Mặc dù màn hình điện thoại ngày càng bền bỉ, nhiều người vẫn tìm kiếm sự an tâm mà miếng dán màn hình mang lại. Tuy nhiên, không phải tất cả miếng dán màn hình đều giống nhau. Khi lựa chọn, nhiều người thường chỉ quan tâm đến những thông số như độ cứng 9H mà lại bỏ qua một chi tiết quan trọng có thể làm hỏng trải nghiệm chỉ sau vài tuần sử dụng: lớp phủ chống dầu (hay còn gọi là oleophobic).
Lớp phủ chống dầu có tác dụng ngăn chặn sự tích tụ của dầu tự nhiên từ tay người dùng trên bề mặt miếng dán. Tính năng này không chỉ giúp cải thiện trải nghiệm sử dụng mà còn giảm thiểu nhu cầu bảo trì thiết bị. Khi lớp phủ này hoạt động hiệu quả, người dùng sẽ không cần phải lau chùi màn hình thường xuyên như trước.
Miếng dán màn hình có lớp phủ chống dầu thường được làm từ các vật liệu có khả năng chống bám dính. Nếu không có lớp phủ này, các lớp dầu từ tay có thể dễ dàng bám vào bề mặt gây khó khăn trong việc vệ sinh. Ngược lại, lớp phủ chống dầu giúp giảm thiểu vết bẩn và dấu vân tay, từ đó nâng cao độ rõ nét và khả năng hiển thị của màn hình.
Ngoài ra, lớp phủ này còn giúp việc cuộn, vuốt và nhấp chuột trở nên mượt mà hơn nhờ việc giảm ma sát giữa ngón tay và màn hình. Kết quả là, lớp phủ không chỉ mang lại trải nghiệm sử dụng tốt hơn mà còn giúp việc vệ sinh màn hình trở nên dễ dàng hơn.
Dĩ nhiên, việc có cần miếng dán bảo vệ màn hình hay không vẫn là một chủ đề gây tranh cãi. Nhưng nếu đã quyết định đầu tư vào phụ kiện này, người dùng hãy đảm bảo rằng miếng dán mình chọn có lớp phủ chống dầu và tìm hiểu về các chất liệu khác nhau để đảm bảo mức độ bảo vệ phù hợp cho thiết bị của mình.
Tin Gốc: Thanh Niên
Khoa Học Công Nghệ
NASA điều tra hiệu quả tấm chắn nhiệt ngay khi tàu Artemis II hạ cánh

Tàu Orion chở phi hành đoàn Artemis II tái nhập khí quyển, bung dù giảm tốc và đáp thành công xuống vùng biển ngoài khơi San Diego tối 10/4 (sáng 11/4 giờ Hà Nội), kết thúc chuyến bay vòng qua phía sau Mặt Trăng mang tính lịch sử. "Đó là một chuyến tái nhập khí quyển chuẩn chỉ và một cú hạ cánh chuẩn chỉ", người dẫn chương trình trong buổi phát sóng trực tiếp của NASA nói.
Sau khi đáp xuống biển, phi hành đoàn Artemis II được đưa ra khỏi Orion, vận chuyển đến tàu USS John P. Murtha bằng trực thăng của Hải quân Mỹ, sau đó trở về bờ để lên máy bay đến Trung tâm Vũ trụ Johnson của NASA ở Houston.
Thợ lặn của hải quân cũng gắn dây cáp vào Orion để kéo lên giá đỡ được thiết kế đặc biệt trong khoang chứa của USS John P. Murtha. Orion sau đó được đưa đến Căn cứ Hải quân Mỹ San Diego, rồi tới Trung tâm Vũ trụ Kennedy của NASA ở Florida. Tại đây, kỹ thuật viên sẽ kiểm tra kỹ con tàu, thu thập dữ liệu, tháo dỡ thiết bị và tiến hành các kiểm tra bổ sung sau chuyến bay.
