Theo đó, Thủ tướng Lê Minh Hưng phân công 6 Phó Thủ tướng Chính phủ thay mặt Thủ tướng Chính phủ để theo dõi, chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội tại Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các Nghị quyết của Chính phủ, Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ các tỉnh, thành phố nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Đặc biệt là Kết luận số 18 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10% trong năm 2026 và những năm tiếp theo, cụ thể:
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc theo dõi các địa phương vùng Đông Nam Bộ, gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh.
Phó Thủ tướng Phan Văn Giang theo dõi các địa phương vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, gồm: thành phố Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng.
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà theo dõi các địa phương vùng Trung du và miền núi phía Bắc, gồm: Cao Bằng, Điện Biên, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng theo dõi các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long, gồm: Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng theo dõi các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu theo dõi các địa phương vùng Bắc Trung Bộ, gồm: Huế, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị.
Quyết định nêu rõ, các Phó Thủ tướng Chính phủ chủ động lựa chọn hình thức làm việc phù hợp với các địa phương được phân công theo dõi để trực tiếp chỉ đạo thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, tập trung tháo gỡ các vướng mắc, điểm nghẽn cản trở tăng trưởng, cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền theo thẩm quyền và quy định của pháp luật, nhằm thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế của cả nước từ 10% trở lên theo Kết luận số 18 của Ban Chấp hành Trung ương.
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 22/5/2026.
Trước đó, ngày 16/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 109 cập nhật, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kết luận số 18 của Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026- 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số.
Trọng tâm cốt lõi của Nghị quyết 109 là thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế 2 con số gắn với ổn định vĩ mô và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ chiến lược bao gồm: xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực; hoàn thiện đồng bộ thể chế để giải phóng sức sản xuất; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng…
Nghị quyết yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển ngành, lĩnh vực, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của cả nước và địa phương, các nhiệm vụ được giao tại Phụ lục I (các chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu giai đoạn 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”; Phụ lục II (mục tiêu tăng trưởng GDP, GRDP giai đoạn 2026 – 2030); Phụ lục III (phân công triển khai các nhiệm vụ trọng tâm năm 2026); Phụ lục IV (phân công thực hiện nhiệm vụ, đề án giai đoạn 2026 – 2030).
Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Công điện số 41 ngày 21/5/2026 về việc giao chỉ tiêu tăng trưởng cho các địa phương, doanh nghiệp nhà nước để thực hiện Kết luận số 18 của Trung ương và Nghị quyết số 109 của Chính phủ.
Mùa hè đến, nhu cầu sử dụng các thiết bị làm mát trong các gia đình tăng cao. Cũng bởi vậy mà hoá đơn tiền điện cũng đạt con số lớn hơn hẳn so với các thời điểm khác trong năm. Để tiết kiệm điện hơn, rất nhiều phương pháp đã được chỉ ra. Và có lẽ nhiều người chưa biết, bên cạnh thao tác với các thiết bị làm mát như quạt hay điều hoà, người dùng có thể thực hiện cả những thay đổi nhỏ trên các thiết bị điện khác nữa.
Theo hướng dẫn của EVN, chỉ cần điều chỉnh đúng nút Temp.Control, người dùng có thể giảm lượng điện tiêu thụ của tủ lạnh mà vẫn bảo đảm khả năng làm lạnh. Đây là núm vặn hoặc nút điều chỉnh nhiệt độ tổng của tủ lạnh, thường được đặt ở ngăn mát, giúp người dùng điều chỉnh mức làm lạnh của cả ngăn mát lẫn ngăn đông.
Khi vặn nút Temp.Control về phía MAX hoặc chọn mức số cao hơn, tủ sẽ làm lạnh sâu hơn. Để duy trì nhiệt độ này, máy nén phải hoạt động với công suất lớn hơn và trong thời gian dài hơn, khiến lượng điện tiêu thụ tăng lên.
Ngược lại, khi điều chỉnh về mức thấp hơn (MIN), tủ sẽ làm lạnh ít hơn nên tiêu thụ ít điện hơn. Tuy nhiên, nếu để mức quá thấp trong khi tủ chứa nhiều thực phẩm hoặc thời tiết nắng nóng, nhiệt độ bên trong có thể không đủ để bảo quản thực phẩm, làm tăng nguy cơ thực phẩm nhanh hư hỏng.
Vì vậy, để vừa tiết kiệm điện vừa đảm bảo khả năng làm lạnh, người dùng nên điều chỉnh Temp.Control theo lượng thực phẩm và điều kiện thời tiết, thay vì luôn để ở mức lạnh cao nhất.
Với nhu cầu sử dụng hàng ngày, người dùng nên ưu tiên để nút ở mức trung bình (MED) hoặc mức tương đương theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Nếu tủ chỉ chứa ít thực phẩm hoặc thời tiết mát mẻ, bạn có thể giảm xuống mức thấp hơn để tiết kiệm điện.
