Cũng như nhiều vườn khác, chủ vườn cam sành này đành bỏ mặc vườn cam của mình chín rục.
Chỉ năm ngoái thôi, những trái cam trong khu vườn này đã cho gia đình ông bay bổng trong cảnh được mùa được giá, nhưng năm nay, vẫn những trái cam mọng nước ấy, lại đang héo hon trong cảnh giá thu mua chạm đáy ngay tại vườn.
Lang thang cùng lão nông nhỏ thó, khắc khổ, giữa những luống cam trĩu quả, tôi biết, người chủ vườn này không trồng sai, ông tin vào những gì đã từng đúng, nên giờ vẫn đang ngơ ngác trước những đổi thay thời thế chóng mặt đang xoay chuyển liên tục bên ngoài vườn cam của ông.
Và có lẽ, chính điều đó mới là vấn đề.
Câu chuyện những vườn cam đã từng rực rỡ rồi lại bỏ không, có thể nói là một lát cắt phản ảnh toàn bộ nền Nông nghiệp Việt Nam hôm nay – nơi mà người nông dân vẫn làm việc chăm chỉ, nhưng kết quả ngày càng phụ thuộc vào may rủi.
Khi thị trường thay đổi theo từng vụ mùa và khí hậu, cũng như những câu chuyện mang tính đổi thay địa chính trị, mọi thứ không còn vận hành theo quy luật cũ, những quyết định dựa vào kinh nghiệm xưa cũ của cả hệ sinh thái nông nghiệp nói riêng cũng dần trở nên lạc nhịp.
Nông nghiệp Việt nói chung không thiếu đất, không thiếu người cũng như cả những quyết tâm, tất cả chỉ đang thiếu một cách nghĩ phù hợp với thời thế mới. Và vì thế, xét về bản chất, thì Nông nghiệp Việt vẫn đang phiêu lưu đến ngày mai bằng chính dữ liệu của quá khứ.
Trước đây, nông nghiệp Việt hầu như vận hành dựa vào kinh nghiệm không phải là sai. Ngược lại, đó từng là lựa chọn hợp lý và hiệu quả. Khi thị trường trong và ngoài nước còn tương đối ổn định, các chỉ số về sản lượng luôn đi theo quy mô dân số, nhu cầu, thì việc “đạt năng suất cao” gần như đảm bảo cho cả một hệ thống sẽ tích luỹ được thặng dư.
Người nông dân không cần dự báo gì xa xôi, họ chỉ cần dựa theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình, học hỏi lẫn nhau rồi xắn tay gieo thêm những gì đã từng mang lại kết quả.
Kinh nghiệm, vì thế, trở thành một dạng “dữ liệu sống” – được tích lũy qua năm tháng, truyền từ thừa qua nhiều thế hệ. Nó không chỉ là “trăm hay”, mà còn là trục niềm tin được mặc định. Khi một loại cây từng giúp cả làng thoát nghèo, thì việc tiếp tục trồng nó không chỉ là quyết định mang tính kế thừa, mà còn có thể gọi là truyền thống, không thể khác, không cần tính toán xa xôi.
Trong một thế giới ít biến động, tư duy ấy đã từng đúng. Và chính vì cũng đã từng đúng trong thời gian đủ dài, người nông dân nói riêng có lý do để tin vào nó -thậm chí gắn chặt đời mình vào niềm tin đó – như một cách để “phòng thân” giữa cuộc sống nhiều rủi ro.
Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, những gì từng đúng trong Nông nghiệp cũng đang dần đổi thay. Thị trường nông sản hôm nay không còn vận hành theo nhịp năm, mà theo nhịp tháng, thậm chí từng tuần. Một loại nông sản có thể “sốt giá” trong một mùa, nhưng ngay sau đó lại nhanh chóng rơi vào tình trạng “giải cứu” vì rất nhiều lý do. Và trong câu chuyện thay đổi này, khoảng trễ giữa sản xuất và thông tin, luôn là vấn đề mấu chốt.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đang làm xáo trộn những quy luật quen thuộc. Ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, nước mặn xâm nhập sâu hơn, hạn hán, mưa lũ trái mùa kéo dài hơn, đất đai cũng đâu “dễ thở” như trước. Vì thế, những kinh nghiệm từng tích lũy qua nhiều thế hệ của người nông dân dần trở nên kém chính xác trong một môi trường ngày càng bất định.
