Đáng chú ý, Nghị định số 198 sửa đổi, bổ sung quy định về cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo hướng không thay đổi số lượng, giữ nguyên 20 đơn vị; đổi tên Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thành Vụ Tín dụng; Vụ Dự báo, thống kê – Ổn định tiền tệ, tài chính thành Vụ Dự báo, thống kê.
Nghị định số 198 cũng bổ sung quy định “Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước Khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước” và thay đổi số lượng phòng thuộc các vụ.
Theo quy định mới, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gồm:
1. Vụ Chính sách tiền tệ
2. Vụ Thanh toán
3. Vụ Tín dụng
4. Vụ Dự báo, thống kê
5. Vụ Hợp tác quốc tế
6. Vụ Pháp chế
7. Vụ Tài chính – Kế toán
8. Vụ Tổ chức cán bộ
9. Văn phòng
10. Thanh tra Ngân hàng Nhà nước
11. Sở Giao dịch
12. Cục Công nghệ thông tin
13. Cục Phát hành và kho quỹ
14. Cục Quản lý ngoại hối
15. Cục Phòng, chống rửa tiền
16. Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng
17. Cục An toàn hệ thống các tổ chức tín dụng
18. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực (Ngân hàng Nhà nước Khu vực)
19. Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam.
20. Thời báo Ngân hàng.
Trong đó, các cục, vụ là tổ chức hành chính giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chức năng Ngân hàng Trung ương; Trung tâm Thông tin và Thời báo Ngân hàng là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước.
Sở Giao dịch và Ngân hàng Nhà nước khu vực là tổ chức hành chính tương đương cục thuộc Ngân hàng Nhà nước.
Vụ Dự báo, thống kê có 6 phòng. Vụ Chính sách tiền tệ có 5 phòng. Vụ Tín dụng, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Tài chính – Kế toán đều có 4 phòng. Vụ Thanh toán, Vụ Hợp tác quốc tế có 3 phòng. Vụ Pháp chế có 2 phòng.
Theo quy định cũ tại Nghị định 26, Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Dự báo, thống kê – Ổn định tiền tệ, tài chính đều có 6 phòng. Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Tài chính – Kế toán, Vụ Tổ chức cán bộ có 5 phòng. Vụ Thanh toán có 4 phòng. Vụ Pháp chế có 3 phòng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Chủ tịch Hà Nội chia sẻ kế hoạch xây dựng xã, phường XHCN và nhà ở cho thuê

Sáng 28/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị Hội đồng nhân dân (HĐND) toàn quốc triển khai phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2026-2031.
Nhiệm kỳ đặc biệt trong lịch sử hoạt động của HĐND các cấp
Phát biểu khai mạc hội nghị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh đây là sự kiện có nghĩa rất quan trọng, không chỉ tổng kết nhiệm kỳ hoạt động của HĐND các cấp, mà còn là dịp để nhìn nhận đầy đủ hơn vị trí, vai trò của cơ quan dân cử địa phương trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hội nghị cũng là dịp đánh giá những kết quả đạt được cũng như hạn chế, bất cập, bài học kinh nghiệm và định hướng hoạt động của HĐND nhiệm kỳ 2026-2031 trong bối cảnh đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn.
Nhiệm kỳ 2021-2026, theo Chủ tịch Quốc hội, là một nhiệm kỳ đặc biệt trong lịch sử hoạt động của HĐND các cấp.
Thời điểm đó, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức chưa từng có như đại dịch Covid-19, thiên tai, biến đổi khí hậu gây hậu quả nặng nề; tình hình thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường.
Trong khi đó, Đảng, Nhà nước đã ban hành, triển khai nhiều quyết sách chiến lược về đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số quốc gia, cải cách tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền và sắp xếp đơn vị hành chính.
Trong bối cảnh ấy, Chủ tịch Quốc hội ghi nhận HĐND các cấp đã nỗ lực vượt qua khó khăn, tiếp tục khẳng định vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.
Dù vậy, ông cũng thẳng thắn nhìn nhận, quá trình triển khai mô hình chính quyền hai cấp còn nhiều khó khăn, thách thức.
Điển hình là địa bàn quản lý rộng hơn, khối lượng công việc nhiều hơn, yêu cầu cao hơn; năng lực cán bộ ở một số nơi còn hạn chế, đôi khi còn lúng túng trong xử lý công việc; cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ.
Đây là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm, tập trung tháo gỡ, theo lời Chủ tịch Quốc hội.
Chủ tịch Quốc hội cho biết tại hội nghị này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội mong muốn được nghe những ý kiến, chia sẻ những kinh nghiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ trong nhiệm kỳ 2021-2026; đề xuất nhiệm vụ, giải pháp, quyết tâm mới, tư duy mới, cách làm làm mới trong nhiệm kỳ 2026-2031.
Bên cạnh đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội muốn lắng nghe những kinh nghiệm phát huy vai trò của HĐND trong xây dựng cơ chế đột phá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số, cũng như kinh nghiệm về kiểm soát quyền lực trong mô hình chính quyền hai cấp; về ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của HĐND.
Đặc biệt, Chủ tịch Quốc hội đề nghị các đại biểu tìm hiểu kỹ lưỡng cách thức tiến hành chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động công tác của thành phố Hà Nội để có thể vận dụng, thực hiện tại địa phương mình.
Áp lực về dân số, hạ tầng giao thông, môi trường và nhà ở
Về phía Hà Nội, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng chia sẻ thêm Hà Nội đang triển khai nhiều nhiệm vụ lớn theo chủ trương của Trung ương và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, như xây dựng Đề án xã, phường xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền; tháo gỡ các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, hạ tầng kết nối và thủ tục đầu tư; tập trung xử lý úng ngập, ô nhiễm môi trường và phát triển hạ tầng xanh.
Bên cạnh đó, người đứng đầu chính quyền thủ đô chia sẻ về áp lực về dân số, hạ tầng đô thị, giao thông, môi trường, nhà ở, chất lượng nguồn nhân lực và yêu cầu phát triển bền vững đang đặt ra ngày càng cao.
Đặc biệt, yêu cầu của nhân dân đối với chất lượng phục vụ của bộ máy chính quyền ngày càng cao hơn.
Vì vậy, trong nhiệm kỳ mới, ông Thắng nhấn mạnh Hà Nội xác định rõ quan điểm phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa tư duy phát triển; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế và các cơ chế đặc thù mà Trung ương đã trao cho Thủ đô.
Trong đó, ông khẳng định Hà Nội sẽ kiên quyết khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Cùng với thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số và công dân số; xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu của cả nước và khu vực, thành phố sẽ tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư; phát triển đồng bộ hệ thống giao thông.
Đặc biệt, thành phố sẽ đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và các thiết chế phục vụ người lao động theo đúng tinh thần chỉ đạo của Trung ương và yêu cầu phát triển bền vững của thủ đô.
Hà Nội cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND các cấp và đổi mới mô hình quản trị đô thị theo hướng tinh gọn, hiện đại, minh bạch, dữ liệu hóa; xây dựng chính quyền số thực chất, nâng cao trách nhiệm giải trình và chất lượng phục vụ nhân dân.
Tin Gốc: Dân Trí
Thời Sự
Miền Bắc mưa 5 ngày do không khí lạnh, miền Trung nắng gay gắt cuối tháng 4

Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia đã phát tin cảnh báo mưa giông, lốc, sét và mưa đá ở miền Bắc và Thanh Hóa do có một bộ phận không khí lạnh cường độ yếu đang di chuyển xuống phía bắc nước ta.
Không khí lạnh nén rãnh áp thấp có trục ở khoảng 24 - 27 độ vĩ bắc, kết hợp với hội tụ gió trên mực 1.500 m nên từ đêm 16.4 - 17.4, miền Bắc (trừ Lai Châu, Điện Biên) và Thanh Hóa có mưa, mưa vừa với lượng mưa từ 20 - 40 mm, có nơi mưa to trên 100 mm.
Trong mưa giông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh. Từ ngày 17.4, miền Bắc trời chuyển mát.
Sau đợt mưa này, miền Bắc và khu vực từ Thanh Hóa - Hà Tĩnh tiếp tục đón thêm đợt mưa kéo dài trong 3 ngày từ chiều tối 18 - 20.4.
Trong thời điểm nắng nóng chấm dứt ở miền Bắc do đón không khí lạnh yếu thì ở khu vực từ Nghệ An - Huế tiếp tục xảy ra nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt. Thời điểm 13 giờ hôm nay, nhiều nơi có nhiệt độ từ 36 - 38 độ C, có nơi trên 39 độ C như Tuyên Hóa (Quảng Trị) 39 độ C, Đông Hà (Quảng Trị) 39,2 độ C, Nam Đông (Huế) 38,9 độ C.
Tương tự, phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi - Đắk Lắk và Đà Nẵng cũng có nắng nóng gay gắt với nhiệt độ lúc 13 giờ phổ biến 35 - 36 độ C, có nơi trên 36 độ C như Trà My (Đà Nẵng) 36,9 độ C, Sơn Hòa (Đắk Lắk) 38,3 độ C...
Dự báo từ ngày 15 - 16.4, khu vực Tây Bắc bộ và phía bắc cao nguyên Trung bộ có nắng nóng với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 - 36 độ C, có nơi trên 36 độ C.
Khu vực từ Nghệ An - Huế có nắng nóng gay gắt, có nơi đặc biệt gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 37 - 39 độ C, có nơi trên 39 độ C, độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 40 - 45%.
Khu vực Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi - Đắk Lắk có nắng nóng gay gắt với nhiệt độ cao nhất phổ biến 36 - 38 độ C, có nơi trên 38 độ C. Từ ngày 17.4, nắng nóng ở các khu vực trên có khả năng dịu dần.
Bà Tạ Thị Hồng An, Dự báo viên Phòng Dự báo khí hậu, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, cho hay nắng nóng trên cả nước đến sớm hơn mọi năm. Đặc biệt, mức nhiệt cao trên 41 độ C ở Nghệ An, Hà Tĩnh ngay đầu tháng 4 cũng là nhiệt độ ít gặp trong giai đoạn 10 năm trở lại đây.
Cũng theo bà An, cuối tháng 4 và đầu tháng 5, nắng nóng sẽ quay trở lại, số ngày nắng nóng sẽ nhiều và gay gắt hơn mọi năm, tập trung ở Tây Bắc bộ và các tỉnh từ Thanh Hóa - Huế.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 19 tháng 5 năm 2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ Nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với Nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.
Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào Nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, Nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.
Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ XX, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI. Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.
Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.
Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.
Trước hết, tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với Nhân dân.
Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.
Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với Nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.
Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống Nhân dân.
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài - đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của Nhân dân.
Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.
Từ đó có thể thấy, các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời Nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ Nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo công việc của mình.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ Nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của Nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.
Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ Nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của Nhân dân.
Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.
Tô Lâm
Tổng Bí thư BCH TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Tin Gốc: Dân Trí