Tuy nhiên, vài giờ sau khi tàu Orion đáp xuống biển, nhiều người phát hiện một mảng trắng lớn trên tấm chắn nhiệt vốn tối màu và cháy xém trong những bức ảnh về cuộc hạ cánh. Mảng trắng này thu hút sự chú ý vì trông giống dấu hiệu hư hại.
Nhiệm vụ Artemis II đánh dấu lần đầu tiên NASA đưa con người bay đến Mặt Trăng sau 54 năm, đồng thời là lần đầu tiên tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS) và tàu Orion của cơ quan này chở người. Phi hành đoàn đã lập kỷ lục bay xa Trái Đất nhất lịch sử, đồng thời trở thành những người đầu tiên quan sát một số khu vực ở phía xa Mặt Trăng (phía luôn khuất khi nhìn từ Trái Đất) bằng mắt thường.
Do những lần đầu tiên này, toàn bộ nhiệm vụ được theo dõi sát sao, đặc biệt là khoảng 15 phút cuối do tấm chắn nhiệt trên tàu Orion từng bị hư hại trong giai đoạn tái nhập khí quyển của nhiệm vụ Artemis I.
Tấm chắn nhiệt là lớp bảo vệ ở đáy tàu Orion, được thiết kế nhằm ngăn tàu cháy rụi trong quá trình tái nhập khí quyển Trái Đất. Time cho biết, cũng giống như tàu Apollo, tấm chắn nhiệt của Orion chủ yếu làm từ vật liệu Avcoat, một hỗn hợp gồm nhựa epoxy và sợi silica, giúp hấp thụ sức nóng khủng khiếp khi lao xuống khí quyển và từ từ cháy hết, mang nhiệt lượng đi khỏi con tàu. Nó cần chịu được mức nhiệt lên tới 2.760 độ C, bằng một nửa nhiệt độ bề mặt Mặt Trời và cao hơn đáng kể so với mức 1.650 độ C mà tàu vũ trụ trở về từ quỹ đạo Trái Đất phải chịu.
Tuy nhiên, tấm chắn nhiệt của Orion gặp vấn đề lớn trong nhiệm vụ không người lái Artemis I diễn ra tháng 11/2022. Khi trục vớt khoang tàu từ đại dương, các kỹ thuật viên phát hiện tấm chắn nhiệt có hơn 100 vết nứt và vết lõm lớn nơi Avcoat bong tróc. Điều này dẫn đến nguy cơ sức nóng từ quá trình tái nhập khí quyển đi xuyên qua thành hợp kim nhôm của tàu, lấy mạng phi hành gia bên trong.
Việc tấm chắn nhiệt hư hại ngoài dự kiến khiến NASA tiến hành cuộc điều tra cặn kẽ kéo dài nhiều tháng. Cơ quan này phát hiện, khi tàu lao xuyên qua khí quyển, khí bị mắc kẹt trong một số phần của tấm chắn nhiệt, khiến áp suất tích tụ dần và gây ra những vết nứt vỡ ở lớp vật liệu bên ngoài.
Để giải quyết, NASA đứng trước hai lựa chọn: thiết kế lại hoàn toàn tấm chắn nhiệt khiến Artemis II bị lùi lại ít nhất hai năm, hoặc chỉnh sửa tấm chắn và thay đổi lộ trình tái nhập khí quyển để giảm tải nhiệt. Họ đã chọn phương án thứ hai. Trong nhiệm vụ Artemis II, NASA sử dụng phiên bản Avcoat mới có độ xốp cao hơn, cho phép khí thoát ra ngoài. Thêm vào đó, họ điều chỉnh hành trình quay về Trái Đất của Artemis II theo hướng "nhẹ nhàng" hơn.
