Theo Đài CNN, Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 21-4 (giờ Mỹ) tiếp tục có những phát biểu liên quan đến eo biển Hormuz sau khi công bố gia hạn thỏa thuận ngừng bắn với Iran.
“Iran không muốn eo biển Hormuz bị đóng, họ muốn nó được mở để kiếm được 500 triệu USD/ngày (cũng chính là số tiền họ mất nếu eo biển bị đóng). Họ chỉ nói muốn đóng vì tôi đã phong tỏa nơi đó hoàn toàn, nên họ chỉ muốn giữ thể diện mà thôi”, ông Trump viết trên mạng xã hội Truth Social.
Ông còn cho biết “cách đây 4 ngày, có người tiếp cận” và nói rằng “Iran muốn mở lại eo biển ngay lập tức”. Tuy nhiên nhà lãnh đạo Mỹ cảnh báo rằng việc dỡ bỏ phong tỏa của Mỹ đối với các cảng Iran sẽ làm mất cơ hội đạt được một thỏa thuận hòa bình, trừ khi “chúng ta phá hủy phần còn lại của đất nước đó”.
Trong một bài đăng khác trên Truth Social nhằm chỉ trích bài viết của tờ Wall Street Journal liên quan đến cuộc chiến ở Iran, ông Trump cáo buộc Tehran đã lợi dụng các đời tổng thống Mỹ trong suốt 47 năm qua, trừ ông.
Ông chủ Nhà Trắng tuyên bố “toàn bộ hải quân Iran đã chìm xuống đáy biển, không quân của họ đã biến mất, hệ thống phòng không và radar của họ đã bị xóa sổ, các phòng thí nghiệm hạt nhân và khu vực lưu trữ của họ đã bị phá hủy”, các nhà lãnh đạo Tehran cũng đã bị tiêu diệt.
“Eo biển Hormuz bị phong tỏa và nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Mỹ, không một con tàu nào được đi đến các cảng của Iran. Họ đang mất 500 triệu USD/ngày vì điều này”, ông nói.
Lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ với các cảng của Iran được xem là điểm nghẽn trong tiến trình tổ chức vòng đàm phán thứ hai giữa Washington và Tehran ở quốc gia trung gian Pakistan.
Khi công bố gia hạn ngừng bắn, ông Trump cho biết khoảng thời gian này là để Iran đưa ra một đề xuất thống nhất và quân đội Mỹ tiếp tục duy trì phong tỏa, luôn ở trong trạng thái sẵn sàng hành động.
Cũng trong ngày 21-4, Đại sứ của Iran tại Liên hợp quốc, ông Amir Saeid Iravani, bày tỏ tin tưởng các cuộc đàm phán sẽ diễn ra tại thủ đô Islamabad của Pakistan sau khi Mỹ dỡ bỏ phong tỏa.
“Ngay khi Washington chấm dứt phong tỏa hải quân, tôi cho rằng vòng đàm phán tiếp theo sẽ được tổ chức tại Islamabad”, ông Amir Saeid Iravani nói với các phóng viên tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), theo Hãng tin IRNA của Iran.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo trang tin Axios, Mỹ đang yêu cầu Iran phải tuyên bố công khai mở cửa hoàn toàn eo biển Hormuz cho hoạt động hàng hải, đồng thời cam kết không tấn công các tàu chở dầu đi qua tuyến đường thủy chiến lược này.
“Chúng tôi muốn Iran sẽ tuyên bố rằng mọi luồng hàng hải trên eo biển Hormuz sẽ được mở và không thu phí”, một quan chức Mỹ chia sẻ hôm 10/7.
Các quan chức Mỹ nói với giới truyền thông rằng họ kỳ vọng Iran sẽ đưa ra một tuyên bố chấp thuận các điều khoản đó sau khi các nhà đàm phán gặp nhau tại Oman vào ngày 11/7.
“Nếu đó không phải là lập trường của họ vào ngày mai, thì đó sẽ không phải là một ngày tuyệt vời đối với họ”, quan chức Mỹ nêu rõ.
