Động thái này đánh dấu bước tiến của cả hai nước nhằm nối lại quan hệ song phương gián đoạn từ 50 năm trước. Bolivia và Chile cắt đứt quan hệ từ năm 1975 sau khi hai bên không đạt được thỏa thuận về quyền tiếp cận Thái Bình Dương của Bolivia.
Bolivia từng có bờ biển, nhưng đã mất vào tay Chile vào cuối thế kỷ 19. Kể từ đó, việc giành lại quyền tiếp cận Thái Bình Dương là mục tiêu lâu dài của Bolivia. Mỗi năm, Bolivia lại tổ chức ngày lễ mang tên Dia del Mar (tức Ngày của biển), để tưởng nhớ việc mất đi bờ biển kéo dài 400 km vào tay Chile trong cuộc xung đột có tên Chiến tranh của Thái Bình Dương.
Ngày 23.4, hai Ngoại trưởng Mackenna và Aramayo đã gặp nhau ở một cửa khẩu biên giới và cùng di chuyển về La Paz, thủ đô Bolivia. Trao đổi với các nhà báo, ông Aramayo nhận định cuộc gặp đánh dấu cột mốc quan trọng trên con đường tiến tới khôi phục quan hệ song phương. Quan hệ hai nước đang trở nên nồng ấm dưới thời chính quyền trung hữu của Tổng thống Rodrigo Paz ở Bolivia và sau khi chính quyền cực hữu của Tổng thống Jose Kast lên nắm quyền ở Chile.
Một trong những ưu tiên của Chile là siết chặt việc kiểm soát tình trạng nhập cư trái phép dọc theo biên giới phía bắc với Bolivia. Chile nằm trong số các nước phát triển nhất Nam Mỹ, trong khi Bolivia lại nằm trong số nghèo nhất châu lục. Sau khi nhậm chức hôm 11.3, Tổng thống Kast ra lệnh đào một con hào sâu 3 m dọc theo biên giới với Bolivia để ngăn chặn dòng người nhập cư trái phép vào Chile. Bolivia chưa công khai phản đối dự án của láng giềng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thế Giới
Nhật Bản nhận lô dầu thô đầu tiên từ Nga sau khi eo biển Hormuz đóng cửa

Theo hãng tin AFP, truyền thông Nhật Bản dẫn thông tin từ công ty năng lượng Taiyo Oil cho biết một tàu chở dầu thô từ dự án khai thác dầu khí Sakhalin-2 đã cập bờ biển Imabari, tỉnh Ehime vào ngày 4-5.
Dự án tại vùng Sakhalin của Nga hiện không nằm trong diện bị trừng phạt kinh tế toàn cầu nhằm vào Matxcơva, vốn được áp đặt sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine năm 2022.
Taiyo Oil cho biết đã nhận được yêu cầu từ Bộ Kinh tế Nhật Bản để tiếp nhận lô dầu này, song chưa rõ số lượng cụ thể.
Lượng dầu thô này dự kiến được đưa tới nhà máy lọc dầu để chế biến thành xăng, naphtha (nguyên liệu sản xuất nhiều sản phẩm từ nhựa, sợi hóa học đến sơn) và các sản phẩm dầu mỏ khác.
Nhật Bản phụ thuộc vào Trung Đông cho khoảng 95% lượng dầu nhập khẩu. Từ khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran nổ ra ngày 28-2, Tokyo đã tìm cách đa dạng hóa nguồn cung năng lượng.
Phát biểu tại Canberra sau cuộc hội đàm với Thủ tướng Úc Anthony Albanese hôm 4-5, Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae nhận định tình trạng thiếu hụt nguồn cung dầu toàn cầu đang gây ra "tác động rất lớn" đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Bà cho biết hai nước sẽ khẩn trương hành động để bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định.
Khoảng 1/5 lượng dầu mỏ toàn cầu đi qua eo biển Hormuz trước xung đột. Do đó, việc tuyến đường này gần như đóng cửa đã khiến giá dầu thế giới tăng vọt.
Tuần trước, bà Takaichi cho biết Nhật Bản dự kiến vẫn đủ các sản phẩm hóa chất có nguồn gốc từ naphtha để dùng đến hết năm nay, nhờ tăng cường nhập khẩu từ ngoài khu vực Trung Đông.
Quan hệ Nhật - Nga đã xấu đi kể từ khi Tokyo tham gia áp lệnh trừng phạt toàn cầu nhằm vào Matxcơva vì cuộc chiến ở Ukraine.
Theo tờ Asahi, các quan chức Chính phủ Nhật Bản đã vận động để dầu mỏ từ dự án Sakhalin-2 được miễn trừ khỏi các lệnh trừng phạt này.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Người phát ngôn Không quân Ukraine Yurii Ihnat cho biết, Nga đã sử dụng các lộ trình phức tạp và tận dụng lợi thế từ các đặc điểm địa lý để qua mặt các hệ thống phòng không của Ukraine.
Để UAV có thể bay mà không gặp trở ngại nào đến miền Tây Ukraine, Nga đã lợi dụng các khu vực biên giới với các quốc gia láng giềng. Cụ thể, các UAV đã được phát hiện ở gần biên giới với Belarus, Moldova và Romania.
Trong khi các UAV di chuyển về phía thủ đô Kiev của Ukraine, phía Nga cũng cố gắng che giấu các mục tiêu trên không bằng cách bay qua mặt nước. Từ hướng bắc, họ thường sử dụng hồ chứa nước Kiev cho mục đích này.
Các UAV này bay càng sát mặt đất càng tốt để các trạm radar của Ukraine không thể phát hiện kịp thời. Chính vì lý do đó, các lực lượng phòng không Ukraine đang tích cực sử dụng máy bay hạng nhẹ và các đơn vị mặt đất chuyên dụng.
Theo đại diện của Không quân Ukraine, các lực lượng và phương tiện sau đây đang hỗ trợ đối phó với các cuộc tấn công của Nga gồm: UAV đánh chặn, các đơn vị phòng không tầm ngắn, các tổ hỏa lực cơ động.
"Không ai phủ nhận vai trò của các tổ hợp hỏa lực cơ động. Họ hoạt động khá hiệu quả ở độ cao thấp bởi vì, như chúng ta có thể thấy ngày hôm nay, các video xuất hiện trên mạng thậm chí còn cho thấy một UAV của Nga đang bay chỉ cách mặt đất từ 10-20m”, ông Yurii Ihnat nhấn mạnh.
Gần đây, Nga liên tục tiến hành các cuộc tấn công hỗn hợp quy mô lớn vào Ukraine bao gồm cả UAV, tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình.
Đêm 1/6, rạng sáng 2/6, Nga đã phóng hơn 700 UAV và tên lửa vào các mục tiêu trên khắp Ukraine, đánh dấu một trong những cuộc tấn công hàng loạt quy mô lớn nhất vào Ukraine kể từ đầu xung đột.
Trong số hơn 70 tên lửa sử dụng trong đợt tấn công này, Nga đã bắn 8 tên lửa Zircon, nhưng Ukraine không thể đánh chặn quả nào.
Theo ông Anton Zemlianyi, nhà phân tích thuộc Trung tâm An ninh và Hợp tác Ukraine (UCSC), điều đó là do không phải mọi hệ thống phòng không đều có khả năng đối phó với loại mục tiêu trên không này và Kiev đang thiếu nghiêm trọng tên lửa cho tổ hợp Patriot để đối phó với mối đe dọa.
Tên lửa chống hạm 3M22 Zircon là tên lửa siêu vượt âm do Nga phát triển. Mặc dù ban đầu 3M22 Zircon được thiết kế để tiêu diệt các tàu mặt nước được trang bị hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa hiện đại, Nga đang sử dụng loại tên lửa này theo cách không thông thường, nhằm tấn công các mục tiêu trên bộ tại Ukraine.
Hiện chưa có nhiều thông tin về Zircon, nhưng theo các nguồn tin mở, tên lửa này có tầm bắn 600-1.000km, có thể lên tới 1.500km, với độ cao hành trình là 30-40km. Tốc độ của tên lửa vào khoảng Mach 5,5 ở giai đoạn hành trình và có thể đạt Mach 7,5 ở giai đoạn cuối. Nó mang đầu đạn 300-400kg và chiều dài 8-10m.
Tin Gốc: Dân Trí

Khi Nga tiến gần hơn đến việc triển khai ngư lôi hạt nhân Poseidon trên tàu ngầm Khabarovsk chuyên dụng, vũ khí này ngày càng nổi lên như một cuộc thử nghiệm về năng lực răn đe, kiểm soát vũ khí và chiến tranh dưới biển.
Mới đây, Naval News đưa tin, Nga đang đẩy mạnh phát triển vũ khí chiến lược dưới nước Poseidon bằng cách chế tạo tàu ngầm Khabarovsk, một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân được thiết kế riêng, hiện đang được trang bị tại Severodvinsk ở vùng Bắc Cực của Nga, theo những chi tiết mới được tổng hợp từ ảnh vệ tinh và phân tích nguồn mở.