Ở quy mô lớn hơn, nông nghiệp giờ đây không chỉ là câu chuyện trồng trọt, mà còn là một phần của chuỗi giá trị toàn cầu. Giá trị không còn nằm chủ yếu ở sản lượng, mà ở khả năng chế biến theo chuẩn, xây dựng thương hiệu và liên tục mở rộng cũng như tiếp cận thị trường mới. Khi phần lớn lợi nhuận nằm ở cuối chuỗi, việc chỉ tập trung vào sản xuất khiến người nông dân luôn ở vị thế yếu. Và khi người làm nông ở vị thế thấp như vậy, thì nền Nông nghiệp nước nhà sẽ khó bay cao.
Đơn cử như ở Israel, một quốc gia không có lợi thế về tài nguyên đất và nước như Việt Nam, nhưng nền nông nghiệp của họ được tổ chức theo một hệ thống có thể dự báo và kiểm soát. Chính Phủ cũng như người làm nông nước họ không chờ thời tiết thuận lợi, mà thiết kế giải pháp để thích nghi, không trồng theo thói quen, mà ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Khi không có một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, quyết định sản xuất thường phải dựa vào những gì họ nghe được: từ thương lái, từ đồng nghiệp, thậm chí từ cả thế giới mạng. Đó có thể là kiểu thông tin “năm nay mít được giá” rất mơ hồ nhưng dễ lan nhanh. Trong khoảng trống thông tin như vậy, nguồn tin không chính thống nghiễm nhiên trở thành dữ liệu.
Phần lớn nông dân vẫn sản xuất nhỏ lẻ, khó liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh chung. Khi đến mùa thu hoạch, họ không quyết định được giá bán, mà chờ người khác đến định giá. Không có hợp đồng dài hạn, không có kênh tiêu thụ thật sự ổn định, cho nên mỗi vụ mùa đều chuyên chở cả những “hên xui”. Hãy nhân rộng vấn đề hiện tại lên, bức tranh toàn cảnh của một nền Nông nghiệp đầy phập phồng sẽ hiện ra.
Người nông dân sẵn sàng thử giống mới, học cách làm mới, thậm chí vay vốn để đầu tư. Nhưng trong một hệ thống thiếu thông tin, thiếu liên kết và thiếu bảo đảm, mỗi thay đổi đều đi kèm rủi ro lớn.
Cho nên, câu chuyện thực tế đằng sau hàng loạt sự kiện “giải cứu” qua nhiều năm, ta có thể thấy rằng. Người nông dân không thiếu ý chí thay đổi – họ đang thiếu một hệ thống giúp họ thay đổi.
Ở cấp quản lý, điều cần thiết không chỉ là chính sách, mà là một hệ thống vận hành đồng bộ đính kèm: hành lang pháp lý rõ ràng để khuyến khích chia sẻ dữ liệu và liên kết sản xuất; cơ chế tín dụng linh hoạt, cho phép vay vốn dựa trên phương án sản xuất thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp; các chương trình đào tạo thực chất để “xóa mù công nghệ”, giúp người nông dân hiểu và sử dụng được công cụ mới. Quan trọng không kém là vai trò kết nối thị trường – từ hỗ trợ xây dựng thương hiệu đến mở rộng kênh tiêu thụ – để người sản xuất không còn đứng một mình ở đầu chuỗi.
Tôi rời khu vườn cam mà lòng cũng nặng trĩu. Rồi khu vườn cam này sẽ lại được trồng. Người nông dân như ông chủ vườn vẫn sẽ xuống giống, vẫn sẽ chăm sóc, vẫn đặt hy vọng vào một mùa vụ mới.