Quan chức này nói thêm: “Tổng thống Donald Trump đã chỉ thị cho chúng tôi đàm phán, nhưng như những gì ông đã cho thấy mình sẵn sàng thực hiện, nếu họ tiếp tục bắn vào các tàu thuyền hoặc tham gia vào bất kỳ hành động thù địch nào khác, thì chúng tôi sẽ đánh trả họ”.
Trong một bài đăng trên mạng xã hội Truth Social hôm 10/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Mỹ đồng ý tiếp tục các cuộc đàm phán theo đề nghị của Iran, nhưng khẳng định “lệnh ngừng bắn đã kết thúc”.
Mỹ và Iran tiếp tục các hành động thù địch do những cách diễn giải khác nhau về bản ghi nhớ (MOU) ký kết vào ngày 17/6 liên quan đến việc quản lý eo biển Hormuz. Hai bên đã tiến hành các cuộc không kích đáp trả qua lại vào hôm 8/7 và 9/7 sau khi Mỹ cùng các quốc gia Vùng Vịnh đổ lỗi cho Iran về các cuộc tấn công nhằm vào 3 tàu thương mại.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran, Esmaeil Baghaei, đã phủ nhận tuyên bố của ông Trump rằng Tehran đã yêu cầu một vòng đàm phán mới. Ông nói rằng bất kỳ hành vi vi phạm lệnh ngừng bắn nào từ phía Mỹ sẽ phải đối mặt với “hành động ăn miếng trả miếng”.
Truyền thông Iran đưa tin Ngoại trưởng Abbas Araghchi sẽ tới Oman vào ngày 11/7 để gặp gỡ các nhà hòa giải khu vực.
Nhà đàm phán hàng đầu của Iran, Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf, tuyên bố hôm 10/7 rằng Tehran vẫn “không tin tưởng Mỹ” và rằng “dân tộc Iran sẽ không bao giờ khuất phục trước sức ép”.
Iran đã đóng cửa eo biển Hormuz đối với hầu hết các hoạt động vận tải hàng hải sau cuộc tấn công của Mỹ và Israel vào ngày 28/2. Kể từ đó, Tehran đã khăng khăng yêu cầu tất cả các tàu thuyền phải tuân thủ hướng dẫn của mình và sử dụng các tuyến đường hàng hải được chỉ định.
Theo bản ghi nhớ, Iran đồng ý “thực hiện các sắp xếp bằng nỗ lực tốt nhất của mình để đảm bảo cho sự qua lại an toàn của các tàu thương mại” trong vòng 60 ngày và đàm phán với Oman về việc quản lý eo biển Hormuz trong tương lai.
Ngoài ra, yêu cầu cơ bản từ phía Mỹ là Iran phải giao nộp các vật liệu hạt nhân. Tehran được cho là đang sở hữu hơn 400kg uranium làm giàu cấp độ cao, thứ mà ông Trump và các quan chức Mỹ khác gọi là “bụi hạt nhân”.
“Tôi chỉ muốn nói rõ ở đây rằng nếu chúng tôi không lấy được số bụi đó, chúng tôi sẽ không có một thỏa thuận nào với Iran cả”, một quan chức tuyên bố. Vị quan chức này nói thêm rằng “chúng tôi có rất nhiều lựa chọn” nếu Iran từ chối, bao gồm cả các lựa chọn quân sự và kinh tế.
Tin Gốc: Dân Trí

Bộ Ngoại giao Iran ngày 6/5 đưa ra cảnh báo bất thường nhắm vào "những nhà cầm quyền tại Abu Dhabi", thủ đô Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), quốc gia nằm đối diện với Iran qua vịnh Ba Tư và eo biển Hormuz.
Tehran cáo buộc quốc gia vùng Vịnh giàu dầu mỏ này đang bắt tay với Mỹ và Israel để chống lại Iran, đồng thời đe dọa về những "hậu quả nguy hiểm" nếu UAE không chấm dứt quan hệ với các nước này.
