Ngày 13.7, Bộ Tư lệnh TP.HCM thông tin kết quả mới nhất về công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng, TP.HCM.
Theo báo cáo của Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh TP.HCM, trong ngày, lực lượng làm nhiệm vụ phát hiện và quy tập thêm 20 hài cốt liệt sĩ. Như vậy, đến cuối ngày 13.7, tổng số hài cốt được tìm thấy, quy tập tại khu vực này là 69 hài cốt và 1 bộ tập thể.
Công tác khai quật được thực hiện thận trọng, tỉ mỉ, từ bóc tách từng lớp đất đến lấy mẫu, số hóa dữ liệu, thống kê di vật và bảo đảm an toàn.
Theo kế hoạch, ngày 14.7, lực lượng tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Kết quả cất bốc trong ngày sẽ được công bố sau 16 giờ.
Sáng cùng ngày, ông Nguyễn Phước Lộc, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM, cùng đoàn đại biểu đã dâng hoa, dâng hương tưởng niệm cố Tổng Bí thư Trần Phú và các anh hùng liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng.
Sau lễ dâng hương, đoàn đến khu vực khai quật, thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ. Ông Nguyễn Phước Lộc ghi nhận tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy của lực lượng tại hiện trường.
Ông Nguyễn Phước Lộc nhấn mạnh, việc tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là nhiệm vụ chính trị đặc biệt, mang ý nghĩa thiêng liêng, góp phần đưa các liệt sĩ trở về với đồng đội và gia đình. Ông đề nghị lực lượng tiếp tục làm việc thận trọng, tỉ mỉ và bảo đảm an toàn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 4/6, Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ cho biết, TPHCM và các tỉnh, thành Nam Bộ ngày nhiều mây, xuất hiện mưa rào và dông rải rác. Từ chiều đến đêm, mưa dông có xu hướng gia tăng, một số nơi có thể xảy ra mưa to đến rất to.
Nhiệt độ thấp nhất phổ biến 24-27 độ C, cao nhất 31-34 độ C.
Vùng biển TPHCM cũng ghi nhận mưa rào và dông. Từ ngày 4/6 đến 7/6, gió Tây Nam hoạt động ở cấp 5, có lúc giật cấp 6-7. Tầm nhìn xa trên biển duy trì trên 10km, giảm xuống còn 4-10km khi có mưa.
Trước đó, vào chiều tối 3/6, mưa xuất hiện tại nhiều khu vực ở TPHCM. Lượng mưa phổ biến từ 10-30mm, một số nơi ghi nhận trên 40mm.
Cơ quan khí tượng khuyến cáo người dân chủ động theo dõi bản tin dự báo thời tiết, đề phòng nguy cơ ngập úng cục bộ tại các vùng trũng thấp, tình trạng cây xanh gãy đổ và gió giật mạnh trong các cơn dông.
Tin Gốc: Dân Trí

Sáng 13/7, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam.
VnExpress giới thiệu bài phát biểu:
Thưa các đồng chí trong Ban chỉ đạo Trung ương về Phát triển Văn hóa Việt Nam
Thưa toàn thể các đồng chí dự họp.
Qua nửa năm triển khai Nghị quyết số 80 chúng ta đã hoàn thành một khối lượng công việc lớn, góp phần thúc đẩy ổn định và phát triển xã hội. Cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo từ Trung ương đến địa phương đã được thiết lập; 100% bộ, ngành, địa phương đã tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết; 34/34 tỉnh, thành phố đã ban hành chương trình hành động. Nhiều văn bản quan trọng đã được ban hành, tạo cơ sở chính trị, pháp lý và tổ chức để triển khai Nghị quyết, như: Nghị quyết số 28/2026 của Quốc hội; Kế hoạch triển khai của Chính phủ; Kế hoạch triển khai đồng bộ các hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới và Nghị định của Chính phủ về hạ tầng văn hoá số. Một số địa phương đã chủ động xây dựng không gian sáng tạo, số hóa di sản, phát triển sản phẩm văn hóa và huy động doanh nghiệp, cộng đồng tham gia.
