Nguyễn Thị Thanh Ngọc, tân cử nhân khóa 2026 của Đại học RMIT Việt Nam, vừa tốt nghiệp chuyên ngành tài chính, chuyên ngành phụ kinh doanh trên ứng dụng blockchain với điểm trung bình 3.7/4.0.
Cô cũng là một trong những sinh viên nhận học bổng toàn phần của RMIT năm 2022, sở hữu nhiều giải thưởng quốc gia, kinh nghiệm tham gia các chương trình lãnh đạo trẻ khu vực và đã hoàn thành chứng chỉ CFA bậc 1 khi chưa tròn 22 tuổi.
Rời cổng trường đại học, Ngọc nhìn lại hành trình không ngừng học hỏi, dấn thân và trưởng thành qua từng thử thách. Với cô, tốt nghiệp không phải điểm kết thúc mà là thời điểm chuyển giao trách nhiệm và tạo tác động xã hội.
Sinh ra và lớn lên tại Gia Lai, Nguyễn Thị Thanh Ngọc sớm nhận ra rào cản tài chính có thể khiến nhiều bạn trẻ đánh mất cơ hội học tập. Trải nghiệm đó thôi thúc cô rời quê từ năm 15 tuổi để thi đậu vào Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TP.HCM), trước khi giành học bổng toàn phần theo đuổi ngành tài chính tại Đại học RMIT.
Bước vào giảng đường đại học năm 2022, Ngọc không có một “bản thiết kế” cụ thể cho thành công, mà chỉ mang theo niềm tin rằng giáo dục cần mở ra cơ hội và khiến cuộc sống trở nên tươi sáng hơn, thay vì trở thành gánh nặng.
“Mình chọn học tài chính vì muốn hiểu cách dòng tiền vận hành, để tiền không còn là lý do khiến ai đó phải từ bỏ ước mơ”, Ngọc chia sẻ, đồng thời đặt mục tiêu trở thành chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư tạo tác động và dùng tài chính để trao quyền cho những cộng đồng còn gặp khó khăn trong tiếp cận tài chính, giống như nơi cô đã lớn lên.
Trong suốt thời đại học, Ngọc duy trì thành tích học tập xuất sắc và liên tục thử sức ở các sân chơi học thuật cạnh tranh cao. Cô giành quán quân Vietnam ESG Challenge 2024, á quân cuộc thi giải quyết tình huống kinh doanh HSBC 2024, á quân CFA Research Challenge 2025 khu vực bang Victoria & Nam Úc. Đồng thời, Ngọc là sinh viên trao đổi đầu tiên từ Đại học RMIT Việt Nam tham gia sân chơi này tại Melbourne.
Ngọc giữ vai trò Phó chủ tịch CLB FinTech RMIT Việt Nam, tham gia làm cố vấn học tập, hỗ trợ sinh viên trong các môn kinh doanh. Ngọc từng đại diện cho RMIT, cũng như tiếng nói thanh niên Việt Nam tại nhiều diễn đàn khu vực ở Jakarta (Indonesia), Bangkok (Thái Lan) và TP.HCM.
Năm 2025, trong chương trình trao đổi kéo dài 11 tháng tại Melbourne (Úc), Ngọc đối diện với thử thách mới khi không còn “hào quang” thành tích trước đó. “Ở Úc, mình chỉ là một sinh viên quốc tế giữa hàng nghìn sinh viên giỏi khác”, Ngọc chia sẻ.
Chính trải nghiệm này, cô coi đây là khoảnh khắc tái định vị bản thân, chấp nhận thử nghiệm và thất bại. Đây cũng là động lực để Ngọc thi đậu bậc 1 chứng chỉ CFA (một trong những chứng chỉ uy tín trong ngành tài chính) trong ba tháng cuối của kỳ trao đổi tại Úc, sau khi nhận học bổng sinh viên CFA.
