhiễm tiến hóa và lây lan qua thời gian có thể giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị ngày nay.
Đặc biệt, phát hiện về khả năng lây truyền bẩm sinh ở các bệnh không lây qua đường tình dục có thể buộc các nhà khoa học phải đánh giá lại dữ liệu bệnh học trong cả hiện tại và quá khứ.
Dù mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, phát hiện từ Việt Nam cũng cho thấy còn rất nhiều khoảng trống trong hiểu biết về lịch sử bệnh tật của loài người. Những gì được tìm thấy chỉ là một phần nhỏ trong bức tranh lớn về tiến hóa của các bệnh truyền nhiễm.
Trong khi đó, các nhà khoa học tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang nhiều khu vực khác, với hy vọng một ngày nào đó có thể trả lời câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng đầy phức tạp: giang mai thực sự bắt nguồn từ đâu.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Trả lời:
Dưới góc nhìn y học, cần tách bạch giữa ảnh hưởng thực sự lên chức năng tình dục và nỗi lo bị khuếch đại do tâm lý hoặc thói quen tự soi xét quá mức. Hiện chưa có bằng chứng mạnh cho thấy chỉ riêng việc thủ dâm nhiều sẽ trực tiếp gây yếu sinh lý. Các nghiên cứu cho thấy tần suất thủ dâm đơn thuần không phải yếu tố dự báo chính của rối loạn cương dương. Những yếu tố liên quan rõ hơn lại là tuổi tác, lo âu, trầm cảm, bệnh lý nền và mức độ hài lòng trong mối quan hệ.
Tuy nhiên, cảm giác "xuống phong độ" mà nhiều người gặp phải lại thường xuất phát từ yếu tố tâm lý. Khi liên tục lo sợ mình đang làm hại cơ thể hoặc so sánh bản thân với những hình ảnh không thực tế, sẽ dễ rơi vào trạng thái lo âu hiệu suất tình dục. Chính sự lo lắng này có thể làm giảm hưng phấn, khó duy trì cương hoặc tạo cảm giác "không đủ", dù về mặt sinh học chưa chắc có rối loạn rõ ràng.
Trong một số trường hợp, thủ dâm có thể góp phần gây ảnh hưởng, nhưng vấn đề không ở số lần mà ở cách thức và mức độ lệ thuộc. Nếu quen với kiểu kích thích quá đặc hiệu, quá mạnh hoặc mang tính cá nhân hóa cao, cơ thể có thể thích nghi theo kiểu đó; đến khi chuyển sang quan hệ thực tế, phản ứng không còn đồng bộ. Một số nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ giữa tần suất thủ dâm và tình trạng xuất tinh chậm. Tuy nhiên mối liên hệ này nhìn chung yếu và không nhất quán, cho thấy đây không phải nguyên nhân duy nhất mà chỉ là một yếu tố góp phần trong bối cảnh cụ thể.
Về mặt nội tiết, hiện cũng chưa có bằng chứng đáng tin cậy cho thấy thủ dâm thường xuyên gây suy giảm testosterone lâu dài hay "hao sinh lực". Các thay đổi hormone nếu có thường chỉ mang tính ngắn hạn và không dẫn đến rối loạn nội tiết đáng kể ở nam giới khỏe mạnh.
Điều quan trọng không phải là đếm số lần, mà là xem hành vi đó có gây hậu quả thực tế hay không. Nếu vẫn sinh hoạt bình thường, không đau, không lệ thuộc, không né tránh quan hệ thật và không bị ám ảnh kiểm tra liên tục, thì thường chưa phải vấn đề bệnh lý. Ngược lại, nếu xuất hiện các dấu hiệu như khó cương kéo dài, khó duy trì cương khi gần gũi, chỉ dễ đạt kích thích khi ở một mình, xuất tinh chậm rõ rệt hoặc lo lắng dai dẳng ảnh hưởng đến đời sống, thì nên đi khám chuyên khoa để được đánh giá đầy đủ.
Tin Gốc: Vnexpress