Tương tự, khi tủ chứa nhiều thực phẩm hoặc thời tiết nắng nóng, người dùng nên điều chỉnh Temp.Control lên mức cao hơn trong vài giờ để tủ nhanh đạt nhiệt độ ổn định, sau đó đưa nút điều chỉnh trở lại mức trung bình nhằm tránh lãng phí điện năng.
Ngoài Temp.Control, nhiều mẫu tủ lạnh còn được trang bị nút Freezer Temp Control hoặc thanh trượt điều chỉnh lượng gió giữa ngăn đông và ngăn mát.
Khác với Temp.Control, Freezer Temp Control chỉ có nhiệm vụ điều chỉnh lượng hơi lạnh giữa ngăn đông và ngăn mát. Khi người dùng kéo về phía mức MAX, luồng khí lạnh sẽ được ưu tiên cho ngăn đông để cấp đông thực phẩm hoặc làm đá nhanh hơn. Ngược lại, khi kéo về phía mức MIN hoặc mức giữa, hơi lạnh sẽ được chuyển nhiều hơn xuống ngăn mát, phù hợp với nhu cầu bảo quản thực phẩm hàng ngày.
Vì vậy, người dùng nên điều chỉnh Freezer Temp Control theo nhu cầu bảo quản thực phẩm, thay vì coi đây là nút giúp tiết kiệm điện.
Ngoài việc điều chỉnh đúng các nút trên tủ lạnh, một số thói quen sử dụng cũng giúp giảm lượng điện tiêu thụ đáng kể.
Tủ lạnh nên được đặt ở nơi thông thoáng, tránh kê sát tường. Mặt sau và hai bên hông tủ nên cách tường khoảng 10cm để tản nhiệt tốt hơn, giúp máy nén không phải hoạt động quá tải.
Người dùng cũng nên hạn chế mở cửa tủ lạnh quá nhiều lần hoặc để cửa mở quá lâu. Việc thất thoát hơi lạnh sẽ khiến máy nén phải hoạt động lâu hơn để bù lại lượng nhiệt đã mất, từ đó làm tăng điện năng tiêu thụ.
Không nên xếp thực phẩm quá kín hoặc che các khe gió bên trong tủ lạnh vì sẽ cản trở luồng khí lạnh lưu thông. Khi đó, tủ phải hoạt động lâu hơn để duy trì nhiệt độ ổn định, dẫn đến lượng điện tiêu thụ tăng lên.
Bên cạnh đó, nên để thức ăn nguội bớt trước khi cho vào tủ lạnh. Việc cho thực phẩm còn nóng vào tủ sẽ làm nhiệt độ bên trong tăng lên, buộc máy nén phải hoạt động mạnh hơn để làm lạnh trở lại.
Bạn có thể để tủ lạnh ở số 2 hoặc 3. Bạn có thể tăng lên mức số 4 khi thời tiết hanh nóng.
Nên vệ sinh tủ lạnh thường xuyên, vệ sinh tủ lạnh bằng giấm cũng rất an toàn và sạch sẽ.
Nên điều chỉnh nhiệt độ theo thời tiết, không nên để ở một mức nhiệt độ quá lâu.
Không nên bật tắt tủ lạnh liên tục khi không sử dụng
Chỉ với việc điều chỉnh đúng nhiệt độ và thay đổi một vài thói quen sử dụng, người dùng có thể giảm đáng kể lượng điện tiêu thụ của tủ lạnh mà vẫn bảo đảm thực phẩm được bảo quản hiệu quả.
Bộ Xây dựng cho biết: Ngay sau khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư dự án Vành đai 4 TP.HCM, các địa phương đã triển khai khảo sát địa hình, lập báo cáo nghiên cứu khả thi và đánh giá tác động môi trường.
Đến nay, nhóm dự án đầu tư công đã phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi được 4/5 dự án thành phần. Riêng dự án thành phần 1-1 do UBND TP.HCM làm cơ quan chủ quản hiện vẫn đang trong quá trình thẩm định.
Đối với 5 dự án về xây dựng tuyến chính cao tốc vẫn đang trong giai đoạn lập, thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi. Theo báo cáo, đã có 4/5 dự án PPP trình thẩm định, còn dự án thành phần 2-1 đang hoàn thiện hồ sơ.
Theo Bộ Xây dựng, Chính phủ từng yêu cầu các địa phương phải hoàn thành phê duyệt dự án thành phần đầu tư công trước ngày 31.12.2025 để khởi công trước 30.6. Tuy nhiên đến tháng 4 vừa qua, mục tiêu này vẫn chưa đạt được.
Đối với các dự án PPP, yêu cầu hoàn thành phê duyệt và lựa chọn nhà đầu tư trước 30.6 cũng đứng trước nguy cơ chậm tiến độ khi đến nay chưa có dự án nào hoàn tất báo cáo nghiên cứu khả thi.