Nhưng nếu cách quyết định không thay đổi, thì kết cục có thể cũng sẽ không sáng sủa gì cho cam. Bởi cuối cùng, thứ quyết định tương lai của cả khu vườn không phải là cây cam, mà là lý do chính xác người ta phải trồng thứ gì trên nó.
"Một số thành viên cho rằng có cơ sở vững chắc để không loại trừ phương án lãi suất nào trong tương lai. Việc này phản ánh khả năng điều chỉnh để phù hợp việc lạm phát liên tục cao hơn mục tiêu 2% của Fed", biên bản công bố ngày 8/4 viết. Quan điểm này được quan tâm trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng cao hơn một tháng qua.
Fed đã giảm lãi suất nhiều lần từ năm 2024. Tuyên bố sau cuộc họp tháng trước của cơ quan này cũng nghiêng về khả năng tiếp tục nới lỏng. Tuy nhiên, biên bản tháng 3 cho thấy số quan chức cởi mở hơn với khả năng tăng lãi suất so với thông điệp đưa ra sau cuộc họp đầu năm.
Sau khi xung đột tại Trung Đông nổ ra ngày 28/2, "nhiều thành viên chỉ ra rủi ro lạm phát duy trì ở mức cao đang kéo dài lâu hơn dự kiến do giá dầu tăng". Nếu giá năng lượng vẫn cao, "chi phí đầu vào tăng có thể sẽ phản ánh vào lạm phát cơ bản", biên bản viết.
Chỉ số giá chi tiêu cá nhân (PCE) - thước đo lạm phát ưa thích của Fed - tăng 2,8% trong tháng 1 và 2,9% tháng 12/2025. Mục tiêu của cơ quan này là lạm phát 2%. PCE tháng 3 sẽ được công bố tuần này.
Trong cuộc họp tháng 3, Fed giữ nguyên lãi suất tham chiếu ở mức 3,5-3,75%. Cơ quan này cũng nhận định xung đột đang gây ra nhiều bất ổn mới cho triển vọng kinh tế.
Dù vậy, "nhiều thành viên" vẫn coi việc giảm lãi suất là kịch bản cơ sở. Phần lớn thành viên cho rằng nếu xung đột Trung Đông kéo dài, tác động tiêu cực lên tăng trưởng có thể đủ lớn để buộc họ giảm lãi suất nhiều hơn.
Họ lo ngại "xung đột kéo dài có thể khiến thị trường lao động suy yếu thêm, từ đó cần gia tăng các đợt giảm lãi suất do giá dầu leo thang làm giảm sức mua của hộ gia đình, thắt chặt điều kiện tài chính và kìm hãm tăng trưởng toàn cầu", biên bản cho biết.
Biên bản được Fed đưa ra một ngày sau khi Mỹ và Iran thông báo ngừng bắn 2 tuần. Dù vậy, tối 8/4, truyền thông Iran đưa tin nước này đình chỉ cho phép tàu qua eo biển Hormuz và đe dọa rút khỏi thỏa thuận ngừng bắn vì Israel tiếp tục tấn công vào Lebanon, nơi có nhóm Hezbollah do Tehran hậu thuẫn. Mỹ đồng thời cảnh báo Iran không để thỏa thuận đổ vỡ vì Lebanon.
Mục tiêu trên được ông Đỗ Quang Vinh, Chủ tịch Chứng khoán SHS, nêu tại phiên họp thường niên diễn ra ngày 17/4. Đây được cho là kế hoạch tham vọng khi SHS vẫn nằm ngoài nhóm 10 công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất, tính đến cuối quý I năm nay, theo số liệu từ Sở giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE).
