Ngày 5/6/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 200/2026/NĐ-CP quy định về chào bán TPDN riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán TPDN ra thị trường quốc tế (thay thế Nghị định số 153/2020/NĐ-CP, Nghị định số 65/2022/NĐ-CP và Nghị định số 08/2023/NĐ-CP).
Nghị định được ban hành nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động phát hành TPDN riêng lẻ; khắc phục các vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn; tăng cường tính công khai, minh bạch của thị trường; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, giám sát; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển.
Với nhiều quy định mới quan trọng, Nghị định số 200/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư, thúc đẩy thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển an toàn, minh bạch, bền vững, qua đó phát huy vai trò của thị trường vốn trong huy động nguồn lực cho nền kinh tế và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới. Một số điểm mới đáng chú ý của Nghị định gồm:
Nghị định quy định rõ mục đích phát hành là để thực hiện dự án đầu tư theo các hình thức đầu tư quy định tại Luật Đầu tư; đồng thời, bổ sung quy định nguồn vốn từ phát hành trái phiếu phải được doanh nghiệp theo dõi riêng đảm bảo sử dụng vốn và quản lý việc sử dụng vốn đúng mục đích theo phương án phát hành và nội dung công bố thông tin cho nhà đầu tư.
Trường hợp doanh nghiệp phát hành thông qua bên thứ hai sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán trái phiếu vào dự án đầu tư thì phải có biện pháp theo dõi, quản lý, giám sát bên thứ hai sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán vào dự án đầu tư theo đúng phương án phát hành.
Mặt khác, để tối ưu hóa dòng vốn cho doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mua trái phiếu, Nghị định bổ sung quy định doanh nghiệp được sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán trái phiếu để gửi tiền tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài, mua chứng chỉ tiền gửi do ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành trong trường hợp chưa đến thời điểm giải ngân theo tiến độ.
Đồng thời, quy định cho phép doanh nghiệp được thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu, thay đổi mục đích phát hành tại phương án phát hành khi đáp ứng các quy định: được cấp có thẩm quyền thông qua, được số người sở hữu trái phiếu đại diện từ 65% tổng số trái phiếu cùng loại đang lưu hành trở lên chấp thuận, đã hoàn thành việc mua lại trái phiếu trước hạn đối với những người sở hữu trái phiếu không chấp thuận việc thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu hoặc thay đổi mục đích phát hành tại phương án phát hành.
Nghị định quy định tách bạch điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chào bán theo 02 nhóm đối tượng: (i) là công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý đầu tư chứng khoán và (ii) không phải là công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý đầu tư chứng khoán) để tạo thuận lợi cho việc áp dụng, thực thi, đồng thời tạo thuận lợi trong phân định về quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm tương ứng theo nhóm đối tượng.
Về điều kiện chào bán TPDN riêng lẻ, Nghị định quy định bổ sung điều kiện doanh nghiệp phải có nợ phải trả (bao gồm giá trị trái phiếu dự kiến phát hành) không vượt quá 05 lần vốn chủ sở hữu theo Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2025.
Một số trường hợp được loại trừ áp dụng, bao gồm tổ chức phát hành là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp phát hành trái phiếu để thực hiện dự án bất động sản, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm….
Nghị định phân luồng các đối tượng nhà đầu tư tham gia mua, giao dịch, chuyển nhượng TPDN riêng lẻ theo từng loại trái phiếu phù hợp với quy định của Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, theo đó quy định rõ nhà đầu tư chuyên nghiệp là cá nhân được tham gia mua, giao dịch, chuyển nhượng đối với trái phiếu chuyển đổi của công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ.
Đối với các trường hợp chào bán trái phiếu khác, nhà đầu tư chuyên nghiệp là cá nhân chỉ được tham gia mua, giao dịch, chuyển nhượng khi trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm và có tài sản bảo đảm hoặc trái phiếu có xếp hạng tín nhiệm và có bảo lãnh thanh toán của tổ chức tín dụng.
Đồng thời quy định rõ tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán phải bảo đảm thanh toán toàn bộ gốc của trái phiếu. Tài sản bảo đảm không bao gồm cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, phần vốn góp của chính doanh nghiệp phát hành.
Nghị định bỏ quy định cho phép doanh nghiệp sử dụng báo cáo tài chính bán niên, báo cáo tài chính quý IV hoặc báo cáo tài chính tháng gần nhất được soát xét, kiểm toán, bảo đảm phù hợp với quy định mới của Luật Doanh nghiệp năm 2025 về điều kiện hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu theo báo cáo tài chính năm được kiểm toán.