Trong khi đó, công tác GPMB vẫn còn rất nhiều khó khăn. Theo yêu cầu của Chính phủ, các địa phương phải bàn giao 70% mặt bằng trong tháng 6, 90% trong tháng 9 và hoàn tất toàn bộ mặt bằng trong năm nay. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng đánh giá công tác GPMB hiện “có nguy cơ không đạt được mục tiêu đề ra”.
Cụ thể, các địa phương đã triển khai cắm mốc ngoài thực địa, kiểm đếm, đo đạc và lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Tuy nhiên, tiến độ hiện nay được đánh giá là chưa đáp ứng yêu cầu.
Tỉnh Tây Ninh đã hoàn thành công tác cắm cọc GPMB và kiểm đếm, đồng thời phê duyệt phương án bồi thường cho 3/15 xã. Trong khi đó, TP.HCM và Đồng Nai vẫn đang tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường.
Liên quan công tác tái định cư, các địa phương đã bước đầu xác định nhu cầu và chuẩn bị quỹ đất phục vụ bố trí dân cư. Trong đó, Đồng Nai dự kiến bố trí 8 khu tái định cư cho 1.119 hộ dân; Tây Ninh dự kiến 6 khu tái định cư, còn TP.HCM hiện vẫn đang kiểm đếm để xác định nhu cầu thực tế.
Trước nguy cơ chậm tiến độ, Bộ Xây dựng đề nghị các địa phương xây dựng giải pháp cụ thể cho từng dự án thành phần và tăng cường kiểm tra, giám sát. Đồng thời, khẩn trương hoàn thành thủ tục phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án thành phần 1-1 và toàn bộ 5 dự án PPP để triển khai các bước tiếp theo.
Ngoài ra, các địa phương cần đẩy nhanh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư. Đồng thời chủ động bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng, nhất là vật liệu đắp nền, cát và đá phục vụ thi công.
Theo báo cáo tại hội nghị, tính đến thời điểm hiện tại, tổng số tàu bay đăng ký quốc tịch Việt Nam là 280 chiếc (bao gồm 252 tàu bay cánh bằng và 28 trực thăng), tăng 18 chiếc so với năm 2025. Tuy nhiên, ngành hàng không vẫn đang phải đối mặt với thách thức lớn khi có tổng cộng 17 tàu bay A321NEO đang phải bảo quản và dừng bay dài hạn do thiếu hụt động cơ từ nhà sản xuất (Pratt & Whitney).
Dù con số này đã giảm 6 tàu bay so với cùng kỳ năm 2025, tình trạng thiếu hụt động cơ nguồn cung và vật tư phụ tùng vẫn tiếp tục tạo áp lực lớn lên phương án khai thác của các hãng.
Bên cạnh đó, sự tăng trưởng nhanh của thị trường trong các giai đoạn cao điểm cũng gây sức ép không nhỏ lên kết cấu hạ tầng cảng hàng không, vùng trời, nhân lực và công tác điều hành bay. Sự biến động về giá nhiên liệu cùng tình hình địa chính trị quốc tế phức tạp đòi hỏi các đơn vị phải chủ động đánh giá rủi ro để thích ứng.
Dù gặp nhiều khó khăn về đội tàu bay, hoạt động hàng không dân dụng trong 6 tháng đầu năm vẫn ghi nhận duy trì đà tăng trưởng tích cực và bảo đảm tuyệt đối an toàn.
Cụ thể, đối với mạng bay quốc tế, các hãng hàng không Việt Nam hiện duy trì 54 đường bay nội địa kết nối đến 20 cảng hàng không và khai thác 109 đường bay quốc tế đến 22 quốc gia, vùng lãnh thổ. Ở chiều ngược lại, có 235 đường bay thường lệ của các hãng nước ngoài đến Việt Nam.
Về vận chuyển hành khách, thị trường quốc tế đạt 26,2 triệu khách (tăng 15,4% so với cùng kỳ 2025), trong đó các hãng nội địa vận chuyển 9,6 triệu khách. Thị trường nội địa đạt 18,7 triệu khách (tăng 0,3%).
Sản lượng vận chuyển hàng hóa quốc tế cũng ghi nhận tăng mạnh tới 21,3%, đạt 706.700 tấn, trong khi sản lượng nội địa giảm 7%, đạt 216.4000.
Bên cạnh các kết quả đạt được, lãnh đạo Cục Hàng không cũng thẳng thắn nhìn nhận những thách thức còn tồn tại như điều kiện thời tiết cực đoan, nguy cơ từ vật thể bay không người lái, chim và động vật hoang dã tại các sân bay. Trong 6 tháng cuối năm, Cục sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, yêu cầu các đơn vị nghiêm túc điều tra, phân tích sự cố để triển khai các giải pháp phòng ngừa kịp thời.