Cuối cùng, phương án này tỏ ra hiệu quả khi cả 4 phi hành gia Reid Wiseman, Christina Koch, Victor Glover, Jeremy Hansen của nhiệm vụ Artemis II đều trở về an toàn và khỏe mạnh. Nicky Fox, phó quản lý Ban chỉ đạo Nhiệm vụ Khoa học của NASA, đánh giá quá trình tàu Orion tái nhập khí quyển diễn ra "hoàn hảo". "Cảnh tượng những chiếc dù bung ra, bầu trời xanh tuyệt đẹp và đại dương bao la bên dưới thực sự trông như thể bạn vừa nhẹ nhàng đặt một tách trà lên bàn vậy", Fox nói với CNN.
Thực tế, NASA đã bắt đầu điều tra hiệu quả của tấm chắn nhiệt ngay sau khi Orion đáp xuống Thái Bình Dương. Lori Glaze, quyền phó giám đốc Ban Phát triển Hệ thống Thám hiểm của NASA, cho biết máy bay được bố trí gần địa điểm hạ cánh để chụp ảnh và thu thập dữ liệu ban đầu về tấm chắn nhiệt. "Chúng tôi cũng có các thợ lặn dưới mặt nước chụp ảnh tấm chắn nhiệt trước khi nó được đưa lên tàu USS John P. Murtha để tìm hiểu tình trạng chính xác sau chuyến hạ cánh", Glaze cho biết.
NASA không phản hồi yêu cầu bình luận của NBC News về tình trạng hay thời điểm công bố bản phân tích đầy đủ về hiệu quả của tấm chắn nhiệt. Tuy nhiên, trả lời bài đăng trên X của Eric Berger, biên tập viên Ars Technica, Giám đốc NASA Jared Isaacman cho biết mảng trắng này nằm trong dự tính.
"Tôi ngại cung cấp thông tin khi chưa có đánh giá dữ liệu đầy đủ, nhưng hiểu sự tò mò của cộng đồng người quan tâm đến vũ trụ, nhất là khi hình ảnh tạo cảm giác có vấn đề xảy ra. Như các bạn dự đoán, các kỹ sư rất muốn kiểm tra tấm chắn nhiệt, bắt đầu từ hình ảnh do thợ lặn chụp ngay sau cú hạ cánh xuống biển và tiếp tục với việc kiểm tra nó trên tàu thủy", Isaacman viết.
"Không có vấn đề bất thường nào được ghi nhận, sự đổi màu đó không phải vật liệu bị bong ra", ông cho biết và giải thích, mảng trắng tương ứng với "vùng đệm nén" của tấm chắn nhiệt, phù hợp với những gì các kỹ sư NASA quan sát được trong quá trình thử nghiệm trước khi phóng. Ông cũng khẳng định NASA "sẽ hoàn tất việc đánh giá dữ liệu đầy đủ trên mọi hệ thống, bao gồm cả hệ thống bảo vệ nhiệt, và thông báo kết quả công khai".
Tàu Orion đưa phi hành đoàn Artemis II rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội) thực hiện nhiệm vụ có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn được ví "đại diện cho thế giới", khi lần đầu có phụ nữ, người da màu và thành viên không phải người Mỹ bay tới Mặt Trăng. Họ ước tính đã di chuyển quãng đường 1.117.659 km trong toàn bộ hành trình vòng quanh Trái Đất và Mặt Trăng. Tổng thời gian bay ước tính là 9 ngày 1 giờ và 31 phút.
