“Nhưng chỉ vài ngày sau, bài hát ấy cũng trở thành ác mộng mới”, Minh, kỹ sư 33 tuổi, ở Hà Nội, làm việc tại một công ty đang ôm hàng loạt dự án lớn, tâm sự.
Group chat trên Zalo, Messenger của Minh nhảy tin nhắn liên tục từ 7h sáng đến 2h đêm. Mỗi nhân sự gánh cùng lúc 3-4 dự án, ranh giới giữa giờ làm và giờ nghỉ hoàn toàn biến mất. “Ai cũng kiệt sức hoàn toàn. Cứ nghe tiếng chuông là tim tôi đập loạn nhịp, tay chân run rẩy”, Minh nói.
Đến mức ngay cả khi đang tắm, đang ăn hay lúc nửa đêm đã tắt máy, tai anh vẫn văng vẳng tiếng “ting ting”. Nhiều đêm anh bật dậy kiểm tra điện thoại, rồi nhận ra đó chỉ là tiếng chuông tưởng tượng.
Cũng bị “ngập” trong tiếng chuông điện thoại công việc, Nam không còn nhớ cuộc gọi cuối cho gia đình là lúc nào. Hơn hai tháng nay, điện thoại của anh chỉ để làm việc. Hiện, người đàn ông vừa làm chuyên viên marketing, IT và thợ chụp hình sự kiện. Với anh, một ngày 24h là không đủ, điện thoại hiếm khi tắt. Anh phải cài nhạc chuông khác nhau cho từng công việc để tránh nhầm lẫn. Khoảng hai tuần nay, chàng trai “ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương, đêm thức trắng” để hoàn thành công việc.
“Tiếp tục thì kiệt sức, buông lại sợ tuổi trẻ không rực rỡ. Có lúc, câu nói của bố lại văng vẳng trong đầu là làm để sống hay làm để chết càng khiến tôi như đứng giữa ngã ba đường”, Nam nói.
Tình trạng hoảng sợ tiếng chuông điện thoại từ công việc của những người trẻ như Minh, Nam không phải là hiện tượng cá biệt. Đây là hệ quả tất yếu của văn hóa làm việc luôn kết nối, buộc nhân viên phải duy trì trạng thái trực tuyến liên tục. Một nghiên cứu công bố trên tạp chí Computers in Human Behavior năm 2017 chỉ ra khoảng 80 đến 90% người dùng điện thoại thông minh từng trải qua hội chứng rung ảo, tức cảm giác thiết bị đang reo trong túi dù thực tế không có.
Thêm vào đó, dữ liệu từ Tổ chức Lao động Quốc tế ước tính rủi ro tâm lý xã hội tại nơi làm việc góp phần gây ra hơn 840.000 ca tử vong mỗi năm trên toàn cầu. Những vấn đề độc hại lại đang bị bình thường hóa, thể hiện qua việc 35% lao động thế giới làm việc quá 48 giờ mỗi tuần cùng với 18% từng chịu bạo lực tinh thần.
Sự ám ảnh này bắt nguồn từ cơ chế phản ứng căng thẳng có điều kiện. Tiến sĩ Cao Trần Thành Trung, Giám đốc Điều hành Trung tâm Tham vấn Trị liệu Tâm lý Lumos, giải thích rằng khi âm thanh thông báo nhiều lần gắn liền với chỉ tiêu hiệu suất hoặc lời khiển trách, não bộ sẽ tự động xem đó là một tín hiệu nguy hiểm. Do vậy, ngay cả khi nghe chuông của người khác vang lên trong ngày nghỉ, cơ thể người lao động vẫn sinh ra phản ứng nhịp tim nhanh kèm theo tâm lý hoảng hốt né tránh.
Môi trường làm việc khốc liệt cũng tạo ra hội chứng sợ bỏ lỡ. Nhân sự lo ngại nếu không phản hồi ngay lập tức, họ sẽ mất cơ hội thăng tiến. Hơn nữa, những thông báo liên tục phá vỡ sự tập trung cao độ. Nghiên cứu từ Đại học California năm 2008 cho thấy con người mất trung bình hơn 23 phút để quay lại nhịp độ làm việc ban đầu sau khi bị ngắt quãng. Khi thời hạn hoàn thành công việc đang đến gần, mỗi tiếng chuông biến thành một tác nhân phá hoại tiến độ.