Tàu ngầm này là một phần trong nhóm vũ khí chiến lược “bất khả chiến bại” của Nga, được công bố năm 2018 và được thiết kế độc quyền để triển khai phương tiện tự hành dưới nước (UUV) Poseidon, một ngư lôi liên lục địa chạy bằng năng lượng hạt nhân, có đầu đạn hạt nhân.
Nó có thể né tránh hệ thống phòng thủ tên lửa thông thường và đe dọa các thành phố ven biển, cơ sở hạ tầng chiến lược và có khả năng cả các nhóm tác chiến tàu sân bay.
Theo các dữ liệu mới nhất tính đến tháng 11/2025, tàu có chiều dài ước tính khoảng 135m và chiều ngang 13,5m, mang cấu trúc lai ghép giữa những lớp tàu ngầm hạt nhân hiện đại nhất của Nga.
Nó còn sở hữu thiết kế độc đáo khi tích hợp phần đuôi của tàu ngầm lớp Borei và phần mũi của lớp Belgorod. Mặc dù dựa trên các nền tảng tàu ngầm lớn nhất thế giới, Khabarovsk có chiều dài ngắn hơn do không có khoang trung tâm. Ở lớp Borei, khoang này là nơi chứa ống phóng tên lửa đạn đạo Bulava, còn lớp Belgorod được sử dụng làm bến chứa cho các tàu lặn sâu.
Về hệ thống động lực, phần đuôi của Khabarovsk phát triển từ biến thể Borei-A, nhiều khả năng được trang bị lò phản ứng hạt nhân OK-650V. Hệ thống này giúp giảm đáng kể tiếng ồn và tăng cường khả năng tàng hình khi hoạt động. Khác với dòng Borei, khoang thoát hiểm của Khabarovsk được đặt ngay trong tháp chỉ huy thay vì ở thân sau. Đặc điểm này phù hợp với truyền thống thiết kế tàu ngầm Nga nhưng tháp chỉ huy được thu nhỏ đáng kể so với kích thước tàu.
Theo các nguồn tin, con tàu này có thể mang tới 6 ngư lôi Poseidon trong các khoang chứa bên hông ngập nước, cùng với một số lượng ngư lôi thông thường hạn chế, nhấn mạnh vai trò chiến lược chuyên biệt của nó.
Việc Nga phát triển ngư lôi Poseidon và tàu ngầm mang ngư lôi Khabarovsk đang thử thách giới hạn của hệ thống phòng thủ dưới biển của Mỹ, đồng thời đặt ra những câu hỏi lớn hơn về năng lực răn đe, kiểm soát vũ khí và tương lai của răn đe hạt nhân dưới biển.
Một báo cáo của Viện Chatham (Anh) vào tháng 9/2021 mô tả Poseidon là một ngư lôi hạt nhân tự hành cỡ lớn có khả năng đạt tốc độ khoảng 70 hải lý/giờ. Tài liệu này nêu rõ, nó có một lò phản ứng hạt nhân thu nhỏ để cung cấp năng lượng, giúp nó có tầm bắn gần như không giới hạn và cho phép nó lặn xuống độ sâu lên đến 1km, nằm ngoài tầm với của các tàu ngầm có người lái hiện có.
Báo cáo cho biết, các quan chức Nga giới thiệu Poseidon là một vũ khí “đa năng”, có khả năng mang đầu đạn thông thường hoặc hạt nhân để tấn công các nhóm tàu sân bay, công sự ven biển và các mục tiêu cơ sở hạ tầng. Trong các thử nghiệm mới nhất, Poseidon đã lần đầu tiên sử dụng lò phản ứng hạt nhân để di chuyển theo lộ trình định sẵn dưới nước sau khi được phóng từ tàu ngầm.
Về số lượng ngư lôi Poseidon và tàu ngầm chuyên dụng mà Nga có thể chế tạo, chuyên gia Norman Polmar lưu ý trong một bài báo trên tạp chí Proceedings hồi tháng 1 rằng Nga đặt mục tiêu chế tạo 30 ngư lôi Poseidon để triển khai trên 4 tàu ngầm - hai chiếc cho Hạm đội phương Bắc và hai chiếc cho Hạm đội Thái Bình Dương.
Về các kịch bản hoạt động khả thi, chuyên gia Thomas Siu lưu ý trong một bài báo trên tạp chí Proceedings vào tháng 1/2022 rằng Poseidon có thể trở thành một vũ khí phản công bán tự động khi được tích hợp với hệ thống chỉ huy và kiểm soát hạt nhân Perimeter của Nga.
Theo chuyên gia Siu, Perimeter còn giúp đảm bảo khả năng phản công ngay cả khi hệ thống chỉ huy và kiểm soát hạt nhân của Nga bị phá hủy. Ông lưu ý rằng, thông qua sự kết hợp giữa việc mất tín hiệu từ Moscow và dữ liệu từ mạng lưới các cảm biến địa chấn, bức xạ và áp suất không khí, hệ thống Perimeter có thể gửi tín hiệu phóng đến tất cả các vũ khí hạt nhân còn lại của Nga.
Ông cũng lưu ý rằng trong trường hợp Nga bị tấn công hạt nhân, hệ thống Perimeter có thể điều khiển các ngư lôi Poseidon đang tuần tra ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương tấn công các thành phố cảng của Mỹ nằm ngoài tầm bắn hiệu quả của các ngư lôi Mỹ có thể được sử dụng để chống lại chúng.
Thách thức lớn với Mỹ
Điều này đặt ra thách thức đối với khả năng chống tàu ngầm của Mỹ, vì Hải quân nước này có thể thiếu vũ khí để chống lại mối đe dọa như vậy kể từ khi họ loại tên lửa chống tàu ngầm UUM-44 Subroc vào năm 1992.
Subroc là một tên lửa chống tàu ngầm phóng từ tàu ngầm với tầm bắn 55km, được trang bị đầu đạn hạt nhân W-55. Nó được bắn từ ống phóng ngư lôi tiêu chuẩn, mang theo một quả bom chìm hạt nhân chống lại tàu ngầm địch ở tầm xa, khiến mục tiêu hầu như không có cảnh báo trước khi va chạm.
Tuy nhiên, sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đồng nghĩa với việc dự án Subroc - và dự án kế nhiệm dự kiến "Sea Lance", có khả năng mang ngư lôi thông thường Mark 50 hoặc đầu đạn hạt nhân W89 - đã bị hủy bỏ.
Với việc hủy bỏ Subroc và Sea Lance, Hải quân Mỹ hiện không còn vũ khí chống tàu ngầm tầm xa nào - một khoảng trống về năng lực thậm chí có thể trở nên nguy hiểm hơn với sự ra mắt của Khabarovsk.
Xét về vị trí của Poseidon trong học thuyết hạt nhân của Nga, nội dung báo cáo tháng 8/2025 của Viện Nghiên cứu Quân sự Hoàng gia Anh (RUSI) nhấn mạnh "nó là một phần trong nỗ lực của Moscow nhằm duy trì khả năng tấn công hạt nhân trả đũa đáng tin cậy trước những gì họ coi là mối đe dọa ngày càng tăng từ lực lượng phản công và hệ thống phòng thủ tên lửa của Washington".
Báo cáo mô tả các hệ thống như Poseidon như những biện pháp phòng ngừa trước điểm yếu bị tấn công phủ đầu trong bối cảnh Nga lo ngại các hệ thống tấn công chính xác, phòng thủ tên lửa và hệ thống hạt nhân năng suất thấp của Mỹ có thể làm suy yếu sự ổn định chiến lược.
Nga đã tăng tốc thử nghiệm Poseidon trong giai đoạn Moscow ngày càng coi năng lực răn đe của Washington. Bài viết cũng mô tả Poseidon như một công cụ hỗ trợ cho trọng tâm rộng hơn của Nga trong việc đảm bảo lực lượng phản công có khả năng sống sót và duy trì uy tín trong việc leo thang xung đột trong học thuyết hạt nhân đang phát triển của nước này.
Mặc dù có những tác động chiến lược đó, vẫn còn nhiều câu hỏi quan trọng về tính khả thi của khái niệm ngư lôi Poseidon.
Chuyên gia Lukas Trakimavicius, trong một báo cáo tháng 10/2021 cho Trung tâm Xuất sắc về An ninh Năng lượng NATO, đã nhấn mạnh rằng tính hữu dụng quân sự của Poseidon bị hạn chế bởi tốc độ 70 hải lý/giờ, vì theo đó nó phải mất một ngày hoặc hơn để đến được bờ biển của đối phương từ vùng biển ven bờ phía Tây.
Ngược lại, một tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) Minuteman III phóng từ đất liền của Mỹ có thể tiếp cận các mục tiêu chiến lược trong khoảng một giờ. Ông cũng cho biết, khi Poseidon tăng tốc có thể phát ra nhiều tiếng ồn hơn, khiến ngư lôi dễ bị hệ thống sonar phát hiện hơn.
Theo các chuyên gia, dù Poseidon có chứng tỏ là một vũ khí mang tính cách mạng hay chỉ là một năng lực chuyên dụng đắt đỏ, quá trình phát triển của nó đã và đang định hình lại các tính toán răn đe hạt nhân và buộc Mỹ cùng các đồng minh phải suy nghĩ lại về vấn đề cạnh tranh hạt nhân dưới biển.
Tin Gốc: Dân Trí