Nhiệm vụ Artemis II được thiết kế như một bước đệm cho chương trình Artemis của NASA, hướng tới thiết lập sự hiện diện lâu dài của con người trên Mặt Trăng. Nhiệm vụ không người lái Artemis I diễn ra hồi tháng 11/2022, sau nhiều đợt hoãn và hủy phóng. Tiếp theo, NASA sẽ thử nghiệm tàu Orion và các trạm đổ bộ Mặt Trăng trên quỹ đạo Trái Đất trong nhiệm vụ Artemis III năm 2027. Cơ quan này đặt mục tiêu thực hiện chuyến đổ bộ Mặt Trăng đầu tiên vào năm 2028 với nhiệm vụ Artemis IV. Đến thập niên 2030, NASA kỳ vọng bắt đầu phát triển các khu định cư, robot tự hành và trạm đổ bộ chở hàng, hướng đến thiết lập sự hiện diện bền vững trên bề mặt Mặt Trăng.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo NASA, từ khoảng 18h44 ngày 6/4 (5h44 ngày 7/4 giờ Hà Nội), khi bay qua phía sau Mặt Trăng, tín hiệu vô tuyến và laser - vốn cho phép trao đổi thông tin hai chiều giữa tàu Orion và Trái Đất - sẽ bị chính Mặt Trăng chặn lại, dẫn đến gián đoạn liên lạc. Trong gần một giờ, bốn phi hành gia sẽ trải nghiệm sự tĩnh lặng và cô lập hoàn toàn, lặng lẽ du hành trong không gian tối tăm của vũ trụ.
Phi công Victor Glover của nhiệm vụ Artemis II cho biết, ông hy vọng thế giới sẽ sử dụng khoảng thời gian này để đoàn kết lại. "Khi chúng tôi ở phía sau Mặt Trăng, mất liên lạc với mọi người, hãy coi đó là một cơ hội: cùng cầu nguyện, hy vọng, gửi những suy nghĩ và cảm xúc tốt đẹp để chúng tôi có thể kết nối trở lại", ông nói với BBC trước chuyến bay.
Với phi hành đoàn Artemis II, sự gián đoạn với Trái Đất cho phép họ dành toàn bộ sự chú ý vào khám phá Mặt Trăng. Họ sẽ tập trung chụp ảnh, nghiên cứu địa chất, đồng thời quan sát kỹ vẻ đẹp của thiên thể.
Tuy nhiên, dưới Trái Đất, đây lại là giai đoạn căng thẳng với nhóm phụ trách duy trì liên lạc. Tại Trạm Mặt đất Goonhilly ở Cornwall, tây nam nước Anh, một ăng-ten khổng lồ đang thu thập tín hiệu từ Orion, cẩn thận xác định vị trí của nó xuyên suốt hành trình và truyền thông tin về trụ sở chính của NASA.
Matt Cosby, Giám đốc công nghệ tại Goonhilly, cho hay: "Lần đầu tiên chúng tôi theo dõi tàu chở người. Chúng tôi sẽ hơi lo lắng khi tàu khuất sau Mặt Trăng, và rồi sẽ rất mừng rỡ khi thấy nó trở lại, biết rằng tất cả đều an toàn".
Giới chuyên gia hy vọng sự gián đoạn liên lạc này sẽ sớm được khắc phục thời gian tới, khi NASA cũng như các cơ quan vũ trụ khác bắt đầu xây dựng căn cứ trên Mặt Trăng, đẩy mạnh công cuộc khám phá thiên thể. "Để thiết lập sự hiện diện bền vững trên Mặt Trăng, bạn cần liên lạc đầy đủ 24 giờ một ngày, kể cả ở phía xa, vì phía xa cũng cần được khám phá", ông nói.
Những chương trình như Moonlight của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) dự kiến phóng một mạng lưới vệ tinh xung quanh Mặt Trăng nhằm mang đến khả năng liên lạc liên tục và đáng tin cậy trong tương lai.
Hơn nửa thế kỷ trước, phi hành gia NASA Michael Collins của nhiệm vụ Apollo 11 cũng trải qua sự cô lập do mất tín hiệu khi tàu bay qua phía sau Mặt Trăng, thậm chí đơn độc hơn vì không ở cùng đồng đội.
Năm 1969, trong khi Neil Armstrong và Buzz Aldrin làm nên lịch sử với việc đặt những bước chân đầu tiên lên bề mặt Mặt Trăng, Collins ở lại khoang điều khiển, bay quanh thiên thể này. Khi tàu bay qua phía xa của Mặt Trăng, Collins chỉ còn một mình khi liên lạc với hai người trên bề mặt Mặt Trăng, cũng như với trung tâm điều khiển dưới mặt đất, bị ngắt trong 48 phút.