Theo ông Đỗ Quang Vinh, doanh nghiệp này có lợi thế hút thêm khách hàng lớn do đang "sống" trong một hệ sinh thái tài chính khép kín, trong đó có ngân hàng SHB, công ty quản lý quỹ hay tập đoàn T&T. Chủ tịch này nhấn mạnh mục tiêu SHS muốn tham gia các thương vụ phát hành lớn, đồng thời kết nối với các nhà đầu tư quốc tế.
Chia sẻ sâu hơn về mục tiêu này, Tổng giám đốc Nguyễn Duy Linh cho biết công ty hiện nắm khoảng 1,65% thị phần môi giới trên HoSE. "Nếu muốn vào nhóm 10 công ty hàng đầu, thị phần của chúng tôi cần nâng lên khoảng 3%", ông Linh nói.
CEO này đánh giá kế hoạch của công ty có cơ sở khi số lượng nhà đầu tư chứng khoán hiện chỉ chiếm khoảng 11% dân số. Vì vậy, ông cho rằng dư địa để hút thêm khách vẫn còn nhiều khi lượng nhà giao dịch đi lên. Ngoài ra, Chính phủ cũng muốn thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán như một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế.
Để gia tăng thị phần môi giới, Tổng giám đốc SHS chia sẻ công ty đặt trọng tâm tăng trưởng cả quy mô lẫn tài sản của khách hàng. Doanh nghiệp này dự kiến chia phân hạng khách hàng chi tiết để thiết kế sản phẩm phù hợp, đồng thời thời đầu tư vào cả công nghệ lẫn nâng cao trình độ đội ngũ tư vấn. "Những sản phẩm mang tính chất chung chung sẽ không thu hút được nhà đầu tư", ông Linh nói.
Ngoài ra, công ty cũng sẽ đa dạng hóa phương thức thanh toán cho các khách hàng. Ông Duy Linh cũng khẳng định không theo đuổi cuộc đua miễn phí giao dịch (zero fee) trên diện rộng. Thay vào đó, mức phí và lãi suất cho vay sẽ được đưa ra theo từng phân khúc khách hàng, đi kèm với giá trị gia tăng về sản phẩm và dịch vụ.
Năm 2026, SHS được cổ đông thông qua kế hoạch kinh doanh với tổng doanh thu dự kiến 3.739 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 1.718 tỷ đồng, tăng lần lượt 2% và 4% so với năm trước. Tuy nhiên, đà tăng trưởng của năm nay dự kiến sẽ thấp hơn mức 33% của năm ngoái.
Ông Đỗ Quang Vinh đánh giá kế hoạch kinh doanh năm nay thận trọng nhưng phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Chủ tịch này cho biết bối cảnh quốc tế với các nhiều cuộc căng thẳng địa chính trị diễn ra vẫn có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô xuyên suốt năm 2026.
Ngoài ra, Hội đồng quản trị công ty còn muốn đặt mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng ở các mảng kinh doanh khác. Theo đó, SHS sẽ thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng bền vững, bằng cách hạ tỷ trọng hoạt động tự doanh và đẩy mạnh vào các nguồn thu khác."Nếu năm 2025, mảng đầu tư chiếm hơn một nửa lợi nhuận thì năm 2026 tỷ trọng này giảm còn khoảng 35%", ông Duy Linh nói.
Ngược lại, các nguồn thu cốt lõi như cho vay, môi giới, ngân hàng đầu tư và sản phẩm tài chính sẽ tăng tỷ trọng đóng góp. Trong đó, hoạt động cho vay dự kiến chiếm khoảng 46%, các mảng khác khoảng 10-15%.
Trong báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán năm 2025 vừa công bố, Công ty cổ phần Tập đoàn Golden Gate đã công bố chi tiết về thương vụ mua lại chuỗi bán lẻ cà phê The Coffee House từ Seedcom. Cụ thể, ngày 8/1/2025, Golden Gate chi ra hơn 243,5 tỷ đồng để mua 99,98% vốn của Công ty cổ phần Thương mại Dịch vụ Trà Cà Phê Việt Nam - đơn vị sở hữu chuỗi The Coffee House. Kể từ đó, đơn vị này trở thành công ty con của họ và kết quả kinh doanh được hợp nhất.