Tuy nhiên, kết quả sáu tháng đầu triển khai Nghị quyết cho thấy khoảng cách từ chủ trương đến sản phẩm, từ chương trình đến tác động thực tế còn lớn. Trong khi 100% địa phương đã hoàn thành chương trình hành động thì khối Bộ, Ngành và Cơ quan Trung ương mới có 16/22 cơ quan hoàn thành, đạt 72,7%. Nguồn chi ngân sách cho văn hóa hiện mới khoảng 1,5% tổng chi ngân sách nhà nước, trong khi Nghị quyết yêu cầu tối thiểu 2%.
Ngoài những hạn chế nêu trên, thực tiễn cũng đang bộc lộ "bốn khoảng trống" lớn cần được nhận diện đầy đủ và sớm khắc phục.
Khoảng trống thứ nhất, đó là sức hấp dẫn và năng lực lan tỏa của các giá trị văn hóa tích cực trong môi trường số chưa theo kịp tốc độ phát triển của các nền tảng và nội dung số. Khi không gian số ngày càng định hình nhận thức, thị hiếu và lối sống xã hội, khoảng trống này đặt ra thách thức đối với năng lực chuyển hóa vốn văn hóa dân tộc thành sức mạnh mềm và quyền dẫn dắt giá trị. Nếu không sớm khắc phục, các giá trị ngoại sinh sẽ ngày càng chiếm ưu thế, làm suy giảm sức hấp dẫn của văn hóa dân tộc và đặt ra thách thức mới đối với việc gìn giữ bản sắc, củng cố niềm tin và truyền thừa hệ giá trị Việt Nam.
Khoảng trống thứ hai, là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Việt Nam sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 38 di sản được UNESCO ghi danh. Tuy nhiên, phần lớn kho tàng di sản ấy vẫn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được bảo hộ, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ; chưa trở thành tri thức số, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo. Đây chính là khoảng trống cần được lấp đầy để biến vốn văn hóa thành sức mạnh mềm và động lực phát triển mới của đất nước.
Khoảng trống thứ ba, là năng lực sáng tạo các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh quốc gia còn hạn chế. Chúng ta có một kho tàng văn hóa phong phú, nhưng chưa tạo ra được nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật, thiết kế, trò chơi, nội dung số có khả năng trở thành biểu tượng văn hóa Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Khoảng cách giữa vốn văn hóa lớn với năng lực sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm văn hóa vẫn còn đáng kể. Đây là điểm nghẽn cần được tháo gỡ để biến văn hóa từ tài nguyên tiềm năng thành năng lực cạnh tranh thực tế của quốc gia.
Khoảng trống thứ tư, là thể chế và hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, trong khi tỷ trọng hiện nay mới chỉ đạt khoảng 4% GDP. Khoảng cách ấy cho thấy chúng ta vẫn thiếu một hệ sinh thái đồng bộ về thể chế, thị trường, dữ liệu, nhân lực và cơ chế huy động nguồn lực để chuyển hóa sức sáng tạo văn hóa thành sức sản xuất mới và động lực tăng trưởng của quốc gia.
Thưa các đồng chí,
Những quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, tầm nhìn và khát vọng phát triển đã được xác lập rõ trong Nghị quyết số 80. Trên tinh thần đó, tôi đề nghị quán triệt thêm "ba chuyển dịch lớn", phù hợp với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là trụ cột của phát triển, động lực tăng trưởng mới, hiện diện trong mọi quyết sách về kinh tế, chính trị, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và quản trị quốc gia.
Thứ hai, chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số. Xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam, coi đây là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc.
Thứ ba, chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa không chỉ gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia.
Trên cơ sở nhận thức đó, tôi yêu cầu trong 6 tháng cuối năm, Ban chỉ đạo tập trung thực hiện 04 nhiệm vụ trọng tâm để tạo nền tảng phát triển văn hóa những năm tiếp theo.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo đột phá nhằm giải phóng sức sáng tạo của toàn xã hội, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa.
Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, bảo đảm văn hóa phát triển tương xứng với vị trí, vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Khẩn trương hoàn thiện các đạo luật, cơ chế chính sách có tính nền tảng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động sáng tạo, sản xuất, phổ biến, thụ hưởng các giá trị văn hóa; trong đó trọng tâm là xây dựng Luật Bản quyền tác giả, Luật Hoạt động nghệ thuật, Luật Công nghiệp văn hóa, nghiên cứu đề xuất xây dựng Luật Văn học, tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị định về hạ tầng văn hóa số và tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành, tạo môi trường pháp lý minh bạch, thúc đẩy phát triển thị trường văn hóa và các ngành công nghiệp văn hóa.