Đồng thời, quy định rõ trường hợp doanh nghiệp phát hành là công ty mẹ phải có báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tài chính của công ty mẹ đã được kiểm toán; bổ sung yêu cầu doanh nghiệp phải có quyết định của cấp có thẩm quyền của doanh nghiệp thông qua hồ sơ chào bán đã đáp ứng đủ điều kiện và các thông tin, tài liệu trong hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ, chính xác, trung thực.
Về trình tự, thủ tục chào bán, Nghị định quy định rõ cơ chế chia sẻ thông tin phục vụ công tác theo dõi, quản lý; làm rõ trách nhiệm của doanh nghiệp phát hành trong việc cung cấp đầy đủ hồ sơ cho nhà đầu tư; đồng thời quy định chỉ tổ chức tín dụng được phát hành trái phiếu riêng lẻ theo nhiều đợt nhằm phù hợp với cơ chế quản lý, giám sát đặc thù của pháp luật về các tổ chức tín dụng.
Nghị định bổ sung quy định về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đến hồ sơ, tài liệu, báo cáo phục vụ hoạt động phát hành trái phiếu; làm rõ trách nhiệm của các tổ chức cung cấp dịch vụ như tổ chức tư vấn hồ sơ, đại lý phát hành, tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đủ điều kiện, người ký báo cáo kiểm toán, soát xét, tổ chức xếp hạng tín nhiệm và doanh nghiệp thẩm định giá.
Đồng thời, Nghị định tăng cường nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Theo đó, doanh nghiệp phải thực hiện công bố thông tin định kỳ, bất thường cho đến khi trái phiếu không còn dư nợ; công bố tình hình sử dụng vốn từ đợt phát hành cho đến khi giải ngân hết số tiền huy động hoặc không còn dư nợ trái phiếu, tùy thời điểm nào đến trước.
Nghị định phân định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức trong công tác quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động chào bán TPDN riêng lẻ theo đối tượng quản lý; đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương (UBND cấp tỉnh) trong công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trên địa bàn.
Bên cạnh đó, Nghị định bổ sung các quy định về xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia thị trường.
Theo kết luận, xã Đông Hòa là đơn vị hành chính mới của tỉnh An Giang, được thành lập từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở hợp nhất xã Đông Thạnh và xã Đông Hòa thuộc huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang trước đây. Địa phương có diện tích hơn 15.187 ha với dân số trên 45.000 người.
Theo Thanh tra tỉnh, sau khi sáp nhập, xã Đông Hòa có nhiều tiềm năng phát triển về nông nghiệp công nghệ cao và du lịch sinh thái. Tuy nhiên, thời gian qua, tình hình an ninh trật tự tại một số khu vực diễn biến phức tạp, đặc biệt tại ấp Trung Hòa – nơi có phần diện tích đất do Nông trường Sông Hậu giao lại cho địa phương quản lý.
Kết luận thanh tra cho biết, từ năm 2024 đã phát sinh tranh chấp giữa các hộ dân sinh sống trong khu vực này. Nhiều hộ dân liên tục gửi đơn kiến nghị, phản ánh đến các cơ quan chức năng, đề nghị xem xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Qua kiểm tra, xác minh, đoàn thanh tra xác định khu đất xảy ra tranh chấp có diện tích thực tế hơn 113.317 m² nằm tại ấp Trung Hòa (trước đây là ấp Hòa Đông), xã Đông Hòa. Năm 1985, Nông trường Sông Hậu đã tiến hành khai hoang khu đất này để trồng lúa. Đến khoảng cuối năm 1986 – đầu năm 1987, Nông trường bàn giao lại cho tỉnh Kiên Giang quản lý.
Tuy nhiên, từ năm 1986 đến nay, chính quyền địa phương không thực hiện các trình tự, thủ tục để xác lập quyền quản lý đất công ích. Hậu quả là toàn bộ khu đất trên không có hồ sơ kỹ thuật địa chính và hoàn toàn bị buông lỏng quản lý trên thực tế.
Sự lỏng lẻo này thể hiện rõ qua việc vào năm 1994 và 2002, UBND xã Đông Hòa đã tự ý lập hợp đồng cho 6 hộ dân thuê tổng diện tích hơn 23.053 m² trái quy định pháp luật. Mặc dù thời hạn cho thuê chỉ 1 năm, nhưng khi hết hạn, xã không tiến hành thanh lý hay chấm dứt hợp đồng, để mặc người dân tiếp tục sử dụng.