Cũng trong thời gian này, cô vẫn đi làm và khám phá xứ sở chuột túi, đồng thời tiếp tục công việc cố vấn và chạy bộ để rèn luyện sức khỏe. Theo Ngọc, theo đuổi chuyên môn là cần thiết nhưng chưa đủ, mà cần kết hợp với phát triển cá nhân và cam kết tạo tác động xã hội.
Trở về Việt Nam đầu năm nay, Ngọc tiếp tục hành trình với vai trò thực tập sinh phân tích tại một ngân hàng đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trong hoạt động gọi vốn và tham gia một dự án nghiên cứu về đầu tư cho công nghệ khí hậu tại Việt Nam.
Bên cạnh công việc, cô vẫn duy trì hoạt động cố vấn, sáng tạo nội dung và rèn luyện thể chất. Để giữ cân bằng trong cuộc sống, cô chạy bộ vài buổi mỗi tuần và đã đặt ra cho mình thử thách mới là tập luyện cho giải bán marathon đầu tiên. Ngọc cho rằng đây là giai đoạn chuyển tiếp, khi quá trình trưởng thành vẫn tiếp diễn sau tốt nghiệp đại học.
“Mình vẫn đang trên hành trình tìm hiểu chính mình, nhưng không ngần ngại học từ trải nghiệm và trưởng thành qua mỗi lần thử”, cô chia sẻ.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tân cử nhân RMIT xác định rõ những giá trị cốt lõi: dùng tài chính để tạo tác động, xây dựng những mối quan hệ và gắn kết cộng đồng, và duy trì tinh thần học tập suốt đời. Đó là những nền tảng để bước tiếp ra thế giới bên ngoài giảng đường.
Thông tin về định dạng mới này được ông Sidnei De Souza, Giám đốc điều hành Đối tác toàn cầu và Quản lý kinh doanh của Viện Khảo thí Giáo dục Mỹ (ETS) - đơn vị sở hữu bài thi TOEFL, chia sẻ ngày 17/5.
Cụ thể, với mô hình thi thích ứng (adaptive testing), đề thi của tất cả thí sinh vẫn giữ nguyên số lượng câu hỏi, độ dài và thời gian tổng thể. Tuy nhiên, các câu hỏi phần Đọc và Nghe sẽ được điều chỉnh độ khó dựa trên kết quả chấm điểm nhanh của AI cho các phần thi trước.
Theo ông Sidnei De Souza, nhiều thí sinh phản hồi tích cực với định dạng mới, bởi giúp giảm áp lực, phản ánh sát năng lực, khả năng sử dụng ngôn ngữ trong đời sống.
"Một người trình độ B1 sẽ không phải nhận những câu hỏi ở mức C1 khiến họ thấy căng thẳng, áp lực", ông Sidnei nói.
Việt Nam hiện là thị trường có lượng người thi TOEFL dẫn đầu khu vực Đông Nam Á cùng với Indonesia. Ông Chương Nguyễn, Giám đốc Quản lý kênh khu vực Đông Nam Á của ETS, cho biết nhu cầu lấy chứng chỉ tại Việt Nam tăng cao phục vụ cho mục đích xét tuyển đại học, du học và lao động nước ngoài, song không công bố số liệu chi tiết. Hiện nay, cả nước có hơn 50 trường đại học sử dụng điểm TOEFL để xét tuyển đầu vào.
Bài thi đánh giá người sử dụng tiếng Anh ở 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết với 116 phút. Phần Đọc yêu cầu trả lời 20 câu hỏi, Nghe 28 câu. Phần Nói có bốn câu, yêu cầu thí sinh bày tỏ quan điểm và trả lời dựa câu hỏi vào thông tin bài Đọc và Nghe. Kỹ năng Viết tương tự với hai câu.
Điểm có hiệu lực trong hai năm. Kết quả được trả sau ba ngày thi. Lệ phí thi TOEFL iBT tại Việt Nam là 182 USD (khoảng 4,8 triệu đồng).
Tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027 tại Đắk Lắk, các trường THPT công lập sẽ xét tuyển; riêng 5 trường đặc thù tổ chức thi tuyển gồm: THPT chuyên Nguyễn Du, THPT chuyên Lương Văn Chánh, Phổ thông dân tộc nội trú THPT N'Trang Lơng, Phổ thông dân tộc nội trú THPT Đam San và Phổ thông dân tộc nội trú THPT Phú Yên.
Ông Nguyễn Đăng Bồng, Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Nguyễn Du, cho biết có 1.317 thí sinh đăng ký dự thi và chỉ tiêu của trường là 10 lớp chuyên với 350 em.
Trong đó, môn tiếng Anh có 274 thí sinh dự thi, tỷ lệ 1 "chọi" gần 8 em; toán 231 em, tỷ lệ 1"chọi" hơn 6 em; hóa 175 em; ngữ văn 177 em; sinh 124 em; lý 114 em; tin học 90 em; sử 65 em; Địa 45 em và tiếng Pháp 22 em.
Còn tại Trường THPT chuyên Lương Văn Chánh, kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027, có 928 thí sinh đăng ký dự thi, chọn 350 em vào các lớp chuyên.
Cụ thể, lớp chuyên tiếng Anh có 204 thí sinh dự thi, tỷ lệ 1 "chọi" gần 7; toán 220 thí sinh dự thi vào 2 lớp chọn (mỗi lớp 35 em); ngữ văn 147 em; hóa 110 em; lý 83 em; sinh 72 em; địa 30 em và sử 24 em.
Theo ông Huỳnh Tấn Châu, Hiệu trưởng nhà trường, với các môn có số lượng thí sinh đăng ký thấp như sử, địa, nhà trường sẽ xét nguyện vọng 2 của các thí sinh đăng ký các môn chuyên (theo thứ tự từ trên xuống) để đảm bảo chỉ tiêu của các lớp.
Ông Châu cho rằng sau khi Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, các học sinh đăng ký dự thi môn khoa học tự nhiên tại trường tăng hơn những năm học trước.
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 tại các trường chuyên biệt ở Đắk Lắk diễn ra ngày 31/5-2/6.
Cho học sinh mượn sách giáo khoa miễn phí là một chủ trương giàu ý nghĩa nhân văn, góp phần giảm gánh nặng chi phí cho phụ huynh, đồng thời hình thành ý thức tiết kiệm, giữ gìn tài sản chung cho học sinh. Tuy nhiên, để chủ trương này không chỉ tạo hiệu ứng tích cực trong những năm đầu mà còn phát huy hiệu quả lâu dài, điều quan trọng là phải có những giải pháp phù hợp.
Việc cho học sinh mượn sách giáo khoa (SGK) miễn phí trước hết là một chủ trương rất đáng ghi nhận. Trong bối cảnh chi phí học tập ngày càng tăng, mỗi bộ SGK được mượn sẽ giúp nhiều gia đình giảm bớt một khoản chi đầu năm học. Đối với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, đây còn là sự hỗ trợ thiết thực để các em yên tâm đến trường.
Không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mô hình này còn có giá trị giáo dục. Khi biết cuốn sách mình đang sử dụng sẽ tiếp tục được trao lại cho các em khóa sau, học sinh sẽ có ý thức hơn trong việc giữ gìn, bảo quản sách. Từ việc không gấp mép sách, không vẽ bậy, không làm rách hay làm mất sách, các em dần hình thành thói quen trân trọng tài sản chung và sử dụng tiết kiệm.
Bên cạnh đó, việc sử dụng SGK nhiều vòng đời còn góp phần hạn chế lãng phí tài nguyên, giảm lượng giấy in và phù hợp với xu hướng phát triển xanh, trong đó có ngành giáo dục.