Thay vì lùi bước và nhượng bộ trước lời đe dọa của Iran, chỉ vài giờ sau đó, hãng thông tấn nhà nước UAE đưa tin Tổng thống Mohammed bin Zayed đã điện đàm với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Ông Netanyahu bày tỏ sự đoàn kết với UAE sau khi nghe tin về một đợt tấn công mới bằng tên lửa và máy bay không người lái của Iran nhắm vào cơ sở dầu mỏ của nước này hồi đầu tuần.
Kể từ khi cuộc chiến giữa Mỹ - Israel và Iran bùng phát ngày 28/2, UAE đã hứng chịu nhiều cuộc tấn công từ Iran hơn bất kỳ quốc gia nào khác, bao gồm cả các đợt oanh tạc mới nhất vào sáng 8/5.
Vivian Nereim, nhà bình luận của NY Times, cho rằng cuộc điện đàm của Tổng thống Mohammed bin Zayed với Thủ tướng Netanyahu là một trong nhiều dấu hiệu cho thấy chính phủ UAE đã quyết định thắt chặt hơn nữa liên minh với Israel và Mỹ, bất chấp rủi ro từ các đòn tấn công của Iran.
Xu hướng này vẫn tiếp tục ngay cả khi Tổng thống Donald Trump và quan chức Mỹ dường như hạ thấp mức độ nghiêm trọng của các cuộc tấn công vào UAE trong bối cảnh lệnh ngừng bắn, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 8/4, đang được thực thi.
"Có một niềm tin tuyệt đối rằng ông Trump sẽ hành động đúng đắn. Những gì phù hợp với di sản của ông ấy và lợi ích của Mỹ cũng sẽ phù hợp với chúng tôi", Nadim Koteich, nhà bình luận thân cận với chính phủ UAE, nói.
Mức độ đáp trả của Iran đối với chiến dịch của Mỹ và Israel đã gây cú sốc lớn cho nhiều người tại UAE. Dù quốc gia này cho phép Mỹ đặt căn cứ không quân, Abu Dhabi không phải là bên trực tiếp tham gia xung đột và vốn có quan hệ văn hóa, kinh tế lâu đời với Iran.
Trước xung đột, UAE là một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Iran. Khi tên lửa, UAV Iran lao xuống các cơ sở năng lượng, sân bay và khách sạn UAE giai đoạn đầu xung đột, làm ít nhất 10 dân thường thiệt mạng, cú sốc đó đã biến thành nỗi phẫn nộ.
"Cả lãnh đạo và người dân ngày càng thấy rằng việc Iran tập trung tấn công vào UAE đã biến cuộc chiến này thành 'khoảnh khắc 11/9' của chúng tôi", Marwan Alblooshi, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Chính sách UAE ở Abu Dhabi, nói, đề cập tới ngày xảy ra cuộc khủng bố ở Mỹ năm 2001.
Tối 7/5, giới chức Iran cáo buộc UAE không kích các mục tiêu phía nam nước này. Khi được đề nghị bình luận, UAE không xác nhận cũng không bác bỏ, mà dẫn lại tuyên bố lên án Iran mà họ đưa ra trước đó. Sau đó, quân đội Mỹ tuyên bố đã "tấn công các cơ sở quân sự Iran đứng sau các cuộc tập kích vào lực lượng Mỹ" gần eo biển Hormuz.
Hiện chưa rõ tại sao UAE lại rơi vào tầm ngắm của Iran nhiều hơn các nước láng giềng vùng Vịnh. Dubai cách bờ biển của Iran khoảng 160 km, đồng nghĩa thành phố này có thể bị tấn công bằng các loại vũ khí tầm ngắn.
Ông Koteich gọi đây là "tâm điểm của toàn cầu hóa", có nghĩa là tác động kinh tế khi tấn công vào UAE sẽ gây tiếng vang lớn hơn nhiều so với việc tập kích Kuwait hay Bahrain.
Giới chức Iran cũng nhiều lần chỉ trích UAE vì mối quan hệ mật thiết với Israel, vốn được thiết lập từ năm 2020. Mối quan hệ đối tác này thậm chí còn trở nên khăng khít hơn trong thời gian xung đột. Theo hai nguồn tin thân cận, quân đội Israel đã triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa Vòm Sắt tại UAE nhằm đối phó với UAV và tên lửa tầm ngắn Iran.