"Lúc đó tôi chỉ có một mình, thực sự một mình, hoàn toàn bị cô lập khỏi cuộc sống. Nếu đếm, số người sẽ là ba tỷ cộng thêm hai ở phía bên kia của Mặt Trăng, và chỉ một (cộng thêm những thứ chỉ Chúa mới biết) ở phía bên này", ông viết trong cuốn hồi ký Carrying The Fire: An Astronaut's Journeys xuất bản năm 1974. Trải nghiệm này sau đó cũng chỉ có 6 người khác cảm nhận được.
"Ngoài cửa sổ, tôi có thể thấy những ngôi sao, chỉ có thế. Nơi tôi biết có Mặt Trăng lại là một khoảng tối đen. Tôi chỉ xác định được Mặt Trăng vẫn hiện diện nhờ sự vắng mặt của những ngôi sao", Collins miêu tả. Ông chia sẻ, nếu so sánh với trải nghiệm dưới Trái Đất, việc ở một mình trên một chiếc thuyền nhỏ giữa Thái Bình Dương trong màn đêm tối đen có lẽ gần giống nhất.
Tuy nhiên, Collins không hề lo sợ và luôn cảm thấy kỳ lạ khi giới truyền thông miêu tả mình là "người đàn ông cô đơn nhất lịch sử".
"Tôi cảm thấy, không phải sợ hãi hay lẻ loi, mà là cực kỳ mong đợi, hài lòng, tự tin, gần như là hân hoan. Tôi thích cảm giác đó", ông viết.
Thu Thảo (Theo BBC, IFL Science)
Nguồn: https://vnexpress.net/sap-dien-ra-41-phut-tinh-lang-sau-mat-trang-cua-artemis-ii-5058903.html
Khoa Học Công Nghệ
Kiến trúc sư trưởng tại Google: 'Mục tiêu tạo ra AI giải được cả điều con người chưa biết tới'

Ông Kavukcuoglu hiện là Giám đốc công nghệ Google DeepMind. Năm ngoái, ông cũng trở thành người đầu tiên giữ vai trò Kiến trúc sư trưởng về AI (Chief AI Architect) của Google, với mục tiêu đưa mô hình AI tiên tiến vào các sản phẩm của hãng. Tại sự kiện Google I/O 2026 diễn ra giữa tháng 5 tại Mỹ, ông chia sẻ với VnExpress quan điểm về AGI, về cách Google đưa các nghiên cứu AI từ phòng thí nghiệm đến hàng tỷ người dùng, cũng như sự chuẩn bị của người trẻ trong kỷ nguyên mới.
- Google nổi tiếng với công cụ tìm kiếm, nhưng giờ AI trở thành lớp công nghệ bao phủ gần như mọi sản phẩm. Ông cảm nhận sự chuyển đổi bên trong Google thế nào?
- Tôi nghĩ sứ mệnh cốt lõi của Google vẫn luôn là kết nối và giúp người dùng tiếp cận thông tin một cách dễ dàng nhất. Chúng tôi phải liên tục tìm cách tối ưu hóa việc đó. Như Liz Reid (Phó chủ tịch Google phụ trách mảng Tìm kiếm) từng đúc kết rất hay: người dùng luôn muốn tiếp cận thông tin theo cách tối ưu nhất có thể.
Giờ đây, các tiến bộ vượt bậc của AI đang mở ra những cánh cửa hoàn toàn mới. Như mô hình Gemini 3.5 Flash vừa được giới thiệu với khả năng lập luận và tư duy độc lập như một trợ lý ảo, cho thấy công nghệ này đang định hình lại cách chúng ta đạt được sứ mệnh đó.