Bên cạnh đó, nhiều công trình công cộng như Trường Tiểu học Đông Hòa 3 (xây dựng từ năm 1998), Trường THCS Đông Hòa 1 (xây dựng từ năm 2007) và Trạm cấp nước Đông Hòa (đưa vào sử dụng năm 2025) đều được xây dựng nhưng chưa thực hiện các thủ tục để được cơ quan có thẩm quyền giao đất theo đúng Luật Đất đai.
Đỉnh điểm của những sai phạm trong công tác quản lý diễn ra vào năm 2012. Khi đó, Chủ tịch UBND huyện An Minh (cũ) đã ban hành quyết định thành lập đoàn "phúc tra" đối với kết luận thanh tra năm 2010. Cơ quan thanh tra tỉnh khẳng định, việc lập đoàn phúc tra này hoàn toàn không đúng với quy định của pháp luật về thanh tra.
Dựa trên kết luận phúc tra thiếu cơ sở pháp lý này, UBND huyện An Minh đã vội vàng ban hành 15 quyết định thu hồi 99.600m² đất của 15 hộ dân. Đáng nói, sau khi triển khai quyết định thu hồi, UBND xã Đông Hòa không hề thực hiện thủ tục quản lý, để 15 hộ dân vẫn tiếp tục sử dụng đất cho đến nay.
Tình trạng thiếu sát sao của chính quyền còn dẫn đến tình hình vi phạm trật tự xây dựng phức tạp. Chỉ tính từ năm 2024 đến năm 2026, khu vực này có tới 14 trường hợp cất nhà, công trình vi phạm pháp luật về đất đai và xây dựng.
Trong đó, có 10 trường hợp xã phát hiện nhưng không lập thủ tục xử lý vi phạm hành chính, 4 trường hợp còn lại chính quyền hoàn toàn không có biện pháp ngăn chặn.
Từ những kết quả xác minh trên, Chánh Thanh tra tỉnh An Giang kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo UBND xã Đông Hòa thực hiện hủy bỏ 15 quyết định thu hồi đất ban hành ngày 14/9/2012 của UBND huyện An Minh do ban hành không đúng quy định.
Chính quyền cần rà soát quá trình sử dụng đất của 21 cá nhân đang sử dụng hiện trạng để giải quyết đúng pháp luật, đảm bảo không thất thoát tài sản Nhà nước và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.
Yêu cầu các Trường học và Trung tâm nước sạch khẩn trương hoàn thiện thủ tục giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Phát biểu tại hội thảo, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương) cho biết kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng trưởng rất ấn tượng và không ngừng mở rộng. Giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 500 tỉ USD, tăng trưởng trên 10%.
Tuy nhiên, thị trường quốc tế đang đặt ra nhiều thách thức mới đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Các thách thức này xuất phát từ những biến động khó lường của tình hình chính trị, kinh tế và ngoại giao toàn cầu, làm thay đổi môi trường thương mại quốc tế.
Ông Phú đánh giá Đắk Lắk có hệ sinh thái nông sản phong phú, diện tích canh tác thuộc nhóm lớn nhất cả nước và nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành chế biến. Tuy nhiên, số lượng sản phẩm chế biến sâu từ nguồn nông sản của tỉnh vẫn còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng.
Ông Phú đề nghị quy hoạch các khu công nghiệp của tỉnh phải được đặt trong tổng thể hệ thống logistics liên vùng nhằm bảo đảm khả năng kết nối lâu dài. Đồng thời, cần điều chỉnh quy hoạch các khu, cụm công nghiệp theo hướng tập trung để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các dự án năng lượng và hạ tầng truyền tải điện.
Việc kết nối các dự án năng lượng cũng cần gắn với hệ thống logistics liên ngành nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển bền vững.
Để phát huy vai trò của logistics và nâng cao năng lực kết nối chuỗi ngành hàng, Hiệp hội Logistics và Cảng biển tỉnh Đắk Lắk đề xuất nhiều giải pháp. Trong đó có xây dựng chuỗi cung ứng lạnh đồng bộ tại vùng nguyên liệu; phát triển cụm công nghiệp gắn với cảng cạn ICD và kho bãi thông minh; thúc đẩy chuyển đổi số; tăng cường liên kết vùng và hợp tác quốc tế.
Hiệp hội cũng đề xuất triển khai "Bản đồ số logistics Đắk Lắk", một giải pháp ứng dụng công nghệ số nhằm xây dựng nền tảng kết nối trực tuyến giữa chủ hàng, doanh nghiệp vận tải, đơn vị kho bãi, trung tâm logistics và các cơ quan quản lý nhà nước.