Ông Koteich mô tả cuộc xung đột giống như "liều thuốc kích thích cho mối quan hệ này".
Xung đột cũng đã khiến chính phủ UAE phải đánh giá lại các mối quan hệ khu vực. Giới chức nước này phàn nàn rằng các láng giềng Arab đã không thể hiện đủ sự đồng cảm và tinh thần đoàn kết cần thiết. Họ cho rằng Pakistan, nước đang làm trung gian giữa Mỹ và Iran, quá mềm mỏng và sẵn sàng chiều theo lập trường của Tehran.
"Cuộc chiến càng kéo dài, họ càng có thêm thời gian để suy ngẫm về vị thế của mình trên thế giới, vị trí của họ ở vùng Vịnh, cũng như ai thực sự là bạn, ai không phải. Họ đang nhìn mọi thứ theo lằn ranh rất rõ ràng: bạn hay thù", Barbara A. Leaf, cựu đại sứ Mỹ tại UAE, nói.
Mối quan hệ của UAE với Arab Saudi, vốn từng là đồng minh thân cận, đã trở nên căng thẳng suốt nhiều tháng qua. Abu Dhabi tháng trước thông báo rút khỏi OPEC, liên minh các nước xuất khẩu dầu mỏ mà trong đó Riyadh được xem là lãnh đạo thực tế.
Giới chức UAE cho biết động thái này nhằm cho phép đất nước của họ tự tăng sản lượng dầu để đáp ứng nhu cầu dài hạn của thị trường, nhưng đồng thời cũng cho thấy UAE ngày càng muốn đi theo con đường riêng. UAE hiện tin họ cần gắn bó chặt chẽ hơn với Mỹ.
"Mỹ đã ở bên chúng tôi", Abdulkhaleq Abdulla, nhà khoa học chính trị nổi tiếng của UAE, nói. "Nếu không có các hệ thống như Patriot của Mỹ để đánh chặn tên lửa Iran, chúng tôi đã không thể bảo vệ mình. Quan hệ với Mỹ là trụ cột thiết yếu đối với sự ổn định của chúng tôi".
Tin Gốc: Vnexpress

Khi Nga tiến gần hơn đến việc triển khai ngư lôi hạt nhân Poseidon trên tàu ngầm Khabarovsk chuyên dụng, vũ khí này ngày càng nổi lên như một cuộc thử nghiệm về năng lực răn đe, kiểm soát vũ khí và chiến tranh dưới biển.
Mới đây, Naval News đưa tin, Nga đang đẩy mạnh phát triển vũ khí chiến lược dưới nước Poseidon bằng cách chế tạo tàu ngầm Khabarovsk, một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân được thiết kế riêng, hiện đang được trang bị tại Severodvinsk ở vùng Bắc Cực của Nga, theo những chi tiết mới được tổng hợp từ ảnh vệ tinh và phân tích nguồn mở.
Tàu ngầm này là một phần trong nhóm vũ khí chiến lược “bất khả chiến bại” của Nga, được công bố năm 2018 và được thiết kế độc quyền để triển khai phương tiện tự hành dưới nước (UUV) Poseidon, một ngư lôi liên lục địa chạy bằng năng lượng hạt nhân, có đầu đạn hạt nhân.
Nó có thể né tránh hệ thống phòng thủ tên lửa thông thường và đe dọa các thành phố ven biển, cơ sở hạ tầng chiến lược và có khả năng cả các nhóm tác chiến tàu sân bay.
Theo các dữ liệu mới nhất tính đến tháng 11/2025, tàu có chiều dài ước tính khoảng 135m và chiều ngang 13,5m, mang cấu trúc lai ghép giữa những lớp tàu ngầm hạt nhân hiện đại nhất của Nga.
Nó còn sở hữu thiết kế độc đáo khi tích hợp phần đuôi của tàu ngầm lớp Borei và phần mũi của lớp Belgorod. Mặc dù dựa trên các nền tảng tàu ngầm lớn nhất thế giới, Khabarovsk có chiều dài ngắn hơn do không có khoang trung tâm. Ở lớp Borei, khoang này là nơi chứa ống phóng tên lửa đạn đạo Bulava, còn lớp Belgorod được sử dụng làm bến chứa cho các tàu lặn sâu.