Đồng thời, hoàn thiện cơ chế quản trị phát triển văn hóa theo hướng hiện đại, lấy dữ liệu, tiêu chuẩn và kết quả thực tiễn làm cơ sở đánh giá, điều hành; xây dựng, ban hành và tổ chức vận hành Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế, cùng với Bộ Chỉ số theo dõi, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển hạ tầng văn hóa số, hoàn thiện cơ chế chia sẻ, khai thác nguồn tài nguyên văn hóa trên môi trường số, tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo và mở rộng không gian phát triển văn hóa.
Cùng với đó, rà soát, cập nhật, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển văn hóa phù hợp với yêu cầu giai đoạn mới, trọng tâm là Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội. Qua đó, từng bước chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển; phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân, khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng; huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nhà nước để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, có sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa trong thời kỳ mới.
Thứ hai, đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số nâng cao sức hấp dẫn và khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa Việt Nam.
Trong môi trường số, sự cạnh tranh giữa các dòng chảy văn hóa diễn ra ngày càng mạnh. Sự giao thoa, tiếp biến văn hóa là xu thế tất yếu, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực tự chủ, khả năng định hướng và sức đề kháng của nền văn hóa dân tộc.
Thực tế cho thấy, các sản phẩm văn hóa có lợi thế về công nghệ, nền tảng và khả năng phân phối toàn cầu đang tác động sâu rộng đến nhận thức, thị hiếu, lối sống, nhất là đối với thế hệ trẻ. Trong khi đó, nhiều giá trị văn hóa Việt Nam chưa được thể hiện tương xứng trên không gian số; một bộ phận người dân, nhất là thế hệ trẻ, có xu hướng tiếp cận, ghi nhớ và hiểu biết nhiều hơn về văn hóa nước ngoài so với chính những giá trị văn hóa của dân tộc.
Tôi yêu cầu Đảng ủy Chính phủ xác định xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số là nội dung hết sức quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Không gian số không chỉ là nơi đưa các giá trị văn hóa lên môi trường mới, mà phải trở thành không gian để văn hóa Việt Nam hiện diện, được nhận biết, được yêu thích, được lan tỏa và có khả năng tham gia định hướng giá trị xã hội.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu định hướng công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức xã hội về giá trị văn hóa Việt Nam; đổi mới phương thức truyền thông, nhất là trên các nền tảng số, để đưa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đến gần hơn với nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Đảng ủy Chính phủ chỉ đạo xây dựng và triển khai Chương trình phát triển không gian văn hóa số quốc gia; hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển các nền tảng, kênh truyền thông và hệ sinh thái nội dung văn hóa số mang bản sắc Việt Nam. Phải có cơ chế huy động sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng sáng tạo trong việc sản xuất, phổ biến các sản phẩm văn hóa có chất lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh trong môi trường số.
Điện ảnh, văn học, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, thiết kế, xuất bản, trò chơi điện tử, hoạt hình và các sản phẩm nội dung số không chỉ là hoạt động văn hóa, mà còn là những phương tiện quan trọng để kể câu chuyện Việt Nam với thế giới. Vì vậy, cần có cơ chế phát triển, đặt hàng, đầu tư có trọng điểm đối với các tác phẩm, sản phẩm văn hóa có chất lượng nghệ thuật cao, có khả năng tiếp cận công chúng lớn, có giá trị giáo dục, có khả năng cạnh tranh và lan tỏa quốc tế.
Ban Chỉ đạo Trung ương cần định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; không chỉ đánh giá bằng số lượng sản phẩm văn hóa được đưa lên môi trường số, mà phải đo lường bằng mức độ nhận diện, sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa của các giá trị văn hóa Việt Nam và sự chuyển biến trong nhận thức, tình cảm, hành vi văn hóa của người dân, nhất là thế hệ trẻ.
Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam xây dựng được môi trường văn hóa số lành mạnh, trong đó các giá trị văn hóa Việt Nam có vị trí tương xứng, có sức hấp dẫn, sức cạnh tranh và khả năng lan tỏa mạnh mẽ; người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, văn hóa dân tộc, đồng thời có năng lực tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần củng cố nền tảng tinh thần của xã hội và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Thứ ba, thúc đẩy chuyển hóa di sản và vốn văn hóa thành tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm sáng tạo và nguồn lực cho giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo
Nghị quyết đặt mục tiêu Phấn đấu hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. Đây là khối lượng công việc rất lớn và thời gian còn rất ngắn. Tuy nhiên, không được chạy theo tỷ lệ để số hóa hình thức. Một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì đã được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin.