Hệ thống giúp tối ưu hóa luồng vận chuyển, giảm tỉ lệ xe chạy rỗng chiều về khoảng 40%, tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí logistics tổng thể cho hơn 12.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, hiệp hội kiến nghị tỉnh ưu tiên quỹ đất sạch và các chính sách ưu đãi về thuê đất, thuế và hạ tầng cho các dự án logistics, cảng cạn ICD, trung tâm phân phối và kho bãi hiện đại, đặc biệt tại Buôn Ma Thuột và các đầu mối giao thông chiến lược.
Hiệp hội cũng kiến nghị tỉnh nghiên cứu triển khai cơ chế một cửa liên thông; ưu tiên thu hút các nhà đầu tư xây dựng kho lạnh, trung tâm sơ chế, kiểm định chất lượng ngay tại vùng nguyên liệu; đồng thời có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phương tiện vận tải lạnh chuyên dụng.
Hiệp hội đề xuất lấy "Bản đồ số logistics Đắk Lắk" làm nền tảng kết nối dữ liệu dùng chung cho cộng đồng doanh nghiệp; đồng thời xem xét thành lập tổ công tác hoặc ban điều phối phát triển logistics cấp tỉnh với sự tham gia của các sở, ngành, địa phương và hiệp hội nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.
Theo Sở Tài chính TP.HCM, 838 dự án với tổng mức đầu tư được tháo gỡ lên đến hơn 206.000 tỉ đồng, diện tích trên 17.000 ha. Trong đó, 417 dự án đã hoàn thành tháo gỡ vướng mắc, còn 421 dự án, công trình, khu đất cơ bản tháo gỡ hoặc đang thực hiện tháo gỡ theo chỉ đạo.
Tuy nhiên, ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, nhận xét danh sách 838 dự án cơ bản được tháo gỡ chưa thật sự chính xác. Cụ thể, 421 dự án cho rằng cơ bản hoàn thành tháo gỡ hay đang chỉ đạo tháo gỡ thực chất vẫn còn bị vướng mắc, tồn đọng, doanh nghiệp (DN) chưa thể đưa đất vào khai thác. Thậm chí nhiều dự án trong báo cáo nói là đã hoàn thành gỡ vướng nhưng lại thống kê "râu ông nọ cắm cằm bà kia". Điển hình như dự án nhà ở xã hội Sài Gòn Venice ở xã Lê Minh Xuân của CT Group đã "ghi nhầm" vào dự án khu đô thị mới Nhơn Đức, xã Phước Kiển của Công ty Phát triển GS Nhà Bè. Hay dự án khu sinh thái văn hóa hồ Vĩnh Lộc của Công ty cổ phần Sinh thái văn hóa Vĩnh Lộc được báo cáo "đã được UBND TP.HCM chỉ đạo xử lý" nhưng chủ đầu tư nói chưa. Tại khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu cũ, tất cả dự án đã được đưa vào danh sách tháo gỡ, nhưng Công ty TNHH MTV Lan Anh phản ánh vẫn còn 4 dự án đang gặp nhiều vướng mắc pháp lý và quy hoạch. Cụ thể, dự án Lan Anh 7B, dự án Lan Anh 10, Lan Anh 11, Lan Anh 12 phải tạm dừng triển khai do chậm được tính tiền sử dụng đất hoặc do thay đổi quy hoạch mà lỗi không phải do DN.
"Một cá nhân khác ở khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu cũ cũng mới điện cho tôi nói ông có khu đất làm dự án nhưng hiện nay chưa thể triển khai, mong muốn được đưa vào danh sách tháo gỡ. Như vậy có thể thấy danh sách trên của TP vẫn chưa đầy đủ, chưa cập nhật hết các dự án, khu đất còn tồn đọng kéo dài. Do vậy, với trường hợp DN chưa có tên dự án trong danh mục 838 dự án thì đề nghị TP rà soát hoặc DN báo cáo đề xuất bổ sung để được các cấp có thẩm quyền xem xét xử lý trong đợt này. Ngoài ra, DN có các dự án gặp khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài tại các địa phương khác cũng có thể liên hệ báo cáo cho Sở Tài chính địa phương để được tổng hợp, xem xét xử lý", ông Lê Hoàng Châu nói.
Thực tế vẫn còn nhiều dự án "treo", "trùm mền" hàng thập niên lọt ra ngoài danh sách cần được gỡ vướng lần này. Như dự án Tân An Huy ở xã Nhà Bè của Công ty Tân An Huy có diện tích hơn 26 ha triển khai từ năm 2004, đến nay thực hiện hơn 70% hạ tầng, đã được cấp sổ hồng cho các dự án thành phần như khu cao tầng, giáo dục, y tế. Trong khi đó, 313 nền đất mà chủ đầu tư đã bán cho khách hàng và thu đến 95% giá trị nhưng đến nay vẫn "trùm mền", không thể triển khai tiếp do nợ các khoản thuế và tiền chậm nộp là 181 tỉ đồng, chưa hoàn thành giải phóng mặt bằng...