Báo cáo cho biết từ đầu năm đến trước ngày hợp nhất, The Coffee House có doanh thu 10,6 tỷ đồng và lỗ thuần trước thuế 6,4 tỷ đồng. Còn tính từ ngày mua đến hết năm 2025, chuỗi cà phê này đóng góp khoản lỗ 73,7 tỷ đồng vào lợi nhuận trước thuế của Golden Gate.
Giá phí cho thương vụ này có sự thay đổi so với báo cáo năm 2024. Thời điểm đó, họ đưa ra con số tạm thời là 270 tỷ đồng. Với số liệu đã được kiểm toán, giá thâu tóm chuỗi cà phê này của Golden Gate chỉ bằng khoảng 24% so với định giá của hãng kiểm toán và định giá ASCO hồi năm 2021 - 50 triệu USD.
The Coffee House là chuỗi cà phê từng nổi đình đám một thời nhưng thời gian qua phải đóng nhiều cửa hàng nhằm tối ưu chi phí, cải thiện hiệu quả hoạt động. Hiện The Coffee House còn 78 điểm bán, chủ yếu ở các thành phố lớn như TP HCM, Hà Nội và các tỉnh vùng ven. Con số này tiếp tục sụt 15 cửa hàng so với thời điểm Golden Gate mua lại, cho thấy quá trình tái cấu trúc, cắt giảm các điểm bán kém hiệu quả vẫn tiếp diễn.
Tình trạng kinh doanh thua lỗ đã kéo dài nhiều năm qua. Số liệu của Vietdata - nền tảng cung cấp dữ liệu vĩ mô, doanh nghiệp và nghiên cứu về nhiều lĩnh vực - cho thấy doanh thu chuỗi này giảm 11% về khoảng 700 tỷ đồng trong năm 2023. Lợi nhuận sau thuế cũng liên tục âm trên trăm tỷ đồng trong hai năm 2022 và 2023. Số liệu năm 2024 không được công bố.
Tuy phải gánh khoản lỗ từ The Coffee House, kết quả kinh doanh hợp nhất của Golden Gate trong năm trước lại tăng trưởng mạnh. Lợi nhuận sau thuế tăng hơn gấp đôi lên 213,8 tỷ đồng và đạt mức lớn nhất kể từ năm 2022.
Kết quả trên đến từ việc doanh thu đạt 7.690,5 tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2024, chủ yếu nhờ mảng bán thực phẩm và đồ uống. Doanh thu tài chính đạt gấp 3,5 lần, lên hơn 96 tỷ đồng, phần lớn đến từ lãi thoái vốn công ty con. Giá vốn và các chi phí thường xuyên cũng tăng theo, nhưng được giữ ở tỷ lệ thấp hơn doanh thu. Từ đó, lợi nhuận của công ty cải thiện mạnh.
So với kế hoạch đề ra, Golden chưa hoàn thành mục tiêu 8.124 tỷ đồng doanh thu nhưng đã vượt 4% so với mốc lãi dự kiến gần 205 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức lợi nhuận vẫn chưa thể ngang với giai đoạn trước dịch.
Thành lập từ năm 2005, Golden Gate là một trong những đơn vị đầu tiên áp dụng mô hình chuỗi nhà hàng tại Việt Nam. Công ty đang sở hữu gần 40 thương hiệu cùng khoảng 600 nhà hàng, phục vụ 18 triệu lượt khách hàng mỗi năm.
Hệ sinh thái của họ chủ yếu có 5 phong cách ẩm thực chính gồm lẩu, nướng, Á, Âu và mới đây là cà phê. Một số chuỗi nhà hàng tiêu biểu của Golden Gate là Manwah, Kichi Kichi, iSushi, Durama, Icook, Gogi House, Sumo BBQ, Cowboy Jack's, Vuvuzela...