Dữ liệu phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng. Dữ liệu di sản phải phục vụ được quản lý, giáo dục, nghiên cứu, du lịch, công nghiệp văn hóa và phát triển trí tuệ nhân tạo; nếu chỉ nằm trong các kho dữ liệu khép kín thì chưa tạo ra giá trị mới.
Trước hết phải tập trung vào các nhóm dữ liệu nền tảng: Tiếng Việt, lịch sử, di tích, di sản phi vật thể, hiện vật bảo tàng, thư viện, văn học, nghệ thuật truyền thống và di sản tư liệu. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm về nội dung, độ chính xác và bản quyền; Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm về kiến trúc kỹ thuật, tiêu chuẩn kết nối và khả năng khai thác dữ liệu trong các công nghệ mới.
Quan trọng hơn, việc số hóa phải hình thành nên tri thức số và tài sản trí tuệ quốc gia. Mỗi bộ dữ liệu, mỗi di sản được số hóa cần được quản lý như một loại tài sản có khả năng tạo ra giá trị khoa học, giá trị văn hóa và giá trị kinh tế. Khẩn trương hoàn thiện cơ chế xác lập, bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với các tài sản văn hóa được số hóa; xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, tác giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp trong quá trình khai thác các giá trị văn hóa. Khuyến khích mạnh mẽ việc chuyển hóa chất liệu văn hóa Việt Nam thành các sản phẩm sáng tạo trong điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, mỹ thuật, thiết kế, trò chơi điện tử, du lịch, giáo dục, truyền thông và các ngành công nghiệp văn hóa khác, để di sản tiếp tục được sáng tạo, lan tỏa và tạo ra giá trị mới trong đời sống đương đại.
Tôi yêu cầu Ban Chỉ đạo Trung ương thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ này; không chỉ đánh giá bằng tỷ lệ số hóa, mà phải đánh giá bằng khả năng tạo lập tri thức số, hình thành tài sản trí tuệ, phát triển sản phẩm sáng tạo và đóng góp thực chất của tài nguyên văn hóa đối với giáo dục, khoa học, công nghệ, công nghiệp văn hóa và tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư, phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tôi đề nghị trong phiên họp chuyên đề tiếp theo của Ban chỉ đạo về phát triển văn hóa đóng góp vào tăng trưởng hai con số phải xác định rõ lĩnh vực nào có khả năng tạo tăng trưởng; địa phương nào có thể hình thành trung tâm dẫn dắt; doanh nghiệp nào có năng lực; dự án nào có thể tạo ra sản phẩm, doanh thu, việc làm, tài sản trí tuệ và thị trường.
Trên cơ sở đó Chính phủ khẩn trương hoàn thiện và đưa vào vận hành hệ thống thống kê quốc gia về công nghiệp văn hóa; trong năm 2026 phải hình thành được số liệu gốc, phương pháp tính thống nhất và cơ chế công bố định kỳ. Phải đo được đóng góp của từng ngành, từng địa phương; doanh thu trong nước và xuất khẩu; số doanh nghiệp, việc làm, thu nhập; giá trị bản quyền, tài sản trí tuệ và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị.
Mỗi địa phương trọng điểm chỉ lựa chọn một số ít lĩnh vực và không quá ba dự án dẫn dắt. Mỗi dự án phải làm rõ sản phẩm, doanh nghiệp thực hiện, nguồn vốn, thị trường, tài sản trí tuệ và đóng góp dự kiến vào GRDP, việc làm, xuất khẩu hoặc thu hút du lịch. Đến tháng 10/2026, những địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ phải xác định quỹ đất dành cho khu, trung tâm công nghiệp văn hóa, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và sáng tạo nội dung số. Các địa phương không xây dựng các mô hình giống nhau; mỗi trung tâm phải có chức năng khác biệt, gắn với lợi thế, thị trường, chủ thể đầu tư và khả năng liên kết vùng.