Hệ lụy kéo dài của áp lực này là tình trạng kiệt sức nghiêm trọng. Tổ chức Y tế Thế giới đã chính thức công nhận đây là một hiện tượng nghề nghiệp vắt kiệt cảm xúc và làm giảm năng suất. Người lao động luôn bị đặt trong trạng thái cảnh giác thường trực để đối phó với những nguy cơ chưa thực sự xảy ra. Ông Frank Pega, quan chức của cơ quan này, nhận định thời gian làm việc kéo dài làm gia tăng căng thẳng, gây tổn thương tế bào não bộ, đồng thời dẫn đến những thói quen sinh hoạt rủi ro như thiếu ngủ.
Bác sĩ Nguyễn Viết Chung, Trưởng khoa Sức khỏe Tâm thần thuộc Bệnh viện E, cảnh báo tình trạng làm việc quá sức dẫn đến rối loạn lo âu và suy giảm chất lượng sống. Người lao động dễ cáu gắt, mất kiên nhẫn, thu mình lại khỏi các mối quan hệ, và ngay cả trong những giờ bên gia đình vẫn không thực sự thoát khỏi công việc.
Giải pháp, theo tiến sĩ Trung, cần bắt đầu từ việc phá vỡ phản xạ có điều kiện đã hình thành. Trước khi nghe máy, dừng lại 10 đến 20 giây, hít vào chậm, thở ra dài hơn, thả lỏng vai. Về dài hạn, cần thiết lập ranh giới rõ ràng là tắt thông báo ngoài giờ, phân loại cuộc gọi khẩn cấp và không khẩn cấp, thống nhất với quản lý về khung giờ liên lạc.
“Nên tập trung vào những gì mình có thể kiểm soát và làm tốt, thay vì quá ám ảnh với những yếu tố phụ thuộc vào người khác”, ông nói.
Nam hiện đã san sẻ bớt khối lượng công việc cho đồng nghiệp và lên kế hoạch du lịch xuyên Việt vào tháng 6 để phục hồi năng lượng.
Về phần Minh, anh vẫn chưa có những giấc ngủ trọn vẹn. Tuy nhiên, nam kỹ sư bắt đầu tự cứu mình bằng một kỷ luật mới, đúng 22h chiếc điện thoại phải tắt nguồn và chỉ được phép sáng đèn trở lại vào 6h hôm sau.
“Tiếng chuông điện thoại vẫn còn đó, chỉ là tôi đang học cách không để nó gõ vào tim nữa”, người đàn ông bày tỏ.
Theo Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, điều trị đích là một phương pháp hiện đại trong điều trị ung thư. Thay vì dùng hóa trị truyền thống tấn công cả tế bào ung thư và tế bào khỏe mạnh, điều trị đích tập trung vào những điểm yếu riêng của tế bào ung thư.
Đó có thể là một gen, một protein, hoặc một tín hiệu bất thường mà chỉ tế bào ung thư mới có.
Nhờ cách tiếp cận này, điều trị đích giúp tiêu diệt tế bào ung thư hiệu quả hơn. Đồng thời, nó cũng ít gây hại cho các tế bào khỏe mạnh, giúp giảm tác dụng phụ khó chịu cho người bệnh.
Về cơ chế hoạt động, các thuốc điều trị đích có thể: ngăn chặn các tín hiệu bất thường ra lệnh cho tế bào ung thư lớn lên và nhân đôi nhanh chóng. Như vậy, khối u sẽ không thể phát triển.
Các thuốc điều trị đích ngăn chặn việc hình thành các mạch máu mới. Mạch máu này vốn dùng để cung cấp ô xy và dinh dưỡng cho khối u. Khi không có đủ "thức ăn", khối u sẽ khó sống và phát triển.