Nhìn từ góc độ phát triển công nghệ, tôi cho rằng điều tối quan trọng trong quá trình nghiên cứu là phải luôn gắn liền với thực tế. Chúng tôi đã bước qua giai đoạn AI chỉ là những nghiên cứu học thuật trong phòng thí nghiệm, giờ là lúc AI thực sự hữu ích và có tính ứng dụng thực tế.
Chính từ tính ứng dụng này, thông qua phản hồi từ người dùng và qua sản phẩm thực tế, chúng tôi mới định hình được các bước đi tiếp theo trên lộ trình phát triển công nghệ. Song song, chúng tôi kết hợp chặt chẽ việc triển khai AI một cách có trách nhiệm. Người dùng có thể thấy rõ cuộc chuyển dịch qua cách Gemini đang được tích hợp sâu vào hàng loạt sản phẩm của Google, giúp chúng trở nên thông minh, hữu ích hơn và mang lại trải nghiệm tốt hơn.
- DeepMind từng nổi tiếng với các đột phá trong phòng nghiên cứu như AlphaGo trước khi đến với hàng tỷ người dùng. Theo ông, điều khó nhất khi mang các mô hình AI từ nghiên cứu ra thực tế là gì?
- Sự chuyển dịch từ nghiên cứu học thuật thuần túy sang ứng dụng thực tiễn trong thế giới thực là con đường phát triển tự nhiên của bất kỳ công nghệ nào. Nhưng đây là sự chuyển đổi mà chúng ta phải chủ động định hình một cách có ý thức, chứ không thể để nó diễn ra tự phát.
Sứ mệnh của chúng tôi là mang công nghệ này đến với mọi người, làm cho nó trở nên hữu ích và giúp cho cuộc sống của người dùng tốt hơn. Vì thế, đây là một cột mốc dịch chuyển tất yếu và bản thân nó là một cơ hội vô cùng thú vị.
Còn về phần khó nhất trong quá trình, tôi nghĩ với mỗi ý tưởng khác nhau thì thử thách lại khác nhau một chút. Nhưng nhìn chung, luôn có hai vế của một bài toán. Một bên là sự phát triển công nghệ - nơi bạn tạo ra năng lực và sở hữu công nghệ đó. Bên còn lại là câu hỏi: người dùng sẽ thực tế sử dụng nó thế nào? Nó có thực sự giải quyết được vấn đề gì cho họ không? Đâu là cách tốt nhất để họ trải nghiệm công nghệ này?
Điểm khó và cũng là quan trọng nhất chính là việc tìm ra giao điểm để kết nối hai mảnh ghép với nhau. Đó mới là chìa khóa quyết định.
- Gemini đang tiến rất nhanh ở AI đa phương thức và AI Agent. Theo ông bước tiến kỹ thuật nào còn thiếu để AI trở thành một trợ lý thực sự đáng tin cậy, thay vì chỉ là công cụ trả lời câu hỏi?
- Tôi nghĩ điều này hoàn toàn phụ thuộc vào việc chúng ta kỳ vọng gì ở công nghệ. AI đã và đang hỗ trợ chúng ta rất nhiều trong cuộc sống thường nhật ở nhiều khía cạnh khác nhau. Thế nhưng, mục tiêu tối thượng mà chúng tôi theo đuổi là xây dựng một hệ thống mang tính tổng quát, một công nghệ có thể trợ giúp đắc lực cho con người không chỉ trong một vài tác vụ đơn lẻ, mà là trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.
Những gì chúng tôi muốn làm không đơn giản là giải quyết các bài toán trước mắt hay những vấn đề hiển hiện lúc này. Đích đến là tạo ra một công nghệ hướng tới tương lai, có khả năng tự học hỏi, tự thích ứng để giải quyết được cả những vấn đề mà hiện tại chúng ta còn chưa biết tới.
Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, chắc chắn sẽ cần đến rất nhiều năng lực công nghệ mới mà chúng tôi đang đặt ra dưới dạng các giả thuyết nghiên cứu. Đó chính là một phần của hành trình không ngừng khai phá và mở rộng các giới hạn của công nghệ. Và rồi, như tôi chia sẻ, mục tiêu cuối cùng vẫn là kết nối những thành tựu nghiên cứu đó để mang lại trải nghiệm tốt nhất cho người dùng.
- Theo ông, điều gì sẽ quyết định cuộc cạnh tranh AI trong 5 năm tới?
- Tôi nghĩ yếu tố nền tảng bên dưới luôn là mô hình. Các ý tưởng cốt lõi, những nghiên cứu sẽ được đưa vào mô hình đó. Đó là nơi sự phát triển công nghệ thực sự bắt đầu.
Nhưng tất nhiên, bạn không thể tách rời mô hình khỏi dữ liệu, cũng như không thể tách rời khỏi trải nghiệm của người dùng và cách họ tương tác với công nghệ. Một trong những điều quan trọng nhất khi chúng ta phát triển công nghệ cho hiện tại và hướng tới tương lai là sự tương tác đó sẽ diễn ra thế nào, đâu là những điểm quyết định hay những cột mốc kích hoạt (enabling points) trong suốt quá trình phát triển công nghệ đó.
Ở hiện tại, chúng ta có thể thấy rất nhiều bước tiến lớn đang tập trung vào các quy trình tác nhân (agentic workflows). Với Gemini 3.5 Flash, sự gia tăng của năng lực agentic đã tự động thể hiện đồng thời trên rất nhiều sản phẩm khác nhau.
Đó là lý do chúng tôi chia sẻ Gemini 3.5 Flash với các nhà phát triển và đang tạo ra tác động lớn. Đồng thời, nó cũng hiện diện trong Google Search với chế độ AI, trong Gemini, cho tất cả đều có thể tiếp cận. Khi bạn sở hữu một công nghệ cốt lõi có khả năng tích hợp sâu rộng như vậy, mang lại những phương thức tương tác thông tin hoàn toàn mới trong cả Tìm kiếm lẫn ứng dụng Gemini, tôi tin đó chính là cách các năng lực cốt lõi được tổng quát hóa để thực sự hỗ trợ và mang lại giá trị cho cuộc sống của con người.
- Ông nhắc đến "hệ thống mang tính tổng quát". Ông có nghĩ chúng ta vẫn còn khá xa mới đạt được trí tuệ nhân tạo tổng quát AGI không và đâu là những thách thức lớn nhất khi xây dựng AGI?
- Xây dựng trí thông minh nhân tạo là một hành trình dài và chúng ta đang đạt được những bước tiến vô cùng mạnh mẽ trên con đường đó. Nhìn vào tốc độ phát triển chung của toàn ngành, có thể dễ dàng nhận thấy điều này. Nhưng quan trọng hơn, một công nghệ thực sự có giá trị khi nó được chứng minh trong đời thực. Và chúng ta đang thấy AI được ứng dụng ngày một rộng rãi, đồng thời con người cũng dần tin tưởng và cộng tác với nó nhiều hơn trong cuộc sống hàng ngày.
Tuy nhiên, vẫn còn những mảnh ghép cốt lõi mà chúng tôi đang nỗ lực xây dựng. Khi nói về AGI, yếu tố then chốt chính là "tính tổng quát" (generality). Đó là năng lực của một hệ thống không chỉ giải quyết các bài toán của hiện tại - tức là những việc con người đã biết cách làm và dạy lại cho AI - mà phải là một hệ thống có thể tự tìm ra lời giải cho những vấn đề hoàn toàn mới, thậm chí đóng vai trò là người bạn đồng hành cùng chúng ta trong suốt quá trình sáng tạo.
Về khía cạnh này, chúng tôi vẫn còn nhiều việc phải làm ở phía trước.