Thưa các đồng chí,
Bác Hồ đã căn dặn: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi." Trải qua gần một thế kỷ, tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng trong bối cảnh mới, văn hóa không chỉ soi đường cho mỗi con người, mà còn định hướng con đường phát triển của cả dân tộc. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc là hơn một nghìn năm phải đối mặt với nguy cơ đồng hóa về văn hóa. Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn giữ được tiếng nói, chữ viết, phong tục, tín ngưỡng, đạo lý và ý chí độc lập. Chính sức sống bền bỉ của văn hóa đã gìn giữ sức sống của dân tộc.
Nếu trước đây chúng ta phải bảo vệ văn hóa trước nguy cơ đồng hóa bằng sức mạnh cưỡng bức, thì ngày nay thách thức đến từ sự cạnh tranh về sức hấp dẫn của các giá trị văn hóa trong môi trường số. Dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo đang ngày càng tham gia định hình nhận thức, thị hiếu, lối sống và hệ giá trị của xã hội. Điều đó đặt ra bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.
Tôi đề nghị các đồng chí tiếp tục nêu cao tinh thần trách nhiệm, khẩn trương cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện Nghị quyết 80, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí!
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày 10.7, HĐND thành phố Huế đã tổ chức kỳ họp thứ 2 xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030.
Phát biểu khai mạc kỳ họp, ông Phạm Đức Tiến, Chủ tịch HĐND thành phố Huế, nhấn mạnh kỳ họp thứ 2 diễn ra trong bối cảnh thành phố đang tập trung triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Trung ương; thúc đẩy tăng trưởng gắn với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng đầu năm ước tăng 8,33%. Du lịch tiếp tục là điểm sáng với lượng khách và doanh thu tăng cao; thu ngân sách và thu hút đầu tư có nhiều chuyển biến tích cực. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số tiếp tục đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Tuy vậy, vẫn có một số tồn tại, hạn chế như tốc độ tăng trưởng chưa đạt mục tiêu đề ra; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và triển khai một số dự án trọng điểm còn chậm; các động lực tăng trưởng mới chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng; chất lượng tăng trưởng ở một số lĩnh vực chưa thật sự bền vững. Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp vẫn còn những khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục tháo gỡ.
Tại kỳ họp, ông Phạm Đức Tiến đề nghị các đại biểu tập trung phân tích những kết quả đạt được; chỉ rõ tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và nhất là các “điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển của thành phố; từ đó đề xuất những giải pháp thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm và có thể tổ chức thực hiện ngay sau kỳ họp.
Trình bày báo cáo tại kỳ họp, ông Nguyễn Khắc Toàn, Chủ tịch UBND thành phố Huế, cho biết, mục tiêu tổng quát trong giai đoạn 2026 - 2030 là tập trung huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, xây dựng và phát triển thành phố Huế xứng tầm đô thị trực thuộc Trung ương.
Thành phố đặt mục tiêu tốc độ tăng tổng sản phẩm bình quân hằng năm đạt từ 10% trở lên; tổng sản phẩm bình quân đầu người đến năm 2030 đạt từ 5.800 - 6.000 USD; tốc độ tăng thu ngân sách bình quân đạt 14 - 15%/năm; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 10 - 12%/năm; tỷ lệ đô thị hóa đạt 75%...
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, thành phố xác định 6 chương trình trọng điểm. Bao gồm: phát triển đô thị đồng bộ, hiện đại, thông minh gắn với đô thị di sản; phát triển công nghiệp; phát triển văn hóa, du lịch, dịch vụ; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển kinh tế tư nhân; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Khắc Toàn nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù; xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tư nhân.
"Thành phố sẽ tập trung khai thác tối đa lợi thế của đô thị di sản; phát triển kinh tế di sản gắn với du lịch, dịch vụ và công nghiệp văn hóa; từng bước chuyển hóa không gian, giá trị di sản thành nguồn lực và động lực tăng trưởng mới. Tập trung triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đẩy nhanh các đề án khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung và khu công nghệ số, tạo động lực tăng trưởng trong giai đoạn 2026 - 2030", ông Nguyễn Khắc Toàn nhấn mạnh.
Tại kỳ họp, HĐND thành phố Huế xác định nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong 6 tháng cuối năm 2026; xem xét kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, quyết định nhiều cơ chế, chính sách thuộc các lĩnh vực đầu tư công, tài chính - ngân sách, đất đai, tài nguyên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đào tạo nguồn nhân lực, an sinh xã hội và tổ chức bộ máy.
Tin Gốc: Thanh Niên

