Ngân hàng nào hưởng lợi khi nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn?

Ngân hàng nào hưởng lợi khi nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn?

Thông tư 25 của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực từ ngày 1/7, nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40% với các ngân hàng.

Trước đó, tỷ lệ này đã được điều chỉnh giảm từ 40% xuống 30% và áp dụng từ đầu năm 2023 nhằm hạn chế rủi ro chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay.

Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) đánh giá, việc nâng trần lên 40% không phải là sự “lùi bước” trong quản trị rủi ro. Công ty này cho đây là biện pháp nới lỏng có tính toán để hỗ trợ nền kinh tế, tạo thời gian và không gian cho các ngân hàng tích lũy nguồn lực trước khi bước vào giai đoạn chuẩn hóa Basel III khắt khe hơn từ năm 2028.

Theo đó, hai năm nữa, các ngân hàng sẽ bắt buộc áp dụng tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) theo chuẩn Basel III – chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu tài trợ dài hạn bằng các nguồn vốn ổn định – thay cho quy định về tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Theo lộ trình, NSFR phải đạt tối thiểu 90% từ năm 2028 và 100% từ năm 2030.

Còn với quy định mới nâng trần vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được Chứng khoán Vietcombank ước tính có thể mở rộng khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa cho vay trung và dài hạn của hệ thống ngân hàng.

Phần dư nợ tăng thêm này chủ yếu sẽ hỗ trợ các ngành có chu kỳ hoàn vốn dài như bất động sản, năng lượng tái tạo, đầu tư công và hạ tầng công nghiệp. Theo đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn ngành mỗi năm kỳ vọng đạt 17%, VCBS nhận định.

Theo công ty chứng khoán này, tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn của toàn hệ thống có thể tăng trở lại khoảng 48-49%, tương đương giai đoạn 2020-2021, từ mức khoảng 46% vào cuối năm 2025.

Trong bối cảnh lãi suất huy động dài hạn thường cao hơn đáng kể so với kỳ hạn ngắn, việc được phép sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn cũng giảm áp lực phải phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 kỳ hạn dài với lãi suất cao. Qua đó, chi phí vốn và hỗ trợ biên lợi nhuận (NIM) của các ngân hàng sẽ được cải thiện trong nửa cuối năm nay.

VCBS đánh giá mức độ hưởng lợi sẽ khác nhau giữa các nhóm ngân hàng trước quy định mới.

Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm BIDV, Vietcombank, Vietinbank luôn duy trì tỷ lệ SMLR ở mức rất an toàn từ 20% đến 25%. Nhóm này sở hữu lợi thế lớn về cấu trúc tiền gửi có kỳ hạn dài ổn định và lượng vốn điều lệ lớn.

Cùng với việc sửa đổi công thức tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) cho phép bổ sung trở lại 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào huy động, nhóm này sẽ được hỗ trợ thanh khoản nhằm thúc đẩy tín dụng các lĩnh vực xây dựng đầu tư công, tài trợ dự án hạ tầng giao thông, năng lượng….

Với nhóm ngân hàng tư nhân lớn như Techcombank, MB, Sacombank, ACB và VPBank, tỷ lệ SMLR cũng ổn định quanh 24-27%. Nhóm này tận dụng tốt dòng tiền gửi không kỳ hạn dồi dào để tối ưu hóa chi phí vốn mà không vi phạm quy định rủi ro kỳ hạn.

Quy định mới theo đó sẽ tạo thêm dư địa đẩy mạnh cho vay các phân khúc có lợi suất cao như cho vay mua nhà, dự án hạ tầng và bất động sản, đồng thời giảm nhu cầu huy động vốn dài hạn với chi phí cao, qua đó hỗ trợ cải thiện NIM.

Tại nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, một số đơn vị có tỷ trọng cho vay xây dựng – bất động sản rất cao (như NCB, OCB, SHB, MSB…). Một số nhà băng cũng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn đang bám sát trần quy định 29-30%.

Việc Ngân hàng Nhà Nước nâng trần lên 40% đã tháo gỡ áp lực trực tiếp cho nhóm ngân hàng này, giảm bớt cuộc đua lãi suất huy động kỳ hạn dài.

Bên cạnh đó, nhóm tiên phong triển khai sớm Basel III như VIB, Techcombank, ACB, VPBank, HDBank, TPBank, OCB sẽ có lợi thế lớn nhờ việc được miễn áp dụng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và nới lỏng room tăng trưởng tín dụng. Nhờ đó, các ngân hàng này có thể tối ưu hóa việc sử dụng vốn và bảo vệ NIM, đồng thời chủ động cân bằng giữa rủi ro và tăng trưởng trong dài hạn.

Tuy nhiên việc nới trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo VCBS, cũng đặt ra những thách thức cho hệ thống ngân hàng.

  Đại gia bảo hiểm Bảo Việt 'chơi' chứng khoán, dốc 300 tỉ mua cổ phiếu FPT nhưng… lỗ?

Nhóm phân tích của các công ty chứng khoán và giới chuyên gia nhận định việc sử dụng nhiều vốn ngắn hạn để tài trợ tài sản dài hạn làm tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn. Đây cũng chính là lý do Ngân hàng Nhà nước từng siết tỷ lệ này trong giai đoạn trước.

VCBS phân tích, việc nới lỏng giới hạn này làm gia tăng yêu cầu đối với công tác quản trị rủi ro thanh khoản các ngân hàng trong bối cảnh cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng hiện vẫn chủ yếu dựa vào tiền gửi ngắn hạn dưới 12 tháng (chiếm 80-90% tổng tiền gửi). Trong khi đó, nhu cầu tín dụng của nền kinh tế tập trung nhiều ở các khoản vay trung và dài hạn.

Điều này được VCBS đánh giá có thể làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn, cũng như yêu cầu chiến lược tối ưu hóa danh mục và quản trị rủi ro thanh khoản hợp lý của các ngân hàng cho từng giai đoạn.

Tin Gốc: Vnexpress