Về hệ thống động lực, phần đuôi của Khabarovsk phát triển từ biến thể Borei-A, nhiều khả năng được trang bị lò phản ứng hạt nhân OK-650V. Hệ thống này giúp giảm đáng kể tiếng ồn và tăng cường khả năng tàng hình khi hoạt động. Khác với dòng Borei, khoang thoát hiểm của Khabarovsk được đặt ngay trong tháp chỉ huy thay vì ở thân sau. Đặc điểm này phù hợp với truyền thống thiết kế tàu ngầm Nga nhưng tháp chỉ huy được thu nhỏ đáng kể so với kích thước tàu.
Theo các nguồn tin, con tàu này có thể mang tới 6 ngư lôi Poseidon trong các khoang chứa bên hông ngập nước, cùng với một số lượng ngư lôi thông thường hạn chế, nhấn mạnh vai trò chiến lược chuyên biệt của nó.
Việc Nga phát triển ngư lôi Poseidon và tàu ngầm mang ngư lôi Khabarovsk đang thử thách giới hạn của hệ thống phòng thủ dưới biển của Mỹ, đồng thời đặt ra những câu hỏi lớn hơn về năng lực răn đe, kiểm soát vũ khí và tương lai của răn đe hạt nhân dưới biển.
Một báo cáo của Viện Chatham (Anh) vào tháng 9/2021 mô tả Poseidon là một ngư lôi hạt nhân tự hành cỡ lớn có khả năng đạt tốc độ khoảng 70 hải lý/giờ. Tài liệu này nêu rõ, nó có một lò phản ứng hạt nhân thu nhỏ để cung cấp năng lượng, giúp nó có tầm bắn gần như không giới hạn và cho phép nó lặn xuống độ sâu lên đến 1km, nằm ngoài tầm với của các tàu ngầm có người lái hiện có.
Báo cáo cho biết, các quan chức Nga giới thiệu Poseidon là một vũ khí “đa năng”, có khả năng mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân để tấn công các nhóm tàu sân bay, công sự ven biển và các mục tiêu cơ sở hạ tầng. Trong các thử nghiệm mới nhất, Poseidon đã lần đầu tiên sử dụng lò phản ứng hạt nhân để di chuyển theo lộ trình định sẵn dưới nước sau khi được phóng từ tàu ngầm.
Về số lượng ngư lôi Poseidon và tàu ngầm chuyên dụng mà Nga có thể chế tạo, chuyên gia Norman Polmar lưu ý trong một bài báo trên tạp chí Proceedings hồi tháng 1 rằng Nga đặt mục tiêu chế tạo 30 ngư lôi Poseidon để triển khai trên 4 tàu ngầm - hai chiếc cho Hạm đội phương Bắc và hai chiếc cho Hạm đội Thái Bình Dương.
Về các kịch bản hoạt động khả thi, chuyên gia Thomas Siu lưu ý trong một bài báo trên tạp chí Proceedings vào tháng 1/2022 rằng Poseidon có thể trở thành một vũ khí phản công bán tự động khi được tích hợp với hệ thống chỉ huy và kiểm soát hạt nhân Perimeter của Nga.
Theo chuyên gia Siu, Perimeter còn giúp đảm bảo khả năng phản công ngay cả khi hệ thống chỉ huy và kiểm soát hạt nhân của Nga bị phá hủy. Ông lưu ý rằng, thông qua sự kết hợp giữa việc mất tín hiệu từ Moscow và dữ liệu từ mạng lưới các cảm biến địa chấn, bức xạ và áp suất không khí, hệ thống Perimeter có thể gửi tín hiệu phóng đến tất cả các vũ khí hạt nhân còn lại của Nga.
Ông cũng lưu ý rằng trong trường hợp Nga bị tấn công hạt nhân, hệ thống Perimeter có thể điều khiển các ngư lôi Poseidon đang tuần tra ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương tấn công các thành phố cảng của Mỹ nằm ngoài tầm bắn hiệu quả của các ngư lôi Mỹ có thể được sử dụng để chống lại chúng.
Thách thức lớn với Mỹ
Điều này đặt ra thách thức đối với khả năng chống tàu ngầm của Mỹ, vì Hải quân nước này có thể thiếu vũ khí để chống lại mối đe dọa như vậy kể từ khi họ loại tên lửa chống tàu ngầm UUM-44 Subroc vào năm 1992.
Subroc là một tên lửa chống tàu ngầm phóng từ tàu ngầm với tầm bắn 55km, được trang bị đầu đạn hạt nhân W-55. Nó được bắn từ ống phóng ngư lôi tiêu chuẩn, mang theo một quả bom chìm hạt nhân chống lại tàu ngầm địch ở tầm xa, khiến mục tiêu hầu như không có cảnh báo trước khi va chạm.
Tuy nhiên, sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đồng nghĩa với việc dự án Subroc - và dự án kế nhiệm dự kiến "Sea Lance", có khả năng mang ngư lôi thông thường Mark 50 hoặc đầu đạn hạt nhân W89 - đã bị hủy bỏ.
Với việc hủy bỏ Subroc và Sea Lance, Hải quân Mỹ hiện không còn vũ khí chống tàu ngầm tầm xa nào - một khoảng trống về năng lực thậm chí có thể trở nên nguy hiểm hơn với sự ra mắt của Khabarovsk.
Xét về vị trí của Poseidon trong học thuyết hạt nhân của Nga, nội dung báo cáo tháng 8/2025 của Viện Nghiên cứu Quân sự Hoàng gia Anh (RUSI) nhấn mạnh "nó là một phần trong nỗ lực của Moscow nhằm duy trì khả năng tấn công hạt nhân trả đũa đáng tin cậy trước những gì họ coi là mối đe dọa ngày càng tăng từ lực lượng phản công và hệ thống phòng thủ tên lửa của Washington".
Báo cáo mô tả các hệ thống như Poseidon như những biện pháp phòng ngừa trước điểm yếu bị tấn công phủ đầu trong bối cảnh Nga lo ngại các hệ thống tấn công chính xác, phòng thủ tên lửa và hệ thống hạt nhân năng suất thấp của Mỹ có thể làm suy yếu sự ổn định chiến lược.
Nga đã tăng tốc thử nghiệm Poseidon trong giai đoạn Moscow ngày càng coi năng lực răn đe của Washington. Bài viết cũng mô tả Poseidon như một công cụ hỗ trợ cho trọng tâm rộng hơn của Nga trong việc đảm bảo lực lượng phản công có khả năng sống sót và duy trì uy tín trong việc leo thang xung đột trong học thuyết hạt nhân đang phát triển của nước này.
Mặc dù có những tác động chiến lược đó, vẫn còn nhiều câu hỏi quan trọng về tính khả thi của khái niệm ngư lôi Poseidon.
Chuyên gia Lukas Trakimavicius, trong một báo cáo tháng 10/2021 cho Trung tâm Xuất sắc về An ninh Năng lượng NATO, đã nhấn mạnh rằng tính hữu dụng quân sự của Poseidon bị hạn chế bởi tốc độ 70 hải lý/giờ, vì theo đó nó phải mất một ngày hoặc hơn để đến được bờ biển của đối phương từ vùng biển ven bờ phía Tây.
Ngược lại, một tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) Minuteman III phóng từ đất liền của Mỹ có thể tiếp cận các mục tiêu chiến lược trong khoảng một giờ. Ông cũng cho biết, khi Poseidon tăng tốc có thể phát ra nhiều tiếng ồn hơn, khiến ngư lôi dễ bị hệ thống sonar phát hiện hơn.
Theo các chuyên gia, dù Poseidon có chứng tỏ là một vũ khí mang tính cách mạng hay chỉ là một năng lực chuyên dụng đắt đỏ, quá trình phát triển của nó đã và đang định hình lại các tính toán răn đe hạt nhân và buộc Mỹ cùng các đồng minh phải suy nghĩ lại về vấn đề cạnh tranh hạt nhân dưới biển.
Tin Gốc: Dân Trí