Các thuốc này đưa thuốc hóa chất trực tiếp đến tế bào ung thư, gắn thuốc hóa chất vào kháng thể đặc hiệu để vận chuyển chính xác tới tế bào ung thư.
Đối với một số loại ung thư cần hormone để lớn lên (như ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến...), thuốc đích sẽ chặn hoặc cắt nguồn hormone đó, làm khối u teo đi.
Theo Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, trước khi quyết định điều trị đích, bác sĩ cần có kết quả xét nghiệm của người bệnh để tìm ra những đặc điểm riêng của khối u ung thư (gọi là "dấu ấn sinh học" hoặc "điểm đích"). Nếu khối u có những "điểm đích" mà thuốc có thể tấn công, thì khả năng điều trị thành công bằng thuốc đích sẽ cao hơn. Thuốc điều trị đích hoạt động như một "mũi tên" đi đến những điểm yếu riêng của tế bào ung thư, nhờ vậy, có thể diệt khối u hiệu quả hơn.
Vì thuốc chỉ tấn công vào tế bào ung thư có "điểm đích" đặc hiệu, nên ít làm tổn thương các tế bào khỏe mạnh khác trong cơ thể. Điều này giúp giảm bớt các tác dụng phụ khó chịu so với hóa trị thông thường.
Nhưng thuốc đích chỉ có tác dụng khi khối u ung thư mang "điểm đích" mà thuốc nhắm tới. Thuốc không hiệu quả nếu khối u không có "điểm đích" phù hợp.
Ngay cả khi phù hợp, vẫn có nguy cơ kháng thuốc. Vì sau một thời gian điều trị, các tế bào ung thư có thể thay đổi và trở nên "khôn ngoan" hơn, tìm cách "né" thuốc. Khi đó, thuốc sẽ dần mất đi hiệu quả, gọi là hiện tượng "nhờn thuốc" hoặc "kháng thuốc".
Ngoài ra, thuốc đích vẫn có thể gây tác dụng phụ. Mặc dù thường nhẹ hơn hóa trị, nhưng người bệnh vẫn có thể gặp các tác dụng phụ như tiêu chảy, rối loạn chức năng gan, hay các tác dụng phụ trên da, niêm mạc…
Mỗi người bệnh là một trường hợp khác nhau. Bác sĩ sẽ giúp người bệnh làm các xét nghiệm cần thiết, tư vấn và cùng người bệnh lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất, phù hợp nhất với tình trạng bệnh.
Ngày 12/5, tại lễ khai trương Trung tâm Phẫu thuật tật khúc xạ, Giám đốc Bệnh viện Mắt Trung ương cho biết thông tin trên.
Ở lứa tuổi nhỏ, giải pháp điều trị chủ yếu là đeo kính và theo dõi định kỳ. Khi bước sang tuổi trưởng thành (trên 18 tuổi), các tật khúc xạ thường ổn định hơn và có thể lựa chọn thêm các giải pháp điều trị bằng phẫu thuật.
Bệnh viện Mắt Trung ương đã phẫu thuật thành công cho hàng trăm nghìn người mắc các tật khúc xạ, giúp nhiều người “giải phóng” khỏi đôi kính, đáp ứng yêu cầu công việc chuyên môn, nghề nghiệp đặc thù cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống.
Song song với sự phát triển chuyên môn, các công nghệ, kỹ thuật và trang thiết bị hiện đại liên tục được cập nhật theo xu hướng tiên tiến của thế giới.
PGS.TS Phạm Ngọc Đông nhấn mạnh, ngày nay, công nghệ điều trị các tật khúc xạ ngày càng hiện đại. Trung tâm được trang bị hệ thống VisuMax 800 với khả năng hỗ trợ điều trị nhiều trường hợp khúc xạ phức tạp như giác mạc mỏng, cận thị tới 10.00 đi-ốp, loạn thị tới -5.00 đi-ốp và viễn thị tới +6.00 đi-ốp.
Công nghệ hiện đại này cũng cho phép rút ngắn thời gian tạo mô giác mạc, với khoảng 8 giây mỗi mắt. Đặc biệt, với tính năng hỗ trợ bù trừ xoay trục loạn thị, giúp tăng độ chính xác, phù hợp với những trường hợp loạn thị cao hoặc người bệnh khó phối hợp trong quá trình mổ.
Ngoài hệ thống laser hiện đại, Trung tâm còn được trang bị đồng bộ các thiết bị chẩn đoán chuyên sâu gồm máy chụp bản đồ giác mạc, đo công suất thể thủy tinh, hệ thống siêu âm - chẩn đoán hình ảnh và các xét nghiệm cận lâm sàng… góp phần nâng cao độ chính xác trong đánh giá trước mổ, trong mổ và sau phẫu thuật.
Chuyên gia cũng lưu ý các bậc phụ huynh nhận biết sớm các dấu hiệu tật khúc xạ ở trẻ. Ban đầu trẻ thường có dấu hiệu như hay tiến gần vào màn hình khi xem ti vi, đọc sách gần mắt, hay có hiện tượng nheo mắt khi nhìn…
Bộ Y tế vừa Ban hành Thông tư 16/2026/TT-BYT quy định thực hiện chương trình hỗ trợ thuốc miễn phí cho cơ sở khám chữa bệnh (KCB) để điều trị cho người bệnh (sau đây gọi tắt: chương trình) theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 42 của luật Dược, không áp dụng đối với thuốc thuộc nguồn viện trợ không hoàn lại thuộc nguồn thu ngân sách nhà nước. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 10.7.2026.
Việc thực hiện chương trình theo khả năng hỗ trợ của cơ sở kinh doanh dược, không phải nghĩa vụ bảo đảm đủ toàn bộ thuốc điều trị cho người bệnh nhưng phải bảo đảm không thu tiền hoặc kèm theo điều kiện thương mại ràng buộc người bệnh; không tác động đến việc lựa chọn phương pháp điều trị, chỉ định sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả cho người bệnh.
Thuốc trong chương trình phải được lưu hành hợp pháp tại VN. Các trường hợp được hỗ trợ là người bệnh đã được chẩn đoán xác định bệnh, được chỉ định và kê đơn sử dụng thuốc phù hợp với chỉ định của thuốc thuộc chương trình và tự nguyện tham gia. Quỹ BHYT không thanh toán đối với số lượng thuốc hỗ trợ miễn phí đã sử dụng cho người bệnh có thẻ BHYT.
Cơ sở kinh doanh dược và cơ sở KCB ký văn bản thỏa thuận thực hiện chương trình theo quy định của Bộ Y tế, bao gồm: thông tin về thuốc hỗ trợ; hình thức hỗ trợ; số lượng thuốc hỗ trợ; đối tượng và chỉ định sử dụng thuốc, khuyến khích hỗ trợ người có công với cách mạng, người bệnh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, học sinh, sinh viên, người hưởng trợ cấp xã hội, người lao động có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người bệnh có thẻ BHYT nhưng còn gánh nặng chi phí… Văn bản cần nêu rõ thời gian bắt đầu thực hiện, thời gian kết thúc.
Thông tư 16/2026/TT-BYT cũng quy định thuốc thuộc chương trình phải được sử dụng đúng chỉ định, đúng đối tượng. Thuốc phải được bảo quản, lưu trữ riêng và có ký hiệu nhận biết là thuốc trong chương trình. Cơ sở KCB thực hiện chương trình có trách nhiệm công khai thông tin của chương trình trên trang thông tin điện tử của cơ sở hoặc công khai tại cơ sở để người bệnh được biết; bảo đảm sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn, tránh lạm dụng, lãng phí; cung cấp, tư vấn đầy đủ, kịp thời thông tin về phác đồ điều trị, hiệu quả điều trị, tác dụng không mong muốn của thuốc, chi phí thuốc trong phác đồ sử dụng… Hằng năm, cơ sở KCB tổng hợp kết quả thực hiện chương trình trong báo cáo tổng kết năm của đơn vị.
Theo Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế), chương trình hỗ trợ thuốc giúp người bệnh giảm gánh nặng chi phí điều trị, đặc biệt với các thuốc, các bệnh hiểm nghèo có chi phí lớn như ung thư.