Tuy nhiên, một chủ trương đúng chưa chắc đã thành công nếu thiếu giải pháp tổ chức phù hợp. Thực tế cho thấy không phải phụ huynh nào cũng muốn mượn SGK. Nhiều gia đình vẫn có thói quen mua sách mới để con tiện ghi chú, gạch chân, làm bài tập hoặc giữ làm tài liệu tham khảo sau này. Với những gia đình có điều kiện, khoản tiền mua sách không phải là áp lực quá lớn. Nếu tỷ lệ học sinh đăng ký mượn thấp, nhiều bộ sách được đầu tư có thể không được khai thác hết hiệu quả.
Một khó khăn khác là khâu quản lý. Hàng chục nghìn bộ sách được phát đầu năm, thu hồi cuối năm đòi hỏi quy trình chặt chẽ. Ai sẽ kiểm tra chất lượng sách? Ai chịu trách nhiệm khi sách bị hư hỏng hoặc thất lạc? Việc kiểm kê, phân loại, sửa chữa và bổ sung sách sẽ tạo thêm khối lượng công việc không nhỏ cho thư viện và giáo viên nếu không có cơ chế vận hành hợp lý.
Ngoài ra, sau vài năm sử dụng, nhiều cuốn sách sẽ xuống cấp. Nếu học sinh nhận những cuốn sách quá cũ, nhàu nát hoặc chi chít nét viết, tâm lý không muốn mượn là điều dễ hiểu. Khi đó, mục tiêu tiết kiệm có thể không đạt được như mong muốn. Bởi vậy, điều đáng quan tâm không chỉ là có bao nhiêu địa phương triển khai mà còn là chủ trương ấy có thể duy trì hiệu quả trong nhiều năm hay không.
Muốn mô hình SGK dùng chung phát huy hiệu quả, trước hết cần xem đây là một hoạt động có tính lâu dài chứ không phải phong trào ngắn hạn.
Điều đầu tiên là nên thực hiện trên tinh thần tự nguyện. Phụ huynh có quyền lựa chọn mượn hoặc mua sách mới tùy theo nhu cầu. Việc áp đặt một hình thức duy nhất sẽ khó tạo được sự đồng thuận.
Tiếp theo, cần xây dựng quy chế mượn sách rõ ràng. Khi nhận sách, phụ huynh và học sinh nên ký cam kết bảo quản. Nếu sách bị mất hoặc hư hỏng do lỗi chủ quan thì phải bồi hoàn theo quy định. Ngược lại, những hao mòn tự nhiên sau quá trình sử dụng cần được chấp nhận như một phần của vòng đời cuốn sách.
Một giải pháp đáng cân nhắc là có nên thu một khoản phí quản lý ở mức hợp lý để phục vụ việc dán mã sách, bọc bìa, sửa chữa, khử khuẩn và thay thế những cuốn sách không còn đủ điều kiện sử dụng. Khoản phí này nếu được công khai, minh bạch sẽ giúp mô hình vận hành bền vững hơn thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách.
Song song đó, các trường cần ứng dụng công nghệ trong quản lý. Mỗi bộ sách có thể được gắn mã QR hoặc mã vạch để theo dõi quá trình mượn - trả, giảm áp lực cho cán bộ thư viện và hạn chế thất thoát.
Quan trọng hơn cả là nâng cao nhận thức của học sinh. Các em cần hiểu rằng giữ gìn một cuốn sách không chỉ vì bản thân mà còn vì những học sinh khóa sau. Khi ý thức được hình thành, việc bảo quản sách sẽ trở thành hành động tự giác chứ không phải vì sợ bị xử phạt.
Các địa phương cũng nên có cơ chế đánh giá định kỳ hiệu quả của mô hình. Sau mỗi năm học cần thống kê tỷ lệ học sinh mượn sách, tỷ lệ sách hư hỏng, chi phí quản lý và mức độ hài lòng của phụ huynh để điều chỉnh kịp thời. Không nên đặt nặng chỉ tiêu số lượng mà cần quan tâm đến chất lượng và tính bền vững.