- Trong tương lai, các quốc gia nhỏ liệu còn có cơ hội xây dựng hệ sinh thái AI riêng, hay AI sẽ dần tập trung vào một vài tập đoàn công nghệ lớn toàn cầu?
- Tôi nghĩ đối với bất kỳ công nghệ nào, điều cốt lõi là phải được tiếp cận rộng rãi. Mọi người trên khắp thế giới đều phải có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng những giá trị mà công nghệ này mang lại. Đây là điều chúng tôi luôn trăn trở và đầu tư rất nhiều nguồn lực.
Một trong những cách quan trọng nhất để đảm bảo điều đó là làm cho mô hình có thể tương tác bằng rất nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đây luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của chúng tôi.
Khi nhìn vào dải sản phẩm của Google và sự hiện diện trên toàn thế giới, hai khía cạnh này luôn song hành: Chúng tôi vừa phải hiểu cách tốt nhất để kích hoạt sản phẩm ở từng khu vực địa lý khác nhau, vừa phải đảm bảo làm điều đó một cách nhất quán. Mục tiêu là để mọi người, ở bất kỳ quốc gia nào, đều có thể cảm nhận rõ ràng những bước tiến công nghệ trong cuộc sống của mình.
Tôi tin nghiên cứu khoa học và sự sáng tạo của con người đều mang tính phổ quát toàn cầu, và hai yếu tố này luôn song hành chặt chẽ. Thực tế, chúng ta đang thấy nghiên cứu AI ngày càng trở nên bình đẳng và mang tính toàn cầu. Các nhà nghiên cứu và tài năng từ khắp nơi trên thế giới đều đang trực tiếp tham gia vào tiến trình phát triển chung này.
Đồng thời, việc đưa AI tiếp cận với nhiều vùng lãnh thổ khác nhau cũng vô cùng quan trọng, và chúng tôi đang nỗ lực hiện thực hóa tại Google. Song song với việc không ngừng bứt phá các giới hạn công nghệ, Google luôn nỗ lực đầu tư vào các hạ tầng và yếu tố nền tảng cần thiết để đảm bảo AI có thể mang lại giá trị thiết thực cho càng nhiều người trên thế giới càng tốt. Đó là mục tiêu dài hạn mà chúng tôi cam kết tiếp tục đầu tư và thúc đẩy. Điều này cũng phản ánh rõ nét qua cách chúng tôi thiết kế dải sản phẩm và mở rộng không gian trải nghiệm cho người dùng trên toàn cầu.
- Nếu hôm nay còn là một sinh viên, ông sẽ tập trung vào điều gì để chuẩn bị cho công việc trong kỷ nguyên AI?
- Tôi nghĩ điều quan trọng nhất đối với học sinh, sinh viên khi đang cân nhắc chọn ngành, chọn nghề, và bản thân tôi cũng đang đưa ra lời khuyên tương tự cho con gái mình: hãy làm những gì thực sự yêu thích và đam mê. Bởi lẽ, sau cùng thì bất kể đó là công việc gì, chính bạn mới là người trực tiếp trải nghiệm, làm việc cùng đồng nghiệp và trăn trở với nó mỗi ngày.
Ngày nay, chúng ta có thể nghĩ đến nhiều ngành nghề khác nhau, và trong tương lai chắc chắn còn xuất hiện thêm nhiều công việc mới mẻ nữa. Nhưng điều cốt lõi là các bạn học sinh, sinh viên hãy luôn tập trung vào những gì mình yêu thích, đồng thời nhìn nhận AI như một công cụ hỗ trợ để giúp bản thân làm tốt hơn. AI hiện diện là để giúp sáng tạo hơn, nâng cao năng suất, làm việc nhanh hơn và hiệu quả hơn trong lĩnh vực của mình.
Suy cho cùng, người thực hiện và làm chủ mọi thứ vẫn là chính bạn. Đó mới là cách chúng ta nên tư duy về công nghệ này.
Tin Gốc: Vnexpress