Ông Nguyễn Hồng Anh Tuấn, Tổng giám đốc Công ty Tân An Huy, cho biết hiện nay công ty đã bị chế tài về hóa đơn, tài khoản, dừng mọi thủ tục hành chính. Ngày 2.4.2026, Thuế Cơ sở 7 có mời công ty đến làm việc để kê biên, phát mãi tài sản. Dù đã chấp hành nghiêm nhưng đến nay cơ quan thuế cũng không xử lý được do 313 nền đất của dự án đã ký kết hợp đồng góp vốn với khách hàng. Việc sai phạm của công ty trong kết luận thanh tra đã nêu rõ, các văn bản của UBND TP.HCM chỉ đạo, công ty đã nghiêm túc chấp hành nhưng tình hình tài chính hiện nay của DN khiến "lực bất tòng tâm".
"Hiện nay kế hoạch cho dự án, DN hoạt động lại đã có, nhưng vẫn không thực hiện được do chưa nộp được thuế. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế của công ty và mong muốn của hơn 300 khách hàng tại dự án, DN xin được đưa vào kế hoạch tháo gỡ vướng mắc đợt này, cho phép DN được hoạt động trở lại, được tiếp tục thực hiện dự án để có nguồn nộp cho ngân sách, thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ theo kết luận của Thanh tra TP và các ý kiến chỉ đạo của UBND TP", ông Nguyễn Hồng Anh Tuấn kiến nghị.
Trên thực tế, khách hàng của dự án này cho hay họ quá mệt mỏi và có cảm giác bị lừa thêm một lần nữa bởi thời gian qua, chủ đầu tư liên tục mời họp hành, khẳng định quyết tâm thực hiện dự án, thậm chí làm lễ khởi công lại hạ tầng... nhưng sau tất cả, dự án vẫn "đứng bánh" trong khi họ đã nộp tới 95% giá trị lô đất mua. "Nghe nói TP quyết tâm xử lý các dự án tồn đọng, vậy dự án Tân An Huy sẽ xử lý thế nào để trả lại quyền lợi cho chúng tôi, những người đã mua đất hàng thập niên nhưng không được xây nhà?", một khách hàng bức xúc.
Một trường hợp khác là Công ty TNHH MTV Lan Anh - một trong những đơn vị tiên phong đầu tư nhà ở xã hội và nhà ở cho người thu nhập thấp, sử dụng hoàn toàn vốn tư nhân và tự thỏa thuận đền bù với người dân, nhưng gặp nhiều khó khăn suốt 5 năm qua do việc xác định đơn giá đất và tính tiền sử dụng đất bị kéo dài. Ngoài ra, còn có tình trạng thông báo thuế chậm hoặc chưa chính xác. Một số dự án nhà ở xã hội dù mang tính chất an sinh nhưng chưa nhận được cơ chế hỗ trợ phù hợp. DN phải tự bỏ kinh phí mua đất làm hạ tầng giao thông nhưng chưa được khấu trừ hợp lý theo giá thực tế. Khi thông báo thuế ban hành muộn, DN còn phải chịu thêm tiền phạt chậm nộp. Chính vì vậy, bà Nguyễn Nam Phương, Chủ tịch HĐTQ Công ty TNHH MTV Lan Anh, kiến nghị được tháo gỡ khó khăn để sớm đưa các dự án vào xây dựng.
Ông Trương Anh Tuấn, Công ty địa ốc Hoàng Quân, cũng cho hay DN hiện có 30 dự án, có dự án kéo dài 5 năm chưa triển khai được do gặp nhiều nút thắt. Do vậy ông cho rằng cần tháo gỡ quyết liệt, thực chất và quy định rõ quy trình, nơi chịu trách nhiệm, thời gian gỡ vướng cụ thể cũng như quy định rõ đầu mối tiếp nhận và xử lý. Bởi hiện DN đang đứng trước ranh giới rất mong manh giữa tồn tại và giải thể. Cộng đồng DN đang xem đợt gỡ vướng của TP là cơ hội để "hồi sinh" nhưng nếu không có sự quyết liệt từ các cấp chính quyền, DN rất khó phục hồi để tiếp tục đóng góp cho nền kinh tế cũng như đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân.