Tại cuộc họp về cung ứng xăng dầu ngày 2/6, Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc nêu rõ lộ trình phối trộn và phân phối xăng sinh học E10 trên cả nước nhằm giúp người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm giá hợp lý, góp phần giảm phát thải, bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển nông nghiệp trong nước.
Tuy nhiên, lãnh đạo Chính phủ cho rằng công tác thông tin, tuyên truyền về xăng E10 thời gian qua chưa thực sự đầy đủ, kịp thời. Một số nội dung liên quan đến khả năng tương thích của phương tiện với nhiên liệu mới chưa được giải thích cụ thể, dẫn đến tâm lý băn khoăn của một bộ phận người dân. Thông tin về trách nhiệm của cơ quan quản lý, nhà sản xuất phương tiện, doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trong trường hợp phát sinh vấn đề kỹ thuật liên quan đến nhiên liệu cũng chưa được truyền tải đầy đủ.
Ông yêu cầu Bộ Công Thương cùng các bộ ngành liên quan đẩy mạnh truyền thông chính sách, bảo đảm người dân và doanh nghiệp được tiếp cận thông tin đầy đủ, thống nhất. Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tăng cường tiếp nhận, giải đáp và hỗ trợ người dân qua đường dây nóng hoặc hệ thống trả lời tự động.
“Quyền lợi của người tiêu dùng là quan trọng nhất. Mọi chính sách phải nhằm bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng”, Phó thủ tướng nhấn mạnh.
Phó thủ tướng cũng giao Bộ Công Thương cùng các Bộ Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, các hiệp hội, doanh nghiệp sản xuất phương tiện xây dựng danh mục hướng dẫn cụ thể với các nhóm phương tiện có thể sử dụng E10. Các bên cần xác định rõ những trường hợp đặc thù không phù hợp hoặc cần lưu ý khi sử dụng, đồng thời công bố loại nhiên liệu phù hợp với các phương tiện này.
Bộ Công Thương tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường, bảo đảm nguồn cung, chất lượng nhiên liệu và hoạt động của hệ thống phân phối. Cơ quan này phải công khai minh bạch các thông tin liên quan đến tiêu chuẩn, chất lượng, khả năng tương thích của phương tiện và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Các thương nhân đầu mối, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xăng dầu và nhiên liệu sinh học duy trì sản xuất và nhập khẩu ổn định để cung ứng đủ nhiên liệu. Bộ Công Thương phải tăng kiểm tra giám sát việc nhập khẩu, phối trộn, bảo đảm đúng quy chuẩn.
“Ở thành phố hay nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa thì tiêu chuẩn đều phải giống nhau”, Phó thủ tướng nói, yêu cầu không để khâu phối trộn làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm xăng sinh học, người tiêu dùng.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết hệ thống phân phối đã hoàn tất chuyển đổi, toàn bộ thị trường đang được cung ứng bằng xăng E5, E10 bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng.
Sau 1 ngày chuyển sang phân phối đại trà xăng E10, mức tiêu thụ loại nhiên liệu sinh học này của toàn hệ thống đạt khoảng 29.000 m3 một ngày. Mức này thấp hơn một chút so với lượng xăng tiêu thụ trung bình trước đây – khoảng 32.000 m3 một ngày – do vẫn còn một số cửa hàng tiêu thụ nốt lượng tồn xăng khoáng còn lại.
Hiện, các cửa hàng niêm yết giá E10 đầy đủ. Từ thời điểm phân phối thử nghiệm vào tháng 8/2025 đến nay, giá xăng E10 luôn thấp hơn giá xăng khoáng cùng loại.
Ở góc độ doanh nghiệp cung ứng, lãnh đạo Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho biết đơn vị này đã bán xăng E10 trên toàn bộ hơn 1.800 cửa hàng và hơn 1.400 thương nhân nhượng quyền. Doanh nghiệp có hệ thống phối trộn xăng E10 với năng lực khoảng 7,7 triệu m3 một năm, đáp ứng nhu cầu của hệ thống và có khả năng hỗ trợ các doanh nghiệp khác.
Đại diện Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL) cũng thông tin hệ thống phối trộn của PVOIL cũng đủ năng lực hỗ trợ các doanh nghiệp đầu mối khác triển khai xăng E10.
Hai doanh nghiệp kiến nghị cơ quan quản lý sớm hoàn thiện các quy chuẩn kỹ thuật với xăng E10 và xăng nền, bảo đảm tính ổn định để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch nhập khẩu, phối trộn và cung ứng từ 2027. Đồng thời, họ đề nghị rà soát, đơn giản thủ tục, tránh chồng chéo trong quá trình quản lý chất lượng.
Bên cạnh đó, Petrolimex và PVOIL đề nghị Nhà nước tiếp tục quan tâm đầu tư hạ tầng logistics, cảng tiếp nhận nhiên liệu ethanol, đồng thời có cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất ethanol trong nước.
Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài "Kho lạnh bảo vệ nông dân" (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch - khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu "chết" sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 - 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 - 4,1 tỉ USD mỗi năm - một khoản "thuế tàng hình" mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 - 15oC) cho trái cây tươi - vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu - gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt "được mùa rớt giá" lại có kêu gọi "giải cứu". Nhưng "giải cứu" là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 - 7 ngày - đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là "lời nguyền vỉa hè": nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng - điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 - 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng "kích" dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn - nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo - nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm - Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp - logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm "đất thương mại dịch vụ" với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 - 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp - ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người - lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 - 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 - 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.
Nhiều doanh nghiệp lớn vừa công bố báo cáo thường niên và báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 theo quy định.
Bên cạnh bức tranh kinh doanh, các tài liệu này cũng phần nào hé lộ mức thu nhập bình quân mà người lao động tại các tập đoàn, ngân hàng và doanh nghiệp địa ốc được chi trả.
Tuy nhiên, con số thực tế có thể chênh lệch tùy theo vị trí công việc, thâm niên và hiệu quả làm việc của từng cá nhân.
Như tại Chứng khoán SSI, báo cáo thường niên cho thấy mức chi trả bình quân cho nhân viên trong năm 2025 đạt 784,7 triệu đồng/người/năm, tăng 14,4% so với năm trước.
Tính trung bình, mỗi nhân viên SSI nhận hơn 65 triệu đồng/tháng, thuộc nhóm cao trên thị trường.
Trong năm, doanh nghiệp này tuyển mới 267 nhân sự, tương đương quy mô tuyển dụng năm 2024. Tuy nhiên, tổng số nhân viên tại thời điểm cuối năm 2025 đạt 1.436 người, tương đương mức giảm khoảng 97 người so với cuối năm trước đó.
Ở khối ngân hàng, mặt bằng thu nhập bình quân cũng tiếp tục duy trì ở mức cao. Techcombank dẫn đầu với thu nhập bình quân khoảng 47 triệu đồng/người/tháng.
VietinBank xếp sau với mức 45 triệu đồng/người/tháng, tăng thêm khoảng 8 triệu đồng so với năm trước, qua đó vượt qua hai "ông lớn" trong nhóm Big4 là Vietcombank và BIDV để đứng thứ hai về thu nhập bình quân nhân viên.
Nhiều ngân hàng khác cũng ghi nhận mức thu nhập phổ biến dao động từ 30-40 triệu đồng/tháng.
Kết quả này phần nào phản ánh bức tranh lợi nhuận tích cực của ngành. Năm 2025, 28 ngân hàng ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế gần 356.600 tỉ đồng, tăng 19% so với năm 2024, với phần lớn đạt tăng trưởng hai chữ số.
Ở lĩnh vực bất động sản, Novaland - doanh nghiệp từng gặp nhiều khó khăn do áp lực nợ - cũng cho thấy nỗ lực ổn định nhân sự trong giai đoạn phục hồi.
Báo cáo cho biết mức thu nhập bình quân năm 2025 đạt khoảng 34 triệu đồng/người/tháng, tăng gần 3 triệu đồng so với năm trước.
Quy mô nhân sự của Novaland cũng tăng nhẹ lên 1.219 người, thêm 126 nhân viên so với năm 2024, dù vẫn thấp hơn đáng kể so với giai đoạn cao điểm năm 2020. Dù đã giảm so với thời kỳ đỉnh cao, mức thu nhập tại đây vẫn được đánh giá cao so với mặt bằng chung thị trường.
Đáng chú ý, thu nhập bình quân tại Novaland hiện cao hơn khoảng 10 triệu đồng so với Vingroup - tập đoàn có quy mô nhân sự hơn 104.000 người, với mức thu nhập bình quân khoảng 24,4 triệu đồng/người/tháng tính đến cuối năm 2025.
Về kết quả kinh doanh, Novaland ghi nhận dấu hiệu phục hồi khi tập trung tái cấu trúc tài chính, cải thiện quản trị, tháo gỡ pháp lý dự án và đẩy nhanh tiến độ thi công, bàn giao nhằm cải thiện dòng tiền.
Doanh thu thuần hợp nhất năm 2025 đạt 6.966 tỉ đồng, giảm 23% so với năm trước, song lợi nhuận sau thuế đảo chiều tích cực, đạt khoảng 1.861 tỉ đồng, trong đó có đóng góp từ việc hoàn nhập và điều chỉnh các khoản trích lập liên quan dự án Lakeview City trong quý 4.
Công ty CP Đầu tư F88 (F88) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025 đã kiểm toán. Theo báo cáo, doanh thu cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp này năm ngoái đạt hơn 3.105 tỉ đồng, tăng 36% so với năm trước.
Giá vốn tương ứng khoảng 1.913 tỉ đồng, chiếm hơn 61% doanh thu, giúp lợi nhuận gộp đạt hơn 1.191 tỉ đồng, tăng gần 90%.
Biên lợi nhuận gộp theo đó đạt hơn 38%, tương đương khoảng 2,6 đồng doanh thu tạo ra 1 đồng lợi nhuận gộp.
Tại thời điểm cuối năm 2025, F88 ghi nhận 356.146 xe máy và 31.883 ô tô là tài sản cầm cố của khách hàng.
So với đầu năm, số lượng xe máy tăng gấp đôi, trong khi lượng ô tô tăng hơn 2,4 lần chỉ sau một năm.
Đây là mức tăng đáng chú ý, cho thấy nhu cầu vay cầm cố tài sản, đặc biệt là ô tô, gia tăng nhanh trong bối cảnh thị trường tài chính tiêu dùng có nhiều biến động.
Bên cạnh hoạt động cầm cố, doanh thu tài chính của F88 (chủ yếu lãi cho vay từ dịch vụ cầm đồ) đạt khoảng 771 tỉ đồng, tăng mạnh so với năm trước.
Ở chiều ngược lại, chi phí tài chính cũng tăng lên khoảng 474 tỉ đồng, phản ánh áp lực chi phí vốn ngày càng lớn.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp lần lượt đạt hơn 211 tỉ đồng và 877 tỉ đồng, đều tăng đáng kể so với năm trước. Trong đó chi phí nhân sự chiếm tỉ trọng lớn khi quy mô nhân sự mở rộng.
Tính đến cuối năm 2025, F88 có 4.681 nhân viên, tăng thêm khoảng 650 người so với đầu năm.
Kết quả, lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp đạt hơn 907 tỉ đồng, tăng gấp đôi so với năm 2024. Lợi nhuận sau thuế đạt gần 720 tỉ đồng.
Báo cáo tài chính cũng cho thấy một số thay đổi trong cơ cấu cổ đông của F88.
Tại ngày 31-12-2025, Skydom Pte. Ltd vẫn là cổ đông lớn nhất, nắm giữ 30,55% vốn điều lệ, giảm nhẹ so với mức 31,32% đầu năm.
Ông Phùng Anh Tuấn - Chủ tịch HĐQT - sở hữu 12,04% vốn, giảm so với mức hơn 15% trước đó. Trong khi đó ông Ngô Quang Hưng - Thành viên HĐQT - nắm giữ 10,87%, cũng giảm so với đầu năm.
Một số cổ đông tổ chức khác như Bronze Blade Limited sở hữu khoảng 9,5% vốn. Asia Investment Company S.A.R.L và Winter Flame Pte. Ltd lần lượt nắm giữ 8,25% và 5,5% cổ phần.
Đáng chú ý, nhóm "các cá nhân khác" tăng tỉ lệ sở hữu lên 23,29%, cho thấy mức độ phân tán cổ đông có xu hướng gia tăng.
Tổng số cổ phiếu đang lưu hành của F88 tại cuối năm 2025 là hơn 8,47 triệu đơn vị, tương ứng vốn điều lệ khoảng 84,7 tỉ đồng .
Trong năm 2025, F88 đã đưa hơn 8,26 triệu cổ phiếu lên giao dịch trên sàn UPCoM, với mức giá tham chiếu 634.900 đồng/cổ phiếu, cao gấp khoảng 3 lần giá trị sổ sách.
Sau đó doanh nghiệp tiếp tục thực hiện chia cổ phiếu thưởng với tỉ lệ lớn, giúp thị giá cổ phiếu giảm về mức dễ tiếp cận hơn, quanh 130.000 đồng/cổ phiếu.
Doanh nghiệp dự kiến tiếp tục có thêm các đợt chia tách cổ phiếu trong thời gian tới.